Việt vị-Hồ Đình Nghiêm

tạp bút

logo-con-bo-cu%cc%9bo%cc%9bi

Việt vị

HoDinhNghiem
Hồ Đình Nghiêm

người lính ưu tư

Thập niên 80, do thời thế, do có điều kiện tự do, ở hải ngoại đã hình thành ra được một đội ngũ đông đảo người cầm bút. Lắm nhà phê bình lạc quan xem đó là một tựu thành đầy khởi sắc, đầy hưng phấn khởi đầu cho nền văn học của cộng đồng người Việt lưu vong. Sau đó chẳng mấy lâu, trên các trang tạp chí thuần về văn học nghệ thuật có đăng tải một số ý kiến, rằng “e có lúc quý vị chớ nên đào sâu vào đề tài trại tù cải tạo, thuyền nhân vượt biển hoặc đời sống ở trên những đảo, những trại tỵ nạn”.

Hằng tháng tôi có gửi bài đến hầu hết các tạp chí và dĩ nhiên tôi hơi bị choáng váng. Do đâu người ta có lối suy luận trái khuấy và sai lạc đến vậy? Tù cải tạo. Thuyền Nhân là một vết thương mãi còn đó sự nhức buốt. Là một ám ảnh khó dứt bỏ riêng cho người Việt từng sống sót qua cơn hồng thuỷ. Nó chẳng khác gì khi nhìn về ngày 30 tháng Tư, con số ấy tự động kéo trí nhớ bạn trở lui những tháng ngày tăm tối, rồi bạn tự hỏi: Do đâu mà có hơn 1 triệu người Việt bỏ nước ra đi, có nửa triệu linh hồn bất hạnh không siêu thoát mãi chịu lạc lối dật dờ trên biển Đông. Tôi nghĩ thầm, có thể lỗi lầm nằm ở phía người viết, trong đó có tôi, đã không đủ tài sức để chuyển tải được thảm trạng kia bằng giấy trắng mực đen, cứ thường thường bậc trung, chả ấn tượng khiến người đọc “ớn tới tận cổ”? Tìm cái gì vui vui coi, chuyện sang đây mần ăn thành đạt ra sao. Con mẹ ấy ra toà vì tội uýnh con riêng của chồng. Khai trương phòng mạch tặng thân chủ trong ngày bao gạo, sang ngày sau thì chai nước mắm. Ừ, nhiều chuyện xoay quanh vấn đề hội nhập “ngộ” lắm kìa, đọc chuyện buồn mấy ổng kể xuống tinh thần lắm!

“The Vietnam War” có thể rơi vào vấn nạn y như vậy không? “You don’t remember, I’ll never forget”. Chiến tranh Việt Nam, nghe tới bốn chữ ấy tự khắc nghĩ về sự oan khiên nhuộm bi phẫn dưới bầu trời đầy bom rơi đạn lạc, máu me cả trong những ngộ nhận vì khác chiến tuyến và về cái nhìn bị bưng bít cách nửa quả địa cầu. Đồng Minh tháo chạy. Họ không chỉ chạy một hai lần. Chạy trên mặt trận và chạy trên phương tiện truyền thông: Báo chí cũng như phim ảnh.

Những ngày qua, Bắc Hàn đã thử nghiệm thành công khi bắn đi hoả tiển tầm xa bay qua bầu trời Nhật Bản. Hải quân Trung Cộng luôn lộ ý đồ làm chủ biển Đông, thong dong đi vào hải phận Việt Nam như kiểu Triệu Tử Long một mình một ngựa một thương, như cách Quan Công qua ải chém 6 tướng (hai nhân vật tưởng tượng do họ nặn ra)… thì hôm 17 tháng 9 đài truyền hình PBS cho công chiếu “The Vietnam War” dài 10 tập với thời lượng là 18 tiếng. Đã im tiếng súng hơn 40 năm và hôm nay hai “ông anh bà con” Cộng Sản châu Á đang hăm he điệu võ dương oai. Thời chiến tranh Việt Nam, Trung Cộng đã chí tình giúp đỡ người em phương Nam dành thắng lợi, vậy em còn nhớ tới tình anh đã trao? Còn nhớ đấy nhỉ? Môi hở răng lạnh nhỉ? Vậy thì anh xâm phạm chút xíu nào có hề hấn gì đâu nhỉ? Mai nầy có thêm phim nhiều tập “Vietnam War” do Trương Nghệ Mưu làm đạo diễn không nhỉ? Khi ấy lãnh đạo Cần Thơ có dõng dạc trước ba quân: “Đánh cho tới rách cái quần bò cũng đánh. Ngộ tả nị. Có nhất trí không bà con? Thằng Mỹ hoành tráng còn cút huống hồ thằng Tàu khựa ưa chảnh”. Và người thuyết minh e dè đọc lời thoại, nhắc lại câu tuyên bố của vị tướng năm nào: Dùng bộ binh đánh trên đất liền thì chưa rõ ai thắng ai, nhưng phải thú nhận là hải quân Trung quốc thuộc dạng siêu khủng, hiện đại tối tân hơn ta cả vạn lần.

