100 năm “kách mệnh tháng 10″(7/11/1917-7/11/2017)-Lê Phú Khải

Chuyện xưa tích cũ

logo văn hóa

Toàn văn tổng luận khách quan về Liên Bang Xô-viết

100 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI

( 7/11/1917 – 7/11/2017)

Lê Phú Khải

Lê Phú Khải.

  • Bối Cảnh.

Ngày 7-11-2017 năm nay, loài người tiến bộ trên toàn thế giới muốn hay không củng phải để thời gian suy ngẫm, hồi tưởng về cái ngày “ rung chuyển thế giới ” này. Ký ức tập thể của nhân loại không bao giờ phai lạt về một cuộc cách mạng đã để lại những dấu ấn hào hùng cùng những chấn thương vô cùng nặng nề cho nhân loại và còn để lại những di hại đến ngày nay, chưa biết đến bao giờ mới hết di căn…

Cách mạng Tháng 10 không phải là một “ ngẫu nhiên lịch sử ”. Nước Nga trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất là một nước tư bản trung bình với rất nhiều yếu tố lạc hậu. Với dân số 174 triệu người, Nga chỉ đạt 7,5 tỷ đô la tổng thu nhập quốc dân và 43 đô la bình quân đầu người. Trong khi đó, Mỹ với dân số hơn 97 triệu người đã đạt 34.4 tỷ đô la, gấp 5 lần Nga về bình quân thu nhập theo đầu người, các nước Anh (10,9 tỷ đô la và 237 đô la), Đức (10,5 tỷ đô la và 154 đô la), Pháp (7,3 tỷ đô la và 183 đô la).

Nói Nga là nước tư bản có trình độ phát triên trung bình là nói theo lối thống kê. Thực ra, Nga vốn là một nước nông nghiệp. Năm 1913, nông nghiệp chiếm 58% tổng sản phẩm quốc dân, nông dân chiếm 2/3 dân số. Nga mới thoát khỏi chế độ nông nô năm 1861. Nông thôn Nga rất lạc hậu và phụ thuôc vào đại địa chủ.

gia đình Sa Hoàng

gia đình Sa Hoàng Nicholas II

Ở thành thị, chủ yếu là ở các thành phố lớn như Pêtograt và Maxtcơva đã hình thành giai cấp công nhân có số lượng lên đến 10 triệu người. Giai cấp vô sản này bị bóc lột nặng nề và sống trong hoàn cảnh khốn cùng. Theo thống kê thời đó thì lương công nhân là 246 rúp, thì lợi nhuận làm ra cho tư bản là 252 rúp, tỷ số bóc lột là hơn 100%. Theo luật pháp thời đó thì thời gian làm viêc trong ngày là 11,5 giờ, nhưng thực tế họ phải làm 12 đến 14 giờ. Có thể nói, giai cấp vô sản Nga khổ cực nhất thế giới thời đó.

Chiến tranh thế giới 1914 – 1918 mà Nga tham chiến đã phá hoại nền công nghiệp Nga một cách nghiêm trọng. Hàng loạt nhà máy đóng cửa, công nhân thất nghiệp, phải đi lính đánh Đức. Quân đội của Nga hoàng Nicôlai đệ nhị lúc đó trang bị rất kém, liên tiếp thua trận, kỷ luật trong quân đội được xây dựng trên “ cơ sở tàn bạo”. Nhục hình được thực hành rộng rãi trong quân đội. “ Những người bị thương nặng đưa từ mặt trận về… Qua những người bị thương chúng tôi biết nhiều chuyện, trước hết là chuyện quân đội ta trang bị rất kém. Binh lính nói xấu các sỹ quan cao cấp, họ đồn là ở bộ chỉ huy tối cao có người được bọn Đức mua chuộc làm phản. Binh lính ăn uống rất cực khổ…” ( Nhớ lại và suy nghĩ – Hồi ký của Zhukov – NXB.QĐND 2001 – trang 49).

Nguyên soái Zhukov từng đi lính thời Nga hoàng, đoạn hồi ký trên là ông ghi lại về tình cảnh quân đội Nga thời đó.

  • Lướt nhanh về cách mạng Tháng 10 – Liên Xô.

