Khi người điên(GS/TS ?) tự thấy mình điên thì có điên không ????

Ný nuận

khỉ mang kiến

PGS muốn viết ‘giáo dục’ là ‘záo zụk’: Nếu nhìn chữ, tôi thấy ngớ ngẩn

bò tiến sĩ

PGS.TS Bùi Hiền nêu đề xuất đề xuất giảm ký tự bảng chữ cái từ 38 xuống 31. Lý do ông đưa ra đề xuất này vì cho rằng chữ quốc ngữ gây khó khăn cho người học.

PGS.TS Bùi Hiền (nguyên hiệu phó ĐH Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội, nguyên phó viện trưởng Viện Nội dung & Phương pháp dạy – học phổ thông) đề xuất cải tiến chữ viết tiếng Việt với “giáo dục” thành “záo zụk”, “Tiếng Việt” thành “Tiếq Việt”.

Đề xuất này của PGS.TS Bùi Hiền được nêu trong bài Chữ quốc ngữ và hội nhập quốc tế thuộc cuốn sách Ngôn ngữ ở Việt Nam – Hội nhập và phát triển, tập 1, dày 2.200 trang, do NXB Dân trí phát hành, nhân Hội thảo ngữ học toàn quốc được tổ chức tại ĐH Quy Nhơn hồi tháng 9.

Ông Bùi Hiền cho rằng trải qua gần một thế kỷ, đến nay, chữ quốc ngữ đã bộc lộ nhiều bất hợp lý, cần phải cải tiến để giản tiện, dễ nhớ, dễ sử dụng, tiết kiệm thời gian, vật tư…

Những bất hợp lý PGS Bùi Hiền đưa ra gồm: Hiện tại, chúng ta sử dụng 2, 3 chữ cái để biểu đạt một âm vị phụ âm đứng đầu. Ví dụ C – Q – K (cuốc, quốc, ca, kali), Tr – Ch (tra, cha), S – X (sa, xa)… Bên cạnh đó, dùng 2 chữ cái ghép lại để biểu đạt âm vị một số phụ âm đứng cuối vần như Ch, Ng, Nh (mách, ông, tanh…).

Từ đó, ông kiến nghị một phương án làm cơ sở để tiến tới một phương án tối ưu trình nhà nước.

Chữ quốc ngữ cải tiến của tác giả Bùi Hiền dựa trên tiếng nói văn hóa của thủ đô Hà Nội cả về âm vị cơ bản lẫn 6 thanh điệu chuẩn, nguyên tắc mỗi chữ chỉ biểu đạt một âm vị, và mỗi âm vị chỉ có một chữ cái tương ứng biểu đạt. Sẽ bỏ chữ Đ ra khỏi bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành và bổ sung thêm một số chữ cái tiếng Latin như F, J, W, Z.

Ví dụ về cải tiến theo đề xuất của ông Bùi Hiền. Ảnh: Thanh Niên.

Bên cạnh đó, thay đổi giá trị âm vị của 11 chữ cái hiện có trong bảng trên, cụ thể: C = Ch, Tr; D = Đ; G = G, Gh; F = Ph; K = C, Q, K; Q = Ng, Ngh; R = R; S = S; X = Kh; W =Th; Z = d, gi, r. Vì âm “nhờ” (nh) chưa có ký tự mới thay thế, nên trong văn bản trên tạm thời dùng ký tự ghép n’ để biểu đạt.

–  Tại sao ông có ý tưởng đề xuất cải cách chữ cái Tiếng Việt?

– Tên công trình khoa học của tôi là “Cải tiến chữ quốc ngữ”, phải cải tiến vì Tiếng Việt hiện tại có một số bất cập. Tôi là nhà nghiên cứu về ngôn ngữ nhưng chưa tin hẳn mình viết đúng chính tả.

Khi làm việc, tôi thường dùng thêm một cuốn từ điển bên cạnh để tìm hiểu về việc dùng cá từ như “X – S”, “Ch – Tr”…. Nếu dựa vào tiếng Hà Nội (tức tiếng thủ đô), không phân biệt “X -S”, “Ch – Tr”.

