Cách hưởng nhàn của thi nhân xưa-Nguyễn Cang

thơ xưa

CÁCH HƯỞNG NHÀN CỦA THI NHÂN NGÀY XƯA

QUA BÀI THƠ “GIANG HỒ TỰ THÍCH” CỦA TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ/

CANG

Nguyễn Cang


tranh nhàn

 

Các thi nhân ngày xưa hưởng nhàn bằng nhiều cách khác nhau. Họ hầu hết là vua hay quan lại triều đình , sau khi từ quan hoặc về hưu vì già , thường dùng những năm tháng còn lại của cuộc đời để ngao du sơn thủy hoặc đi thăm  bạn bè cùng làm quan chung thuở trước để hàn huyên tâm sự.

Để tìm hiểu cách hưởng nhàn của họ , người ta thường dựa vào tài liệu thơ văn để lại, có khi là những giai thoại nữa. Riêng nhà thơ Tuệ Trung Thượng Sĩ có một nhân thân khá đặc biệt : ông vừa là nhà thơ vừa là một quan chức lớn trong triều đình, lại là anh rể vừa là anh họ vua Trần Thánh Tông. 


 Sau đây ta tìm hiểu về thú hưởng nhàn của ông qua bài thơ Giang Hồ Tự Thích( Kỳ 2). Tựa bài trên ,kỳ 1, không có gì đặc biệt(4 câu thất ngôn tứ tuyệt) coi như giới thiệu mở bài cho kỳ 2 nên tôi bỏ qua.


Bản chữ Hán: Phiên âm:
江湖自適 (其二) Giang hồ tự thích (kỳ II)


湖海初心未始磨 Hồ hải sơ tâm vị thuỷ ma, 


光陰如箭又如梭 Quang âm như tiễn hựu như thoa. 


清風明月生涯足 Thanh phong minh nguyệt sinh nhai túc,


綠水青山活計多

Lục thuỷ thanh sơn hoạt kế đa.


曉掛孤帆淩汗漫 Hiểu quải cô phàm lăng hãn mạn,


晚橫短笛弄煙波 Vãn hoành đoản địch lộng yên ba.


謝三今已無消息 Tạ Tam kim dĩ vô tiêu tức,
留得空船閣淺沙. Lưu đắc không thuyền các thiển sa.
(慧中上士) (Tuệ Trung Thượng Sĩ)
 
 

Chú thích từ ngữ :


thích(適): ham, muốn , sở thích.
hồ

(湖): ao( mcó bộ thủy, là nước)


sơ(初): lúc sơ khởi, ban đầu.
thủy

(始): mới , trước. Một âm nữa là thí.

Vị thí : chưa từng.
ma(磨):

mài
quang âm(光陰):

thời gian
tiễn(箭):

mũi tên
thoa(梭): con thoi 
sinh nhai

(生涯): kiếm sống, sinh kế.


túc(足): đầy đủ
 hoạt

(活): năng động.
hiểu

(曉): sớm mai, buổi sáng (có bộ nhật đứng trước chỉ ban ngày, mặt trời).


quái(掛): treo lên , cũng đọc là quải.


lăng(淩): trải qua, vượt qua. Lăng sơn : vượt qua núi.


hãn(汗): mồ hôi,tan lở, cái gì đã ra không trở lại được nữa.


mạn(漫): nước tràn đầy , không bó buộc.


lăng hãn mạn(淩汗漫): đã nhiều khi đi lang bang.


vãn(晚): buổi chiều.


địch(笛): ống sáo( bộ trúc trên đầu, chỉ cây tre, trúc).


Tạ Tam (謝三): tên người, không rõ là ai. 


tiêu tức(消息,): tin tức


không(空): trống rỗng.


thiển(淺): mỏng

tu hành
    Đôi dòng về tiểu sử tác giả:
Tuệ Trung Thượng Sĩ (慧中上士; 1230 – 1291) tên thật là Trần Tung (陳嵩, hay Trần Quốc Tung, là con trưởng An Sinh Vương Trần Liễu, là một thành viên trong hoàng tộc nhà Trần với tước hiệu Hưng Ninh Vương ( anh ruột Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm, vợ vua Trần Thánh Tông), và là một thiền sư Việt Nam.