Chế độ quân chủ chuyên chế ở Nga của dòng họ Rômanôp kéo dài đến 300 năm, đã đưa đất nước đến khốn cùng. Đại thi hào Puskin ( 1799–1837) xuất thân là quý tộc củng phải thét lên : “ Tôi muốn đạp vào những tật xấu gian tham  đang nghiễm nhiên ngự trị trên ngai vàng.” Dưới ngai vàng của triều đại cuối cùng Nicôla II: nông dân thì chết đói, công nhân chết gục, binh lính bị nhục hình, đó là tất cả những gì để kết luận: cách mạng Tháng 10 không phải là một “ ngẫu nhiên của lịch sử”. Năm 1905, cách mạng Nga lần thứ nhất đã nổ ra và bị tắm máu. Tháng 2 năm 1917 cách mạng Nga lần thứ hai lại nổ ra, tiêu diệt chế độ quân chủ chuyên chế Nga, Nicôla II thoái vị, nhưng chính quyền lọt vào tay giai cấp tư sản, thông qua chính phủ lâm thời do Kerenxki đứng đầu. Tám tháng giao tranh giữa tư sản và vô sản. Ngày 25 tháng 10 theo lịch Nga, tức 7–11 –1917, những loạt đại bác từ chiến hạm Rạng Đông nổ vang, mở đầu cuộc tấn công vào cung điện Mùa Đông ở Pêtrôgat, quân khởi nghĩa chiếm những mục tiêu quan trọng. 10 giờ sáng đài phát thanh Rạng – Đông phát đi lời kêu gọi của LêNin: “ Chính phủ lâm thời đã bị lật đổ, chính quyền nhà nước đã chuyển qua tay các cơ quan của Xô Viết đại biểu công nhân và binh sỹ Pêtrôgat… Sự nghiệp mà nhân dân đã đấu tranh để thực hiện: đề nghị ngay tức khắc một hòa ước dân chủ, xóa bỏ quyền sở hữu ruộng đất của bọn địa chủ, thiết lập chế độ công nhân kiểm soát sản xuất thành lập chính phủ Xô–Viết, sự nghiệp đó đã được bảo đảm.

“ Cách mạng của công nhân, binh sỹ và nông dân muôn năm !”. Ngay tối hôm đó, đại hội II toàn Nga các Xô–Viết đại biểu công nhân và binh sỹ họp đến tối hôm sau. Chính phủ công nông đã được thành lập do LêNin đứng đầu. Làn sóng cách mạng lan khắp nước. Chính quyền Xô–Viết được thành lập ở khắp nơi. Cách mạng Tháng 10 đã thành công rất mau chóng. Và đây là cuộc cách mạng ít đổ máu nhất trong lịch sử nhân loại đến lúc đó.

Cách mạng Tháng 10 thành công trong một thời gian rất ngắn trên một đất nước bao la rộng lớn như nước Nga không phải là một “ ngẫu nhiên của lịch sử”, khát vọng ruộng đất, khát vọng hòa bình chấm dứt chiến tranh của nông dân, công nhân và binh lính nước Nga đã được Đảng Bôn–sê–vích tổ chức, lãnh đạo quần chúng nổi dậy dành thằng lợi.

219712-lenin-60

Hai sắc lệnh đầu tiên của chính quyền Xô–Viết là sắc lệnh hòa bình  và sắc lệnh ruộng đất. Phải vượt qua rất nhiều  trở lực, “ vô cùng nặng nề và vô cùng nhục nhã” như  LêNin nói, nhưng đất nước đã được hòa bình: Hòa ước Brest Litốpxcơ được ký kết vào mùa xuân năm 1918. Hòa bình đã cứu sống cách mạng, là điều kiện phải có để tổ chức lại đất nước. Hãy bắt tay vào công cuộc “ tổ chức, tổ chức và tổ chức”, đó là khẩu hiệu của LêNin và những người Bôn–sê–vích lúc đó. Nhưng không để cho nhân dân kịp hồi sức, những kẻ thù của cách mạng Tháng 10 bên trong và một cuộc can thiệp của bốn đế quốc bên ngoài đã gây nên nội chiến, tháng 3 năm 1918 Anh, Pháp, Mỹ đã đánh vào Muocmanxcơ, Nhật đánh vào Vladivoxtoc, Thổ Nhĩ Kỳ đánh vào Dacápcadơ. Cùng lúc đó, quân đội Tiệp Khắc do đồng minh tổ chức bạo loạn ở bên trong, gây ra tình thế trong đánh ra, ngoài đánh vào. Nước Cộng Hòa Xô Viết chỉ còn 1/4 lãnh thổ. Một mất một còn. LêNin tuyên bố: “ Cách mạng không đáng một xu nếu không bảo vệ được mình”. Hồng quân công nông được thành lập, 1/2 đảng viên Bôn–sê–vích ra mặt trận đã có sức thuyết phục lớn quần chúng. Cả nước dồn sức cho Hồng quân; Từ 300 nghìn đầu năm 1918 dã tăng lên 5 triệu vào năm 1920. Các biện pháp “ cộng sản thời chiến” được thực hiện, chính sách trưng thu lương thực, kỷ luật lao động bắt buộc được ban bố. Các vựa lúa mỳ bị kẻ thù chiếm, nạn đói hoành hành khắp nước. Tình cảnh nước Nga gần như tuyệt vọng . Nhưng dần dần những nổ lực phi thường của chính quyền Xô–Viết và quần chúng cách mạng, những nguy cơ hiểm nghèo nhất đã dần dần được vượt qua. Thắng lợi của nhà nước Xô–Viết non trẻ một phần quan trọng được nhờ sự ủng hộ của  giai cấp vô sản các nước Phương Tây. Các cuộc mít–tinh, biểu tình, bãi công ở các nước nổ ra với khẩu hiệu: “ Không can thiệp vào nước Nga”. Ở nhiều bến cảng, công nhân từ chối khuân vác vũ khí xuống tàu đi đánh nước Nga. Ngay cả thủy thủ củng phản chiến.