Tôi lấy vị dụ như khi phát âm từ “Xa gần” hay “Sa mạc” thì cũng phát âm như nhau cả. Hai ký tự biểu hiện một âm là thể hiện sự vô lý và thừa. Học sinh khi học cũng gặp khó khăn.

Ngoài ra, còn nhiều trường hợp âm tiết khác như “Ch – Tr”. Ví dụ, từ “Châu -Trâu”, nếu tiếng Hà Nội thì khi nói đều chỉ gọi chung một âm tiết.

Chúng ta mất khá nhiều thời gian để học Tiếng Việt. Chẳng hạn, ngoài việc học chữ “G”, chúng ta lại mất thêm thời gian học các chữ như “G, Gi, Gh” mới xong một âm. Khi ghép và viết lại tốn thêm một khoảng thời gian nữa.

Thời đại kỹ thuật số đòi hỏi mỗi ký tự phải tương ứng với một âm. Nếu có tới 3-4 ký tự biểu hiện cho một âm tiết thì rất tốn kém về mặt thời gian.

Chúng ta hãy làm phép thử so sánh học bảng chữ cái hiện hành với bảng chữ cái theo đề xuất của tôi thì sẽ thấy đề xuất giảm còn 31 chữ sẽ rất dễ nhớ, dễ học.

– Đề xuất của PGS nhận được ý kiến trái chiều của dư luận khi cho rằng chữ cải tiến giống “teen code”. Khi đọc những ý kiến phản ứng với đề xuất này, ông nghĩ sao?

– Tôi đã nhen nhóm ý tưởng và đầu tư nghiên cứu công trình này trong gần 20 năm. Công trình nghiên cứu của tôi thực ra vẫn chưa hoàn thành và còn dang dở, mới báo cáo ở hội nghị khoa học của ngành ngôn ngữ.

Khi một số cơ quan truyền thông đọc được ở đó và nhận thấy đấy là vấn đề hay và đưa ra nhưng họ lại chưa tìm hiểu kỹ về cơ sở khoa học của nó, vì vậy khi đăng tải lên báo chí khiến vấn đề bị “ném đá”.

Đứng về mặt mỹ học, thẩm mỹ, nhìn chữ cải tiến so với chữ cũ thì dễ gây phản ứng khó chịu. Bản thân tôi nếu nhìn chữ cải tiến cũng thấy ngớ ngẩn.

Vấn đề được nêu lên báo chí chỉ là phần cuối của kết quả tôi nghiên cứu. Vì vậy, phản ứng của họ phản đối cũng là tất yếu khi thói quen của nhiều người vẫn chứa đựng tính bảo thủ, phản xạ phủ nhận.

– Ông dự định sẽ tiến hành hoàn thiện chữ cải tiến như thế nào?

– Dự kiến, vào hội nghị ngôn ngữ tháng 3/2018, tôi sẽ trình bày phần còn lại của công trình nghiên cứu về nguyên âm để có dược hệ thống cấu thành nên chữ viết (gồm phụ âm và nguyên âm).

Dư luận có thể làm so sánh giữa 2 bảng chữ cũ và mới thì thấy chữ mới ngắn gọn đơn giản, dễ viết, dễ nhớ.

Theo thầy Trịnh Quỳnh – giáo viên trường THPT Lương Thế Vinh, Nam Định, Tiếng Việt và chữ viết ghi âm Tiếng Việt cũng có một lịch sử hình thành và phát triển với rất nhiều thay đổi.

Trong đó, chữ quốc ngữ với hệ thống chữ cái La-tinh được coi là ưu việt nhất vì dễ đọc dễ viết, phát âm như thế nào ghi lại như vậy. Điều đó thuận lợi cho phổ cập dân trí, in ấn và xuất bản và các hoạt động giáo dục và văn hóa khác.

Những đề xuất cải biến chữ viết ghi âm tiếng Việt hoàn toàn có tính khoa học nhưng chỉ là những nghiên cứu có tính chất lý thuyết khó có thể áp dụng thực tiễn.