Ông là người hướng dẫn vua Trần Nhân Tông vào cửa Thiền và có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng của vị vua sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Ông là người Tức Mặc phủ Thiên Trường nay thuộc tỉnh Nam Định. Ông tham gia 3 cuộc kháng chiến chống Mông- Nguyên(1257,1285,1287).
Từ nhỏ chuộng cửa Khổng sân Trình,tham vấn thiền sư Tiêu dao. Sau lùi về ấp Tịnh Bang lập Dưỡng Chân Trang để tu tập Phật pháp.
Được vua Trần Thánh Tông mời vào bàn về đạo ,tôn làm sư huynh, hiệu Thượng Sĩ.Vua Trần Nhân Tông tôn ông làm thầy.
Sáng tác được gom lại trong sách Thượng Sĩ Ngữ Lục, gồm các bài giảng do sư Pháp Loa ghi lại và 47 bài thơ.

 Dịch nghĩa:
Tấm lòng hồ hải trước đây chưa từng bị tiêu mòn,


Thời gian vun vút như tên lại như thoi.


Gió mát trăng thanh, sinh nhai đủ,


Non xanh nước biếc, kế sống dồi dào.


Buổi sớm, kéo cánh buồm cô đơn băng mặt nước mênh mông,


Chiều hôm, cầm ngang chiếc sáo ngắn, đùa với khói sóng.


Tạ Tam nay đã không còn tăm hơi gì nữa, 
Chỉ còn lưu lại chiếc thuyền trống không, ghếch đầu lên bãi cát.
Phân tích và những lời bình:

tranh nhàn1

Đây là bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật, luật trắc vần bằng. Thời điểm sáng tác chưa xác định rõ nhưng có thể biết được là sau năm 1287,khi Tuệ Trung Thượng Sĩ(TTTS) hoàn tất trách nhiệm nam nhi là giúp vua nhà Trần đánh tan quân xăm lược Mông-Nguyên. Tác giả và tác phẩm được xếp vào nền văn học thời thịnh Trần.
TTTS, như đã trình bày trong phần tiểu sử , có một cuộc sống rất đầy đủ. Ông không phải lăn lóc vật lộn với cuộc sống hằng ngày như một số thi nhân khác. Ông thăng quan tiến chức một cách nhanh chóng do tài năng của mình , bên cạnh đó là gia tộc quyền quý, tạo cho ông uy tín đựơc vua khen ngợi, coi trọng như thầy. Ông lại là người dấn thân tham gia trực tiếp vào binh lữa, chống ngoại xăm, nên có nhiều suy nghĩ về cuộc sống khác hẳn với quan lại trong triều.