nước Nga xưa

Hiểm họa được đẩy lùi nhưng nước Nga bị tàn phá và nghèo khó đến tận cùng. Không một ngành công nghiệp nào còn hoạt động bình thường. Thành thị vơi hẳn người, hàng loạt công nhân trở về nông thôn kiếm miếng ăn. Giai cấp vô sản Nga gần như tan rã. Giao thông vận tải đình đốn. 31 đoạn đường sắt ngừng hoạt động. 1700 km đường sắt bị phá hoại. Hầu hết đầu máy hư hỏng. Lạm phát kinh khủng. Nhiều nơi chuyển từ trao đổi bằng tiền sang trao đổi bằng hiện vật. Ở tỉnh Cadan, lấy muối làm tiền. Bạo loạn nổ ra ở Krônxtat. Nạn đói đặc biệt nghiêm trọng ở vùng phía đông nước Nga. Báo Pravda công bố 25 triệu người đói. Aragông viết: “ Trên một lãnh thổ rộng lớn hơn nước Pháp, đất đai nứt nẻ… trẻ con bụng ỏng, răng lòi chân ra, và những con người gầy đét kéo nhau đi , những người đàn ông rên rỉ vì bệnh sốt, đàn bà thì tóc cạo nhẵn, quỳ  gục xuống trên đường, những đoàn người gồm các gia đình kéo nhau đi, dường như ở đâu đó có bánh đợi họ… đường xá đầy những xác chết…” ( U.R.S.S Paris 1962. Trang 211). 

Chính quyền Xô–Viết đứng trước những thử thách quá mức tưởng tượng, đã dốc hết sức lực của mình để cứu vãn tình thế. Từ một nước tư bản trung bình, sau nội chiến, nước Nga quay về một nước tiểu nông.

nước Nga xưa1

Chính sách kinh tế mới ( NEP ) của LêNin ra đời trong hoàn cảnh đó nhằm giành lại quần chúng công nông, không đẩy họ về phía thù địch. Chính sách đó được đại hội X của Đảng cộng sản Nga nhất trí thông qua và đưa vào thực hiện ngay, chính sách thu mua lương thực thừa thời chiến được bãi bỏ. Các xí nghiệp tư nhân được phép hoạt động. Các xí nghiệp vừa và nhỏ của nhà nước có thể cho tư nhân thuê. Tư bản nước ngoài được bỏ vốn vào sản xuất trong nước dưới hình thức tô nhượng, thuê chuyên gia nước ngoài làm việc cho Nga. Kinh tế quốc doanh áp dụng triệt để hạch toán kinh tế và gắn tiền lương vào lao động của mỗi người. Nhà nước đưa dự trữ vàng ra nước ngoài mau vật liệu và máy móc, mua những hàng tiêu dùng thiết yếu và đón nhận viện trợ từ nước ngoài. Hàng triệu pút lúa mỳ được giửi đến nước Nga. LêNin đề ra khẩu hiệu: “ Phải học buôn bán!”.