Theo Zing

PGS TS đề xuất cải tiến bảng chữ cái “sẽ không lùi bước dù bị ném đá bẩn thỉu”

Hoàng Đan 

VỀ CẢI TIẾN CHỮ QUỐC NGỮ

Ba ngày nay tôi bận công tác tận biên giới Việt – Cam, không theo dõi mạng được. Trước đó tôi đã thấy một bạn share bài viết của PGS.TS. Bùi Hiền, tôi chỉ cười vì… không lạ.
Trong Hội thảo Ngôn ngữ ở Việt Nam – hội nhập và phát triển tổ chức tại Trường ĐH Quy Nhơn, vào buổi sáng tại phiên thảo luận chung ở Hội trường 13, có một PGS hói đầu không được ban điều hành chọn báo cáo chính thức đã đứng lên phát biểu về việc cải tiến chữ quốc ngữ để hội nhập và phát triển. Lý do đúng như bài viết của ông Bùi Hiền. Tôi bật cười, vì đây không phải lần đầu tôi được nghe giới ngữ học ở Việt Nam đề xuất.
Buổi chiều, tại tiểu ban ở Hội trường 13, PGS.TS. Lê Đức Luận (ĐH Đà Nẵng) nhắc lại ý kiến của vị đại biểu buổi sáng về sự cấp thiết cải tiến chữ quốc ngữ “để hội nhập và phát triển”. Tôi không nhịn được nên đã đứng lên phản bác thẳng thừng. Tôi bảo đó là sự hồ đồ, thiếu hiểu biết của không ít “chuyên gia” ngôn ngữ học ở Việt Nam.
Một là, ngôn ngữ, dù là âm thanh hay chữ viết, đều là khế ước của cộng đồng, không cá nhân, thậm chí là nhóm người thiểu số nào, có thể áp đặt một cách duy ý chí. Đến mức quyền lực to như cụ Hồ cũng không thể áp đặt. Bằng chứng: cách viết gi thành j, c thành k, ph thành f, d thành z… của cụ thời đó cũng không ai học tập và làm theo. Ngay cả yêu cầu thuần Việt hóa từ Hán Việt như “nữ ca sĩ” thành “người hát gái”, “nhà hộ sinh” thành “xưởng đẻ”, “phi công” thành “giặc lái”… của cụ cũng chỉ là trò cho thiên hạ mua vui.
Hai là, vì ngôn ngữ là khế ước của cộng đồng và ký hiệu tồn tại có tính hệ thống, cho nên mọi sự thay đổi, dù nhỏ nhất, đều có thể gây rối loạn cả hệ thống và khó có thể được cộng đồng chấp nhận. Sự thực là chỉ thay mỗi y với i mà gần nửa thế kỷ nay vẫn không thống nhất được. Cho nên, đối với ngôn ngữ, một cải tiến dù hợp lý cũng có thể gây khó khăn trong giao tiếp, đặc biệt là tạo ra sự đứt gãy về tri thức và văn hóa. Đó là lý do, mọi nỗ lực của cha ông ta từ chữ Hán chuyển sang chữ Nôm rồi chữ Quốc ngữ như hiện nay phải trải qua hàng thế kỷ và phải trả giá rất đắt. Các văn bản chữ Hán và chữ Nôm cả ngàn năm của cha ông đã và đang trở thành kho tàng bí mật và mai một không thể cứu vãn. Sự thay thế chữ Quốc ngữ vào đầu thế kỷ là tình thế bất đắc dĩ với nhu cầu thoát Hán triệt để để có được độc lập, nhu cầu đại chúng hóa giáo dục để nâng cao dân trí, kể cả nhu cầu hội nhập để phát triển.
Ba là, cũng vì tính quy ước và tính hệ thống, cho nên mọi thay đổi về âm lẫn chữ viết đều buộc phải diễn ra rất chậm, từng bước trong nội bộ của cộng đồng. Tính quy ước và tính hệ thống đã tạo nên một sự ràng buộc đến mức một cá nhân hay một nhóm người tham vọng thay đổi khác nào đứng ra thúc đẩy cả một cỗ máy khổng lồ. Để hình thành chữ viết như hiện nay, tiếng Việt (cũng như mọi thứ tiếng) phải chuyển dịch chậm chạp qua hàng thế kỷ bởi sự thỏa thuận chung chứ không do cá nhân hay một nhóm người nào áp đặt tức thời mà được.