Theo quảng cáo rầm rộ, tôi vào đường dẫn “pbs.org/vietnamwar” nhưng màn hình hiện ra dòng chữ: “Rất tiếc, chúng tôi không phát sóng video này tới địa phương bạn ở được”. Canada sát biên giới mà! Tình hữu nghị đời đời bền vững sao hành sử kiểu đó? Không xem phim thành ra chẳng biết nói năng chi, viết tản mạn kiểu này là vin vào những thông tin mượn từ nguồn BBC và VOA. Bạn cho hay, sao ông không vào youtube mà xem, dài miên man có cả phụ đề Việt ngữ. Nói muộn thế. Thôi đành viết trước xem sau, bởi sợ xem rồi, ắt phải hậm hực, phải đè nén bất bình thì khi ấy cái viết sẽ đi lan man lạc hướng.

huế mậu thân 5

Đầu tiên phải nên hiểu điều cơ bản, là khi thực hiện một cuốn phim tài liệu chứa đựng nhiều vấn đề lịch sử, thì nhóm làm phim (thủ lãnh là hai vị Ken Burn và Lynn Novick) phải cố cung cấp một cái nhìn có tính khách quan, trung thực. Soi rõ nhiều góc cạnh, đứng ở nhiều vị trí khác nhau. Thu thập nhiều nguồn thông tin để đối chiếu mới thuyết phục được điều mình trình bày là xác đáng. Hơn ai cả, người làm phim nhiều kinh nghiệm như ông Ken Burn đã thủ đắc điều ấu trĩ ấy và dường như ông cũng xem đó là cẩm nang khi hành sự.

Vậy mà hôm 25 tháng 8 có diễn ra buổi trình chiếu phim ở Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ đặt tại Sài Gòn (có mặt nữ đạo diễn Lynn Novick). Số đông khán thính giả tham dự đều trẻ tuổi (có thể sinh vào thời điểm 1975 hoặc trở về sau và có thể thông thạo Anh ngữ). Một đôi người dong tay xin được phát biểu ý kiến sau khi xem từng trích đoạn quan trọng, đã khiến bà Lynn Novick thực sự bối rối:

– Tại sao xem xong, tôi chỉ thấy những nhân vật được phỏng vấn đến từ miền Bắc Việt Nam? Như vậy tiếng nói của người miền Nam có được quan tâm trong phim không?

Khán phòng im lặng.

– Một cuộc chiến luôn được viết và giới thiệu bằng cái nhìn hằn học và rạn vỡ từ cả hai phe, nơi chúng tôi học trong sách giáo khoa về một miền Nam “bù nhìn”, dơ dáy, bẩn thỉu, đàng điếm; hoặc đọc trên mạng về một miền Bắc đói kém, sĩ diện, ngu xuẩn và tàn bạo”.

Khán phòng im lặng.

– Tôi nghĩ bộ phim phải có tên là “American War” mới đúng, chứ sao lại là “Vietnam War”?

Đại diện đoàn làm phim câm lặng.

Phần được chiếu trong khán phòng Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ có ghi hình ông Bảo Ninh cùng câu nói: “Chiến tranh không ai thắng ai thua hết. Những ông không bao giờ đánh nhau mới bàn luận ai thắng ai thua…”

Ông này tình nguyện vào bộ đội năm 17 tuổi, được điều vào chiến trường Tây nguyên và đã viết được cuốn “Nỗi Buồn Chiến Tranh” dựng đặt nhiều chi tiết sai lạc nếu không muốn nói là bôi nhọ quân đội miền Nam tàn ác, mang đầy thú tính. Hung hăng là thế mà giờ đây sao phát ngôn linh tinh kiểu mất lập trường đến vậy? Mỹ thua ta thắng, trẻ quàng khăn đỏ cũng biết rõ mười mươi chuyện ấu trĩ ấy. Ta thắng một cách đúng quy trình và hơn 40 năm qua, băng-rôn cùng pa-nô dựng đầy trên mỗi góc phố vẫn mới một cách cực đoan ca ngợi chiến thắng thần thánh kia. Cờ búa liềm vẫn bay, cho dù có mưa sa trên mầu cờ đỏ trẻ con vẫn thuộc nằm lòng: Bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Phải ở bên thắng cuộc anh mới ngông nghênh vậy, chứ anh mà thua hả… Mượn ý thơ Cao Tần nhé: “Lùa cả nước vào trại cải tạo, học tập thương yêu”.