Nhưng chính sách kinh tế mới lại nảy ra tình trạng đặc quyền đặc lợi, nạn hối lộ, quan liêu thoái hóa, nạn mua chuộc các viên chức Xô Viết… Cuộc thanh đảng năm 1921 đã được thực hiện kiên quyết với sự tham gia tích cực của quần chúng công nông. 24% tổng số đảng viên lúc đó đã bị khai trừ. Kỷ luật đảng được củng cố, uy tín của đảng    Bôn–sê–vích được nâng cao. Với chính sách kinh tế mới, công cuộc khôi phục kinh tế tiến rất nhanh. Quần chúng được hồi sức đã nô nức sản xuất. Lương thực đã đủ cung cấp cho đất nước, giá lúa mỳ năm 1923 thấp hơn trước chiến tranh, sản xuất công nghiệp đạt 3/4 trước chiến tranh, nước Nga sống lại, năm 1925 công cuộc khôi phục kinh tế hoàn thành. Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết ( Liên Xô ) được thành lập trong thời kỳ này ( 1922). Nhà nước nhiều dân tộc và không có áp bức dân tộc đầu tiên trên thế giới ra đời.

Lê Nin1

Nhưng khi đất nước bắt đầu lấy được đà tiến lên mạnh mẽ thì Vi-la-đi-mia I-lích LêNin qua đời. Trước khi mất, trong khi dưỡng bệnh ( bị thương vì bị ám sát trước đó ) LêNin mới chỉ phác họa ra những đường hướng chủ yếu của công cuộc xây dựng  CNXH ở Liên Xô. Ngày nay, những nhà nghiên cứu lịch sử, nhìn lại sự phát triển của Liên Xô từ sau khi LêNin mất, dù ở góc độ nào, củng không thể không đồng cảm về sự mất mát này với sự phát triển của Liên Xô.

Với sự nhìn nhận tinh tường, trước khi mất,  LêNin đã đề nghị ( di chúc ) với Đại hội XIII của Đảng cộng sản Liên Xô: “ Stalin quá thô bạo, trong hoàn cảnh có thể dung thứ được trong môi trường chúng ta, trong quan hệ giữa người và người cộng sản chúng ta, nhưng lại trở thành một nhược điểm không thể dung thứ được trong cương vị tổng bí thư. Vậy tôi để nghị các đồng chí chuyển Stalin khỏi cương vị đó và cử một người khác vào cương vị đó, một người mà về mọi phương diện khác trội hơn Stalin ở một ưu điểm duy nhất, cụ thể là khoan dung hơn, từ tốn hơn, lịch thiệp hơn và quan tâm đến đồng chí nhiều hơn, tính tình ít thất thường hơn…” ( LêNin toàn tập, tập 45, trang 396 – 397, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva, 1978 )

Đầu năm 1926 thì các ngành kinh tế quốc dân đã trở lại hoạt động bình thường ở mức trước chiến tranh, những cơ cở đầu tiền của chủ nghĩa xã hội ra đời và phá triển. Nhà nước nắm trong tay giao thông vận tải, ngoại thương…  Trên cở sở đó, Đảng cộng sản Liên Xô nghĩ tới một xã hội  xã hội chủ nghĩa mà họ hằng mơ ước. Liên xô phải đứng vững trước vòng vây của chủ nghĩa tư bản. Muốn thế phải công nghiệp hóa đất nước. Đại hội lần thứu XIV của Đảng cộng sản Liên Xô tháng 12 năm 1925 đã thông qua nghị quyết về công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, chủ yếu nhằm vào các ngành công nghiệp nặng. Đây là một công việc cực kỳ khó khắn, vì công nghiệp nặng đòi hỏi nhiều vốn, không sinh lời ngay. Khác hẳn với các nước tư bản, công nghiệp hóa từ xây dựng công nghiệp nhẹ, sinh lời ngay. Đảng cộng sản Liên Xô đã động viên nhân dân tích lũy vốn bằng sự chịu đựng gian khổ, lao động quên mình, nhà nước đã đầu tư hàng tỷ rúp vào công nghiệp nặng.