Bốn là, chữ viết, dù là ghi âm cũng mang tính võ đoán, tức không có lý do gì cái chữ cái ấy lại ghi cho cái âm ấy. Kí tự vẫn luôn luôn là sự nhận diện của thị giác khác biệt với sự nhận diện thính giác. Cho nên, không chỉ tiếng Việt, đến tiếng Anh, tiếng Pháp với khả năng hội nhập toàn cầu mà vẫn có vô số từ viết một đằng đọc một nẻo. Nhân đây cũng nói luôn, việc báo Đảng chủ trương và duy trì phiên âm tên người nước ngoài là việc làm ngu xuẩn gây lú lẫn cho người đọc. Một cái tên Trump hay Obama, dù người đọc không biết tiếng Anh vẫn nhận diện ra các ông có tên ấy hơn là phải viết thành Trăm, Ô-ba-mơ chẳng ra ông gì.
Năm là, chữ viết có quy luật khác với tiếng nói. Trong lần tranh luận về vụ Từ điển Nguyễn Lân, tôi có viết: “GS. Nguyễn Huệ Chi và TS. Nghiêm Thúy Hằng đồng hóa chữ viết với phát âm, buộc phải chấp nhận âm thanh làm thay đổi chữ viết là nhầm lẫn nghiêm trọng, cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Trong khi chữ viết và phát âm tồn tại độc lập và diễn ra theo quy luật khác nhau. Như trong bài viết về Differance, tôi đã nói, chữ viết không là cái ký sinh và phụ thuộc phát âm. Phát âm có thể lệch chuẩn theo xu hướng bình dân hóa, thổ ngữ hóa, thậm chí địa phương hóa, ngọng hóa… tràn lan, nhưng chữ viết luôn có xu hướng đòi hỏi được chuẩn hóa và thống nhất với tính quy ước rất cao. Đó là 2 quy trình ngược chiều. Hiện tượng Việt hóa Hán ngữ trong ngàn năm Bắc thuộc nằm trong quy luật này: giới nho học vẫn chuẩn hóa chữ viết và âm đọc, trong khi giới bình dân thì thổ ngữ hóa, nôm hóa âm đọc theo cách của họ dẫn đến các biến tấu: hợp chúng quốc = hợp chủng quốc, trú sở = trụ sở, ái tình = tình ái, tình yêu, sáp nhập = sát nhập… Đến khi được Latin hóa thì tất yếu phải ghi nhận âm đọc phổ thông theo hướng đã nôm hóa. Sự chấp nhận này vẫn được sàng lọc và chuẩn hóa bởi 1) Chấp nhận Latin hóa theo cách đọc phổ thông những hiện tượng phù hợp với ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa theo cảm thức và kinh nghiệm, kể cả thẩm mỹ của người Việt. Điều này diễn ra không chỉ đối với Hán ngữ mà ngay cả khi ta vay mượn tiếng Tây, 2) Chọn lựa cái tích cực và phổ biến, loại trừ cái tiêu cực và ít phổ biến để hướng đến sự trong sáng của tiếng Việt. Trong sáng ở đây mang nghĩa là thông suốt trong giao tiếp.”
Việc đề xuất cải tiến chữ quốc ngữ như Bùi Hiền và Lê Đức Luận là không theo quy luật nào.
Cuối cùng Lê Đức Luận vẫn cãi với cái lý: “Tại sao người Hán thay chữ phồn thể thành giản thể được mà người Việt ta lại không?” Chẳng lẽ tôi bảo ông ta đổi dòng máu Việt thành dòng máu Hán? Thực ra chữ Hán giản thể không phải chờ đến thời kỳ hiện đại mới có. Lối viết thảo của các nhà thư pháp đã là giản thể và có trước cả ngàn năm. Người rành phồn thể có thể đọc được giản thể và người học giản thể gặp khó khăn không đáng kể khi đọc chữ phồn thể. Nhưng cải tiến như đề xuất của Bùi Hiền và Lê Đức Luận thì coi chừng “em ôm chặt anh” viết thành “em ôm cặt anh” và ngược lại “Tiến sĩ dụ con nít” bị đọc thành “Tiến sĩ đụ con nít”!
Xem ra không một Bùi Hiền mà có cả Lê Đức Luận, không một Lê Đức Luận mà có cả Nghiêm Thúy Hằng… hiểu sai và chơi ngông chơi trội để móc dự án tiêu tiền. Nếu không thì là do mấy ngài giáo sư tiến sĩ ngữ học của ta hồi nhỏ từng bị phạt viết sai chính tả nên thù địch với chữ viết hiện hành!