Ông sớm từ giã quan trường để lập thiền viện Dưỡng Chân Trang tu Phật pháp. Những khi nhà rỗi ông đi ngao du sơn thủy , mà thích nhất là đi bằng thuyền. Đặc biệt ông đi một mình bằng thuyền độc mộc vượt qua sông suối ghềnh thác mênh mông. Sở thích nầy ông mơ ước từ nhỏ, mãi về sau , khi làm xong bổn phận nam nhi ông mới thực hiện mộng ước của mình, ông nhũ thầm thời gian sao nhanh quá như tên bay như thoi đưa, mới đó mà ta đã già :
Hồ hải sơ tâm vị thuỷ ma,
Quang âm như tiễn hựu như thoa.
(Tấm lòng hồ hải trước đây chưa từng bị tiêu mòn, 
Thời gian vun vút như tên lại như thoi).
TTTS đã nhận ra đựoc cuộc đời ngắn ngủi của kiếp nhân sinh mà đời nầy là cõi tạm.
Còn Nguyễn Công Trứ ( 阮公著, 1778 – 1858), cảm thán:
“ Ôi ! Nhân sinh là thế, như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao…”
Và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì:
“ Ta nay ở trọ trần gian, mai kia về chốn xa xôi cuối nguồn”
TTTS có một cuộc sống sung túc nên khi đi du ngoạn đó đây ông không bận tâm về hao tốn, thiếu thốn. Sự sung túc khiến ông phấn chấn tinh thần nhất là những đêm trăng thanh gió mát ngồi uống rượu hoặc trà rồi ngâm thơ thì tuyệt biết chừng nào! trái hẳn với cái nghèo của Nguyễn Công Trứ, thuở hàn vi, được miêu tả như sau:
“Bốn vách tường mo,
Ba gian nhà cỏ .
Đầu kèo mọt đục vẽ sao,
Trước cửa nhện giăng màn gió .
Phên trúc ngăn nửa bếp nửa buồng,
Ống nứa đựng đầu kê đầu đỗ…
(Hàn nho phong vị phú/ Nguyễn Công Trứ)
Còn đối với Cao Bá Quát , cảnh nghèo còn thê thảm hơn nhiều nên chắc ông không có hứng thú để chèo thuyền du ngoạn ngắm hang động:
“Lều nho nhỏ kéo tấm tranh lướp tướp, ngày thê lương hạt nặng giọt mưa sa;
Đèn cỏn con co chiếc chiếu loi thoi, đêm tịch mịch soi chung vừng trăng tỏ …
(Tài tử đa cùng phú/Cao bá Quát)
Cảnh non xanh nứơc biếc hữu tình gợi cho TTTS tình cảm thiết tha yêu mến quê hương đất nước :
Thanh phong minh nguyệt sinh nhai túc,
Lục thuỷ thanh sơn hoạt kế đa.
(Gió mát trăng thanh, sinh nhai đủ,
Non xanh nước biếc, kế sống dồi dào).
Khắp nước Việt Nam nơi nào cũng có nhiều danh lam thắng cảnh. Sáng sớm TTTS quải thuyền con ra bến sông, đưa thuyền xuống nước, chèo lướt qua hang động, đâm ra cửa sông lớn, rộng mênh mông mờ sương khói của buổi ban mai hay len lỏi qua ghềnh thác dưới màng nước đổ. Ban chiều ngồi trên thuyền , cầm ngang chiếc sáo trúc thổi vi vu đùa cùng khói sóng mù mịt trên sông:
Hiểu quải cô phàm lăng hãn mạn,
Vãn hoành đoản địch lộng yên ba.
(Buổi sớm, kéo cánh buồm cô đơn băng mặt nước mênh mông,
Chiều hôm, cầm ngang chiếc sáo ngắn, đùa với khói sóng).
Với quan Tư đồ Trần Nguyên Đán 陳元旦(1325-1390), ông thưởng thức thú vui bằng cách đi thăm núi Chí Linh có đỉnh Phượng Hoàng miền Bắc Việt Nam :
雙鳳悠然望杳冥
鳳凰萬古愛芳名
(Song Phượng du nhiên vọng liểu minh,
Phượng Hoàng vạn cổ ái phương danh).
(Tạm dịch: Từ xa thấy thấp thoáng đỉnh Song Phượng mịt mù
Núi Phượng Hoàng nổi tiếng từ ngàn xưa).
Tác giả giới thiệu phong cảnh núi Chí Linh, nhìn từ xa, trông thật hùng vĩ, có đỉnh Song Phượng sừng sửng giữa khung trời bao la mây phủ mịt mù bao trùm cả đỉnh. Đứng trước cảnh hùng vĩ của đất trời, con người trở nên nhỏ bé lạ thường. Núi Phựợng Hoàng là một danh lam thắng cảnh của Việt Nam đã nổi tiếng tự ngàn xưa vì vẻ đẹp của nó.
Tiếp theo cũng trong bài nầy, Trần Nguyên Đán tả cảnh hùng vĩ của ngọn tháp Lân Phong:
麟峰塔倒如虹影
鱉水泉鳴作雨聲
(Lân Phong tháp đảo như hồng ảnh,
Miết Thuỷ tuyền minh tác vũ thanh)
(Tạm dịch: Tháp trên núi Lân Phong nghiêng xuống như bóng cầu vồng,
Suối Miết Thủy chảy róc rách tựa tiếng mưa rơi).