Stalin1

Từ năm 1928, Liên Xô chuyển sang kế hoạch 5 năm để thực hiện tốt hơn công nghiệp hóa. Cuối năm 1932, kế hoạch 5 năm đầu được thực hiên xong. Kế hoạch 5 năm lần thứ 2 đã hoàn thành trong vòng 4 năm 3 tháng , vào tháng 4 năm 1937. Liên Xô đã trở thành một cường quốc công nghiệp lớn sau hơn 15 năm công nghiệp hóa, đứng đầu Châu Âu về tổng sản lượng công nghiệp, đứng thứ 2 thế giới sau Mỹ. Công việc này các nước Phương Tây như Anh phải mất 200 năm tích lũy mà “ mỗi lỗ chân lông của nó thấm đẫm máu và nước mắt” ( Marx ), Mỹ phải mất 120 năm, Nhật mất 40 năm… Sự thành công rực rỡ của Liên Xô công nghiệp hóa đã làm cả thế giới phải ngạc nhiên. Cách mạng Tháng Mười Nga đã trở thành một sự kiện lớn của thời đại, ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống chính trị và văn hóa của nhân loại nhiều thập kỷ của thế kỷ 20. Nó giải thích vì sao có một thời phong trào thiên tả, kỳ vọng ở Liên Xô, xem Liên Xô là “ cái nôi” của cách mạng xã hội loài người đã lan rộng trong giới trí thức Phương Tây, điển hình như triết gia         Jean Paul Sartre ở Pháp, BerTrand Russel ở Anh, Jane Fonda ở Mỹ… Đề tài cách mạng Tháng Mười Nga và nước Nga Xô Viết chiếm một vị trí quan trọng trong sáng tác của nhiều nhà văn Phương Tây như Jôn Rít ở Mỹ, Hăngri Bácbuýt, Pôn Vaiăng Cuturiê,      Rômanh Rôlăng ở Pháp, Béckherơ ở Đức, Bécna Sô ở Anh… Bản thân cuộc sống đã cho phép họ nói đến cách mạng XHCN như một hiện thực trong tồn tại và phát triển. Hẳn nhân loại còn nhớ, nhà văn nổi tiếng của Pháp là Anatole France đã giành toàn bộ số tiền của giải thưởng Nobel để tặng cho quỷ cứu đói của nước Nga Xô Viết trong những năm sau nội chiến.

Nhưng trên bức tranh toàn cảnh của thành tựu kinh tế xã hội ấy, đã nẩy nở tệ sùng bái các nhân Stalin. Vị ngọt ngào đã đượm mùi cay đắng. Tệ sùng bái cá nhân và những cuộc thanh trừng đẫm máu kéo dài ở Liên Xô là kết quả tất yếu của một xã hội độc tài toàn trị của một đảng độc quyền lãnh đạo, không có pháp luật không có nhân quyền và phản biện. Tất cả những thành tựu lao động quên mình và hy sinh không bờ bến của nhân dân Liên Xô đều được gắn với tên tuổi của Stalin. Công lao của Stalin đã được cả bộ máy tuyên truyền khổng lồ của chế độ độc tài Đảng trị tô vẽ, thổi phồng một cách vô lối. Để nắm được quyền hành tuyệt đối trong một đảng cầm quyền không có nhiệm kỳ với người lãnh đại tối cao, Stalin đã chuẩn bị “ ngôi báu” của mình từ rất lâu. Ở cương vị tổng bí thư, Stalin vẫn cảm thấy nguy cơ bị thách thức từ những ngày đầu. Hầu hết những người  Bôn–sê–vích ( Bôlshevik ) đồng chí với ông ta và LêNin từ thời kỳ đầu lần lượt sau này bị xử tử chỉ còn lại Molôtốp, Khalinin do khuất phục Stalin… chỉ trong năm 1933 đã có 400 nghìn đảng viên bị khai trừ. Việc khai trừ thường đồng nghĩa với bắt giữ, thẩm vấn và xử tử. Ngày 1 tháng 12 năm 1934 Sergei Kirov bí thư thành ủy Leningrad bị ám sát. Stalin lấy cớ đó để phát động thanh trừng hàng loạt , mở đầu bằng biệc xử tử 10 người cáo buộc có liên quan vào vụ Kirov, mặc dù họ ở trong tù vào thời điểm xảy ra vụ án. Nhiều nhân vật đương thời và nhà sử học về sau tin rằng chính Stalin đã ra lệnh giết Kirov. Tuy Kirov là một người theo đường lối Stalin, nhưng là một ngôi sao chính trị đang lên làm lu mờ vị trí của Stalin (!). Mặc dù Yagoda, Yezhov và Beria trực tiếp chỉ đạo việc thanh trừng nhưng Stalin là người lãnh đạo cao nhất và trực tiếp liên hệ chặt chẽ với họ. Trong một số trường hợp Stalin đã trực tiếp chỉ đạo thẩm vấn những người không chịu thú tội. (!) Trong suốt thời kì 1937 – 1938, Stalin đã tự tay kí 357 danh sách chuẩn y việc tòa án tuyên tử hình hàng nghìn người. Stalin đã chọn riêng Vasili Blokhing giám sát việc thi hành án tử hình các nhân vật quan trọng . Theo Ủy ban Schatunow, Skja điều tra theo ủy quyền của Nikita Chruschtschow dưới hầm của cơ quan KGB từ 1-1-1935 đến 7/1940 mật vụ Stalin đã bắt 19.840.000 người dân, 7 triệu  trong tổng số đó hơn 1/3 đã chết trong các trại lao động nhà tù. Trong thời gian đại khủng bố 1936 – 1938 trung bình mỗi ngày có 1000 người bị giết. Trục xuất và di dân cũng là một thảm họa. 