Vẫn chưa xong: Viết sai là phá hoại tiếng Việt

 
Chu Mộng Long2 
Chu Mộng Long
Posted on

Chu Mộng Long: Không phải tôi chủ trương khoe lý thuyết mà vì trong tranh luận vụ Từ điển của Nguyễn Lân không ít người mang lý thuyết ra cãi. Tôi buộc phải trưng bày lý thuyết để cho mọi người thấy sự viện dẫn lý thuyết của những người này là học mót, nói hót và cao hơn là ngụy biện.

Lý thuyết phương Tây thường vừa rất trừu tượng ở tầm vĩ mô vừa rất kỹ thuật đến vi mô nên không dễ đọc đối với xứ sở của những trí thức hoặc nói đại khái cho xong hoặc ăn ốc nói mò tỏ ra gì cũng biết. Dốt thì ai cũng dốt, nhưng dốt thì phải học chứ cãi cùn thì dốt lại chồng thêm dốt. Tranh luận để học hỏi và mở mang tri thức thì rất tốt, còn cãi cùn, lấp liếm, xuyên tạc, đe dọa thì không chỉ bộc lộ sự dốt mà còn nguy hiểm.

Do bài trước tôi cố gắng nói cái vĩ mô để có thể cung cấp một phương pháp luận giải quyết nhiều hiện tượng ngôn ngữ lớn hơn điều GS. Nguyễn Huệ Chi thắc mắc. Nhưng không ngờ rất ít người hiểu, thậm chí còn cười nhạo tôi “không tiêu hóa lý thuyết”. Trí thức Việt có đặc điểm: mở mồm là viện lý thuyết, nhưng khi bị bắt bẻ về lý thuyết thì lại tuyên bố rằng tôi đếch cần lý thuyết!

Bài này buộc phải đi thẳng vào vấn đề sau gợi ý của nhà nghiên cứu phê bình văn chương nổi tiếng ở Pháp: Bác Đặng Tiến.

Bác Đặng Tiến có gợi ý rất đúng. “Nên quan tâm đến vai trò của nhà trường phổ thông”. Tôi xin nói thêm, không chỉ nhà trường phổ thông mà cả hệ thống giáo dục và đào tạo. Bởi chữ viết là sản phẩm của giáo dục, không phải sản phẩm của “người bản ngữ” bình dân vô học hay ít học. Chữ nghĩa là tiêu chí tối thiểu để phân biệt người có học và vô học, giỏi và dốt.

GS. Nguyễn Huệ Chi và TS. Nghiêm Thúy Hằng đồng hóa chữ viết với phát âm, buộc phải chấp nhận âm thanh làm tha hóa chữ viết là nhầm lẫn nghiêm trọng, cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Trong khi chữ viết và phát âm tồn tại độc lập và diễn ra theo quy luật khác nhau. Như trong bài viết về Differance, tôi đã nói, chữ viết không là cái ký sinh và phụ thuộc phát âm. Phát âm có thể lệch chuẩn theo xu hướng bình dân hóa, thổ ngữ hóa, thậm chí địa phương hóa, ngọng hóa… tràn lan, nhưng chữ viết luôn có xu hướng đòi hỏi được chuẩn hóa và thống nhất cao. Đó là 2 quy trình ngược chiều. Hiện tượng Việt hóa Hán ngữ trong ngàn năm Bắc thuộc nằm trong quy luật này: giới nho học vẫn chuẩn hóa chữ viết và âm đọc, trong khi giới bình dân thì thổ ngữ hóa, nôm hóa âm đọc theo cách của họ dẫn đến các biến tấu: hợp chúng quốc = hợp chủng quốc, trú sở = trụ sở, ái tình = tình ái, tình yêu, sáp nhập = sát nhập… Đến khi được Latin hóa thì tất yếu phải ghi nhận âm đọc phổ thông theo hướng đã nôm hóa. Sự chấp nhận này vẫn được sàng lọc và chuẩn hóa bởi 1) Chấp nhận Latin hóa theo cách đọc phổ thông những hiện tượng phù hợp với ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa theo cảm thức và kinh nghiệm Việt. Điều này diễn ra không chỉ đối với Hán ngữ mà ngay cả khi ta vay mượn tiếng Tây, 2) Chọn lựa cái tích cực và loại trừ cái tiêu cực để hướng đến sự trong sáng của tiếng Việt.