tranh nhàn2
Hai câu thơ thật xuất sắc khi tả ngọn tháp Lân Phong cao vút trong cảnh trời chiều, bóng nó nghiêng, đổ xuống như chiếc cầu vồng tuyệt đẹp của môt bức tranh thủy mặc. Nhìn xuống thung lũng thấy suối Miết thủy chảy róc rách tựa tiếng mưa rơi. Hai câu thơ vừa có hình ảnh vùa có âm hanh thật tuyệt vời. Nghệ thuật tả cảnh thật điêu luyện khiến người đọc cảm thấy như mình đang đứng trước cảnh núi non hùng vĩ, tai nghe tiếng suối reo chảy quanh đây.
Tới đây xin được nói qua về thú hưởng nhàn của nhà thơ Vương Duy 王維 (699-759) thời Thịnh Đường bên Trung Quốc khi ông từ quan về sống ẩn dật nơi quê nhà, vì cuộc đời ông nầy có nhiều điểm giống Trần Nguyên Đán. Trong một lần ngao du sơn thủy, Vương Duy dùng thuyền băng qua sông Hoàng Hoa (giống cách tiêu khiển của TTTS) để tiến vào vùng suối nước Thanh Khê. Ngồi trên phiến đá phẳng lì, ông ngắm dòng suối trong vắt cạnh rừng thông vắng lặng, sâu hun hút trong màn sương rồi buông cần câu chờ thời vận, cũng để quên hết sự đời.
Trở lại bài thơ của TTTS, hai câu kết:
Tạ Tam kim dĩ vô tiêu tức,
Lưu đắc không thuyền các thiển sa.
(Tạ Tam nay đã không còn tăm hơi gì nữa,
Chỉ còn lưu lại chiếc thuyền trống không, ghếch mình lên bãi cát).
Chiều tàn rên bãi vắng , TTTS chợt nhớ tới Tạ Tam , không biết bây giờ ra sao? Người còn đó hay đã về với cát bụi? Lâu rồi không còn nghe tin tức !
Còn lại nơi đây chỉ là chiếc buồm trống không rách nát ghếch đầu trên bãi cát buồn thiu !
Khi tuổi về chiều tác giả nhìn về quá khứ thấy mình đã hưởng đủ mọi thứ vui vật chất cũng như ngao du đó đây nên cảm thấy không còn gì luyến tiếc hay ước mơ nữa. Tất cả đã đi qua như một giấc mộng, tác giả cảm thấy lòng se thắt ngậm ngùi. Nỗi buồn hiu hắt còn đọng lại trong 2 câu thơ cuối:
Tạ Tam giờ tìm đâu thấy
Chỉ thấy thuyền không gác bãi nông”.

Dịch thơ:
1/ Vui thú sông hồ
Mộng hải hồ lòng vẫn ước mong
Tháng ngày vun vút lướt qua song
Trăng thanh gió mát sinh nhai đủ
Nước biếc non xanh lạc thú cùng
Sáng kéo buồm côi băng sóng cả
Chiều nâng sáo ngắn đuổi mây lồng
Tạ Tam nay đã tăm hơi biệt
Thuyền trống nằm trơ ghếch bãi nông.
(Nguyễn Cang)
 


2/ Bản dịch của Nguyễn Tấn Hưng:



Ước mơ hồ hải nặng bên lòng, 


Ngày tháng thoi đưa những uổng công.


Gió mát trăng trong sinh kế đủ 


Non xanh nước biếc thú vui cùng.


Sớm tếch buồm côi sông nước rộng


Chiều nâng sáo nhỏ khói mây lồng.


Tạ Tam nay đã tăm hơi bặt


Thuyền rạn nằm trơ gối bãi nông.
3/ Phỏng dịch:
Tuổi xanh trăng hồ hải
Bây giờ tóc muối tiêu
Còn có chi mơ nữa?
Tương cà chỉ bấy nhiêu!
Sáng lênh đênh thuyền liễu
Chiều nổi sáo trong sương
Tìm Tạ Tam đâu thấy
Chỉ thấy thuyền không gác bãi nương.
(V. Ng)
Nguyễn Cang

(25/10/2017)



Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s