Thời kỳ Stalin cầm quyền đã diễn ra những đợt trục xuất và di dân lớn nhất trong lịch sử. Có hơn 14 triệu người đã bị buộc phải di cư, bị đưa đến những trại cải tạo từ năm 1929 đến 1953. 7 đến 8 triệu người bị trục xuất đưa tới những miền xa xôi và khí hậu khắc nghiệt. Định kiến của Stalin về lòng trung thành của những nhóm sắc tộc đặc biệt là lý do để trục xuất và di dân. Ước tính có hơn 3 triệu người bị đưa tới Siberia và miền Trung Á. Một phần ba những người tái định cư bị chết trong vòng 15 năm do mắc bệnh và đói ăn. Hậu quả còn kéo dài cho đến ngày nay. Ví dụ, cộng đồng người Tarta vốn là nhóm đa số ở Krym từ nhiều đời, bị trục xuất khỏi quê hương năm 1944 và người Nga trở  thành đa số ở miền này. Trong cuộc khủng hoảng Krym năm 2014, nước Nga viện dẫn là ý nguyện của đa số người Nga rồi can thiệp quân sự, sát nhập Krym vào Nga! Cộng đồng người Tarta cho rằng, chính họ mới là người có quyền về vận mệnh của Krym chứ không phải người di dân Nga.

Chính ký ức đau thương sâu đậm trong tâm trí nhiều dân tộc thiểu số là động lực cho chủ nghĩa ly khai ở những vùng thuộc Nga như Chechnya ngày nay. Chiến dịch thanh trừng của Stalin còn vươn ra khỏi Liên Xô. Stalin gởi điệp viên để mưu sát những người chạy trốn. Trotsky bị mưu sát tại nơi ở của ông ở Mexico. Nhân danh Quốc tế cộng sản, Stalin chỉ đạo thanh trừng hàng loạt những người theo Trotsky trên thế giới. Lãnh đạo cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh đã từng bị điều tra và thẩm vấn theo những chủ trương trên. Quốc tế cộng sản dưới thời Stalin đã khuyến kích những cuộc bạo động sớm bị đàn áp đẫm máu mà Xô Viết Nghệ Tĩnh ở Việt Nam hay cuộc khởi nghĩa của cộng sản Indonesia là những ví dụ. Tới năm 1939 các giáo sứ từ 54.000 năm 1917 giảm xuống còn vài trăm. Nhiều nhà thờ bị đập phá, hàng chục nghìn linh mục, tu sĩ và sơ bị thẩm vấn bắt bắt giam hoặc hành quyết. Trên 100 nghìn người liên quan tới tôn giáo bị giết trong những đợt thanh trừng năm 1937 – 1938.

Lev_Trotsky

Chỉ khi lãnh đạo giáo hội công nhận uy quyền thế tục của Stalin thì Chính thống giáo ở Nga mới được hoạt động trở lại và bị lợi dụng trong chiến tranh thế giới lần thứ II. Với các nhân vật chính trị, trí thức, nghệ sỹ sau khi bị bắt đã được ông Đại Nguyên Soái Stalin dùng thủ đoạn bẩn thỉu là xóa sạch tên tuổi họ khỏi các văn bản, tranh ảnh… như họ chưa hề tồn tại trong xã hội Xô Viết !!! Nguy hiểm nhất là làm thiếu hụt đi các tướng lĩnh tài giỏi, các sỹ quan có kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu khi chiến tranh thế giới lần thứ II sắp bùng nổ, Phát xít Đức đang ráo riết chuẩn bị tấn công là Liên Xô.