Cần nói rõ về cái tích cực và cái tiêu cực trong sự chọn lựa để chuẩn hóa. Cái tích cực nằm ở trường hợp làm mờ hoặc mất nghĩa cũ tiêu cực cùng với gia tăng từ và nghĩa mới tích cực. Ví dụ: ẩu tả nghĩa gốc “nôn mửa và ỉa chảy” đã bị mờ nghĩa để thay bằng và thêm vào nghĩa tùy tiện, bừa bãi với mức độ cao hơn cẩu thả. Cái tiêu cực nằm trong trường hợp sử dụng tùy tiện làm giảm nghĩa, gây hiểu nhầm, sai biệt dẫn đến rối loạn ngôn ngữ. Ví dụ: độc giả = đọc giả, tham quan = thăm quan, trong khi “độc giả” là người đọc,  còn “đọc giả” dễ bị hiểu là đọc ảo, đọc giả vờ, đọc láo; “thăm” và “tham” khi đồng hóa đã mất đi sự khu biệt của hệ thống: tham quan, tham gia, tham khảo, tham chiếu,…/ thăm nom, thăm viếng, thăm hỏi…

Chuẩn của ngôn ngữ mà tôi nói đó là tính quy ước để đi đến thống nhất cao trong cộng đồng sử dụng chữ viết. Sự lệch chuẩn có thể diễn ra ở hai mặt tích cực và tiêu cực trên. Mặt tích cực thuộc sáng tạo, mặt tiêu cực do… dốt nát.

Như vậy, việc phát âm khác nhau vẫn được cộng đồng bản ngữ chấp nhận (vì lí do văn hóa, “chửi cha không bằng pha tiếng”), nhưng nếu viết theo phát âm với tác động tiêu cực thì sẽ bị loại trừ.

Tôi phải nhắc lại vấn đề chữ viết vì chữ viết ban đầu tồn tại phổ biến ngoài đời sống giao tiếp (các dấu hiệu ghi nhận đơn giản bằng thị giác), sau đó đã tiến đến quy phạm hóa và tồn tại trong nhà trường, dù là nhà trường thời cổ đại. Không cần đến lý thuyết J. Piaget, chúng ta cũng có thể xác nhận: nói không cần phải học, nhưng viết thì cần phải học. Trẻ em nói thông trước khi học chữ. Người ta không ai mù tiếngmù chữ. Học không đến nơi đến chốn thì viết tùy tiện, viết sai. Viết sai thì cả giao tiếp ngoài đời lẫn trong trường học đều không được chấp nhận và bị chê cười, trừ thầy dốt chấp nhận. Thầy Nguyễn Huệ Chi và cô Nghiêm Thúy Hằng nhầm tưởng những cách viết “thăm quan”, “đọc giả” (kể cả những cách viết ngọng như Nguyễn Lân được giới lò ấp bảo vệ, kéo theo quan chức viết sai như Trịnh Xuân Thanh) là được cộng đồng chấp nhận ư? Trên các văn bản quảng cáo, trên báo, những lỗi này đều bị phản ứng và chê cười, trừ những người ít học không phân biệt được đúng sai rồi làm theo. Lỗi này không do “mù chữ Hán” hay do “Latin hóa” gì cả.

Đúng như bác Đặng Tiến gợi ý, theo tôi, nhà trường dạy chữ phải dạy chuẩn, các lỗi về chữ viết ở ngoài đời sống là do tùy tiện, thậm chí gọi đúng tên là dốt chứ không phải tôi mạo phạm. Nhà trường và giáo dục có trách nhiệm chuẩn hóa chứ không thể nói là do sự sinh động của đời sống bản ngữ đành chấp nhận theo. Chữ viết trong quá trình phát triển của nó là sản phẩm của giáo dục chứ không theo quy luật “người bản ngữ luôn luôn đúng”! Đó là lí do tôi phải mất thời gian nói về lịch sử của chữ viết trong mối quan hệ độc lập với âm thanh, nhưng hình như nhiều vị đã không đọc được hoặc có đức “không cần lý thuyết”.