Ngày 10 tháng 9 năm 1939 Đức tấn công Ba Lan mở đầu cho chiến tranh thế giới lần thứ II. Đức huy động toàn bộ tiềm lực chiến tranh của Đức và các nước Tây Âu bị Đức chiếm để chuẩn bị đánh Liên Xô thì “ thiên tài kiệt xuất của nhân loại” như người ta đã ca ngợi Stalin, lại vẫn mơ màng và hy vọng vào khả năm ngoại giao để trì hoãn chiến tranh với Đức. Những cuộc thanh trừng tàn bạo của Stalin đã làm mất đi những tướng lĩnh tài giỏi của Liên Xô như Tukhasevxki, Bluikhe… rất cần cho chiến tranh giữ nước. Nguyên soái Vaxilexki đã viết: “ Vì muốn trì hoãn thời gian chiến tranh nên Stalin đã đánh giá quá cao khả năng dùng ngoại giao để giải quyết nhiệm vụ ấy… đó là một thiếu sót hết sức nghiêm trọng về mặt chính trị của Stalin. Và do không kịp thời được đặt mình vào trình trạng sẵn sàng chiến đấu nên các lực lượng vũ trang Liên Xô khi xông vào trận chiến với bọn xâm lược đã phải ở trong những điều kiện rất bất lợi hơn nhiều và bắt buộc vừa đánh vừa rút lui vào trung tâm đất nước” ( Sự nghiệp cả cuộc đời, Hồi ký quân sự, Nhà xuất bản Tiến Bộ, Mátxcơva, 1984, trang 28 – 32). Những thước phim, những bức tranh sau này đã mô tả những trận chiến không cân sức, nhưng cực kỳ anh dũng của các chiến sỹ biên phòng Liên Xô khi bị quân Đức bất ngờ ồ ạt tấn công. Có những đồn biên phòng của Liên Xô đã hy sinh 100% chỉ huy và chiến sỹ. Nhờ những hy sinh to lớn này mà các cuộc hành quân tưởng là chớp nhoáng của quân Đức bị chậm . Trong Hồi ức “ Nhớ lại và suy nghĩ” của nguyên soái Zhukov, tác gải củng phải “ thú nhận”: “Stalin là một người cương nghị, như phương ngôn nói, không phải là người non gan. Chỉ một lần tôi thấy Stalin hơi bàng hoàng, đó là vào ngày 22 tháng 6 năm 1941: lòng tin tưởng của Stalin vào khả năng tránh được chiến tranh sụp đổ. ( Trang 407 – Nhà xuất bản QĐND. Hà Nội 2001 in lần thứ 3 ). Trong một đoạn khác Zhukov viết: “ Nếu bộ đội các quân khu biên giới được lệnh sẵn sàng chiến đấu hoàn toàn từ trước thì có thể gây cho địch tổn thất lớn hơn nữa ngay trong những ngày đầu chiến tranh, có thể kìm hãm chúng lâu hơn trên các tuyến phòng ngự phía tây. Nếu làm được như thế thì việc ra quân của các đơn vị từ các quân khu nội địa sẽ có tổ chức hơn ( trang 590).

Phát xít Đức

Ngày 22 tháng 6 năm 1941, Phát xít Đức bội ước xé bỏ hiệp ước không tấn công, cho ra quân một lúc 190 sư đoàn được trang bị tốt, 4900 máy bay, 3.712 xe tăng với 5,5 triệu quân. Một đạo quân như thế, lại đánh bất ngờ ! Nhưng chúng đã thất bại. Chỉ có thể giải thích nguyên nhân chiến thắng của quân dân Xô Viết như Zhukov viết khi quân Đức tổng tiến công vào Mát-xcơ-va tháng 11 năm 1941: “ Chính 1 triệu tên lính Phát xít tinh nhuệ đã vấp phải tinh thần vững như thép, lòng dũng cảm và khí phách anh hùng của các chiến sỹ Xô Viết có sự hậu thuẫn của nhân dân, của Thủ đô và Tổ Quốc.” ( trang 522 ). Một nguyên nhân rất quan trọng nữa là nền công nghiệp quốc phòng hùng mạnh của Liên Xô lúc đó, đã cung cấp đầy đủ vũ khí cho quân đội. “ chỉ tính từ ngày 1 tháng giêng năm 1939 đến ngày 22 tháng sáu năm 1941, Hồng quân đã nhận được của ngành công nghiệp 17.745 máy bay chiến đấu, trong đó có 3.719 chiếc thuộc loại mới” ( Hồi ức Zhukov – trang 308 ). Thời tiết khắc nghiệt mùa đông nước Nga củng góp phần “ đánh” bọn phát xít. Để chống trọi với cái rét khủng khiếp, bọn lính Đức đã phải cướp quần áo của nhân dân để mặc và đi trong “ những đôi giầy cao cổ kỳ qoái tự làm bằng rơm !!!” ( Zhukov) Thật thiếu sót nếu không nói đến tài thao lược của các tướng lĩnh Liên Xô như Va-xi lepxki, Ma-lư-sép, Vatutin, Sapôsnicôp, Timôsencô… và tiêu biểu là phó tổng tư lệnh tối cao Zhukov…. Vậy mà, sau khi kết thúc chiến tranh , mọi công lao giữ nước đã được dồn hết mọi vinh quang cho “ Đại nguyên soái” Stalin !

Stalin còn ra lệnh sử bắn hàng ngàn sỹ quan Balan bị bắt trong thế chiến thứ 2 khi Liên Xô cùng Đức quốc xã tấn công Balan. Năm 1990 Nga đã công nhận sự thật đó. Chiến thắng của Hồng Quân Liên Xô đánh bật phát xít Đức ra khỏi bờ cõi, truy đuổi chúng đến tận sào huyệt Berlin, không chỉ là chiến thắng của cuộc chiến tranh giữ nước vì đại mà nó là chiến thắng mang tầm vóc thời đại. Đội xung kích hung hãn nhất của chủ nghĩa đế quốc đã bị đập nát, sau chiến thắng ấy ở các nước thuộc địa và nữa thuộc địa phong  trào giải phóng dân tộc dâng lên mạnh mẽ và giành được thắng lợi liên tiếp. Cách mạng Tháng tám ở Việt Nam thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “ được như thế là nhờ sự thắng lợi vĩ đại của Hồng Quân Liên Xô, đã đánh bại phát xít Nhật” (Hồ Chí Minh – Tuyển tập, NXB Sự thật 1961. Trang 356).

Cái giá mà nhân dân Xô Viết đã phải trả cho sự nghiệp chiến thắng phát xít là quá lớn: 20 triệu người đã hy sinh, hàng trăm thành phố, 70 nghìn ngôi làng, 32 nghìn xí nghiệp bị phá hủy. Trong lịch sử nhân loại, chưa có nước nào chịu tổn thất nặng nề như thế vì chiến tranh. Trong chiến tranh, mọi người dân Xô Viết đã xiết chặt hàng ngũ thành một thành lũy kiên cố, họ chỉ có một ý chí quyết chiến thắng, những sai lầm ban đầu được bỏ qua. Chính Stalin trong một bửa tiệc mừng chiến thắng ở Matxcơva ngày 24-5-1945 đã phải thú nhận: “ Chính phủ chúng tôi đã phạm không ít sai lầm, có những thời điểm, như từ năm 1941 đến 1942, tình huống thật tuyệt vọng. Một nhân dân khác hẳn đã có thể nói với chính phủ mình: các anh không xứng đáng để chúng tôi trông đợi, các anh hãy rút lui đi…” ( Liên Xô – 70 năm trên đường khai phá – Nguyễn Khắc Viện – NXB Tổng hợp Phú Khánh – 1987 – trang 47 ). Đáng tiếc là đánh lẽ phải rút ra những bài học cay đắng để coi trọng hơn nữa vai trò lịch sử của nhân dân thì tệ sùng bái cá nhân Stalin lại được phát triển cao hơn nữa sau chiến tranh. Hãy nhắc lại ở đây những lời tung hô cuồng nhiệt nhất mà cả bộ máy tuyên truyền khổng lồ của chế độ độc tài toàn trị đã dành cho Stalin:           “ Người cha của Tổ Quốc”, “ nhạc trưởng của khoa học”,  “ thiên tài kiệt xuất của nhân loại”, “ kiến trúc sư của chủ nghĩa cộng sản”, “ người trông nom hạnh phúc  của loài người.”… Lố bịch đến mức nhiều bức tranh và tượng ở nơi công cộng thường minh họa Stalin rất cao, ngang với Nga hoàng Aleksander III, trong khi thực tế ông chỉ cao khoảng 165 – 168cm !!!

Chính nhân dân Liên Xô đã tung hô cái đầu mối làm nên mọi thống khổ của mình!!!

(Còn tiếp)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s