Giáo dục chân chính dùng cái hay, cái trong sáng để thức tỉnh và khai phóng dân chúng. Giáo dục chân chính không duy trì và khuếch trương cái dở, cái lú lẫn để làm mê muội, ngu dân.

Bài này chỉ dừng lại ở sự rối loạn chữ viết do dốt mà ra. Những rối loạn trầm trọng hơn trong sự viết như cách dùng từ, dùng thành ngữ, tục ngữ không hiểu nghĩa dẫn đến rối loạn hệ thống và sự khu biệt, hiểu chủ quan, đại khái làm mất gốc văn hóa, các định kiến ngôn ngữ địch/ ta, chính thống/ phi chính thống, tục/ thiêng, nam/ nữ… làm méo mó tiếng mẹ đẻ, tôi sẽ nói trong một bài khác. Sự phá hoại này bộc lộ sâu sắc quá trình không phải do “Latin hóa” mà do “bình dân hóa”, “đại chúng hóa”, “vô sản hóa” của những trí thức bình dân học vụ đang thống trị học thuật.

———-

 

PGS TS đề xuất cải tiến bảng chữ cái "sẽ không lùi bước dù bị ném đá bẩn thỉu"
PGS.TS Bùi Hiền. Ảnh: Lao động

PGS. TS Bùi Hiền, người đề xuất cải tiến bảng chữ cái đã bất ngờ khi bị “ném đá” bởi trước đây, nếu đồng ý hay không cũng không có ai phản ứng thái quá, vô văn hóa như vậy.

 

Tối 25/11, PGS.TS Bùi Hiền, nguyên Hiệu phó trường ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội, nguyên phó Viện trưởng Viện Nội dung & Phương pháp dạy – học phổ thông, người đề xuất cải tiến bảng chữ cái cho hay, sau khi công trình nghiên cứu chưa hoàn chỉnh của ông được giới thiệu lên báo một cách không khéo dẫn đến dư luận phản ứng quyết liệt.

“Đây là vấn đề hết sức nghiêm túc và tôi đã nghiên cứu công trình khoa học này mấy chục năm nay chứ không phải tự nhiên cao hứng lên viết một bài vớ vẩn. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa làm xong mà mới chỉ được có một nửa, tức là đưa ra phần phụ âm còn nguyên âm thì chưa.

Gần đây, tôi có giới thiệu công trình ở một bài viết ở kỉ yếu hội thảo khoa học tại Quy Nhơn về ngôn ngữ và nó chưa phải đề án đem ra trưng cầu ở cấp nhà nước.

Vì thế, lẽ ra, báo chí chỉ nên đưa tin thôi còn đây lại đăng cả một nội dung nghiên cứu nhưng lại chưa đầy đủ, sau đó được dẫn lên mạng xã hội khiến dư luận không hiểu hết được, phản ứng gay gắt”, PGS Hiền nói.

Theo PGS. TS Bùi Hiền, việc một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc nhưng chưa hoàn thiện được đưa lên nhưng lại bị “ném đá”, thậm chí mạt sát, xúc phạm cá nhân, danh dự nhà khoa học là không nên.

PGS TS đề xuất cải tiến bảng chữ cái sẽ không lùi bước dù bị ném đá bẩn thỉu - Ảnh 1.

Ví dụ PGS.TS Bùi Hiền đưa ra về cách cải tiến Tiếng Việt.

“Có người bảo tôi thần kinh, điên mới đưa ra cải tiến bảng chữ cái như vậy nhưng rõ ràng, họ chưa đọc kỹ và cũng kệ họ thôi, không sao cả. Còn nếu nghe nghiêm túc sẽ thấy những vấn đề tôi đưa ra chưa chắc vô bổ.

Với một nhà khoa học chân chính, nghiêm túc dù có bị ném đá những hòn đá vớ vẩn, bẩn thỉu như vậy, tôi sẽ không lùi bước, rụt vào không nghiên cứu.

Bởi tôi nghiên cứu có cơ sở khoa học, thực tiễn, mục tiêu rõ ràng và sẽ đạt được kết quả, giúp ích cho ngành giáo dục, Nhà nước, nhân dân.

Tuy nhiên, tới đây, sẽ phải làm cho kín kẽ, chắc chắn, rõ ràng vì đây là vấn đề lớn, động đến toàn dân chứ không phải của một vài người hay sốc, nổi”, PGS Hiền nêu.

Nhà khoa học này cũng khẳng định, dù đã có hàng trăm bài báo nghiên cứu khoa học đăng ở các tạp chí nhưng đây là lần đầu tiên ông gặp phải sự phản ứng gay gắt, “ném đá” của dư luận như vậy.

“Thực sự tôi rất bất ngờ khi bị “ném đá” như vậy bởi trước đây, nếu đồng ý hay không thì cũng không có ai phản ứng thái quá, vô văn hóa như vậy.

Nhưng, tôi cũng nghĩ, vấn đề của tôi bị là đưa lên mạng xã hội và trên này có những người dùng tốt, tuy nhiên, không ít người xấu

Tôi không vui vì với một công trình nghiên cứu nghiêm túc cần được đọc, xét rõ đúng sai nhưng ở đây, chưa xét gì đã “ném đá”, chửi bởi nhưng tôi cũng không buồn phiền đâu, trách móc báo chí hay dư luận mà vẫn nghiêm túc làm.

Đến lúc nào đó có nhiều người ủng hộ thì không phải một mình tôi mà sẽ có tập thể làm nghiêm túc, trình cho Nhà nước, Bộ. Sau đó, trên thấy được sẽ đưa ra trưng cầu cho toàn dân có ý kiến”, ông Hiền khẳng định.

Ông nhấn mạnh thêm, dù bị dư luận phản ứng gay gắt như vậy nhưng trong gia đình, học trò, bạn bè không có bất cứ ai khuyên nên dừng lại mà vẫn động viên, chia sẻ.(?)

 

“Sau khi báo chí đăng thông tin về tôi và dư luận phản ứng thì có một người cháu đã viết bài nhưng không ký tên và gửi về một tờ báo với nhiều ý kiến chưa được.

Việc này tôi chưa biết thế nào nhưng có lẽ do nó còn trẻ, chưa chín chắn nên dễ phản ứng. Nhưng nếu nắm được là ai thì tôi sẽ bảo rút kinh nghiệm, vì dù có thương, yêu ông cũng không làm như vậy mà phải xin lỗi”, PGS Hiền tâm sự.

Đồng thời, ông cũng đề nghị, truyền thông cần rút kinh nghiệm trong truyền tải thông tin để không xảy ra trường hợp tương tự, bởi sẽ không có lợi chung

chán đời

One response to “Khi người điên(GS/TS ?) tự thấy mình điên thì có điên không ????

  1. Không biết vì lý do gì mà ông BH lại là PGS .TS khi mà ông ta nói phải luôn có quyển từ điển tiếng Việt để tham khảo vì không phân biệt được chữ :ch và tr,d và gi,r…. những cách phân biệt này đã được học từ lớp 1 , và phần lớn người ta đều viết đúng cách, và nếu có sai chính tả đi nữa thì người khác vẫn hiểu được nội dung câu viết đó. Nhất là các GS.TS thì hầu như không sai chính tả trong các bài viết của họ. .. Còn người Hà Nội trong văn nói có thể không phân biệt rõ ràng cách phát âm, nhưng văn viết thì không bao giờ sai chính tả như ông Hiền biện luận, cho nên tôi nghi ngờ bằng cấp của ông Bùi Hiền. Đây, tôi lấy một ví dụ theo cách viết cải tiến của ông Hiền :
    Trong một bức hình cũ có chụp cảnh BÁC HỒ ÔM CHẶT VÀ HÔN CHU ÂN LAI.
    Theo kiểu viết của ông Hiền sẽ là BÁK HỒ ÔM CẶT VÀ HÔN CU ÂN LAI.. liệu có ổn không? (xin đừng hiểu lầm sang nghĩa khác ạ )

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s