Bảo Ninh

Thắng hoặc thua, chẳng thể vin vào con số tử vong để luận bàn: Quân đội Hoa Kỳ có hơn 58.000 bỏ mạng trên đất lạ (từ 1965 tới 1973) trong khi người Việt chịu hy sinh hơn 3 triệu người (thống kê này chưa tính tới những xác bị chôn vùi, không tìm thấy hoặc mất tích). Và báo cáo tổn thất ấy chỉ kiểm kê sau khi kết thúc chiến tranh. Giờ đây cả hai phía đang cố gắng xoá vết thương đau ngày cũ. Tháng 4 năm 2016, 11 cựu pilot của US Air Force đã bay sang Hà Nội gặp gỡ địch thủ Cộng sản cuồng tín năm xưa. “Bánh ít trao đi bánh quy trao lại”, ngày 21 tháng 9, 2017 vừa rồi Trung tướng Nguyễn Đức Soát dẫn phái đoàn, cũng 11 cựu phi công Bắc Việt lòng mở hội sang tới San Diego, bang California để tương phùng “bạn cố tri”. Đại Tá Lê Thanh Đạo hể hả: “Chỉ mới một năm không gặp thôi mà đã thấy nhớ rồi!”. Thậm tình cảm kiểu tiểu tư sản, mặn mà có duyên. (Nếu ông này làm được thơ như Đồng Đức Bốn hẳn đã ngôn: Em bỏ chồng về ở với tôi không?) Không khí trong khán phòng bảo tàng hàng không mẫu hạm USS Midway hôm ấy coi bộ vui vẻ gắt. Đại Uý phi công John Cerak chỉ tay về phía Trung Tướng Nguyễn Đức Soát (nay đã 72 tuổi, người có thành tích bắn rơi 6 máy bay Mỹ), khôi hài: “Chúng tôi đang bay qua không phận Lào, chuyển hướng về phía Đông, liên tục dùng radar rà soát thì đột nhiên, ông Nguyễn Đức Soát đây đã phá hỏng một ngày đẹp trời”.

Đại Tá không quân Bắc Việt Lê Thanh Đạo: “Những người ném bom không có lỗi, kẻ gây ra chiến tranh mới có lỗi”.

Cựu Đại Uý không lực Hoa Kỳ John Cerak: “Chiến tranh là thứ ngu xuẩn nhất loài người từng làm”.

phi công Mỹ và phi công VC

Đại Uý Clint Johnson: “Tôi không bao giờ ghét kẻ thù, cả hai đều làm những điều mà chúng tôi nghĩ là tốt nhất. Người Mỹ muốn ngăn cản sự lan rộng của chủ nghĩa Cộng sản, còn người Việt chỉ muốn thống nhất đất nước, chẳng thể tranh cãi gì được với thứ sứ mệnh như thế”.

Đại Uý Hải quân Jack “Fingers” Ensch: “Nhà tù nhỏ nhất thế giới là giữa hai tai anh. Nếu anh cứ tiếp tục căm thù thì họ cũng vẫn cách xa nửa thế giới. Họ không biết anh đang nghĩ gì về họ, hận thù họ hay những thứ tựa thế. Họ tiếp tục với cuộc sống của mình. Nếu anh vẫn hận thù thì anh vẫn bị giam cầm”.

Buổi giao lưu thật rôm rả giữa những quý ông chẳng mấy khi được nói thánh nói tướng. Không rõ có bao nhiêu người tham dự và có quý ông nào từng chong mắt xem phim “The Vietnam War” đã công chiếu từ hôm 17 tháng 9 trên kênh đài uy tín PBS? Lỗi lầm có thể không nằm trong cái nhìn hạn hẹp của họ, người Mỹ chẳng hề biết tới thứ mấu chốt quan trọng, rằng đối phương chưa bao giờ dám nhìn thẳng vào sự thật, luôn tìm cách che đậy và dấu diếm, vì thế bàn về chiến tranh Việt Nam vẫn chỉ là lột truồng được tấm áo khoác ra mà bỏ quên phía sau lưng còn nguyên một vết thương chưa lành miệng. Họ từng nghe nhạc phản chiến của Bob Dylan nhưng họ chẳng thông hiểu ca từ “Cần gì tới nhân viên dự báo thời tiết mới biết được chiều gió”.

Phía Cộng sản Việt Nam thì khác, mọi người phải luôn chấp hành, tuân thủ, nghe theo “nhân viên đài khí tượng” bảo ban, dạy dỗ. Trong chiến tranh cũng như thời bình. Khi được hỏi cảm tưởng về bộ phim “The Vietnam War”, bà Lê Thị Thu Hằng, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Việt Nam cho hay: “Đây là cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam, mang tính chính nghĩa, phát huy được truyền thống sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, được bạn bè và nhân dân thế giới hết sức ủng hộ. Chính vì thế đã đi đến thắng lợi cuối cùng và thống nhất đất nước”.

42 năm trôi qua, lời nói kia “vũ như cẩn”, thứ bài bản đã soạn sẵn từ hồi “đại thắng mùa Xuân”. Chẳng mong tìm nhặt một thông điệp nào khả dĩ mới cho xứng tầm thời đại. Cũng nên thông cảm cho bà ta, không riêng bà, “tai to mặt lớn” Việt Cộng đều có cách phát ngôn na ná nhau cả. Họ không màng tới “một bộ phận không nhỏ” người Việt vì yêu chuộng tự do đã bị mang bản án “phản bội tổ quốc” sống rải rác ở năm châu bốn bể. Khúc ruột ngàn dặm ấy hẳn không thích săm soi lại vết thương ngày cũ, nhất là những cựu quân nhân, những đơn vị thiện chiến oai hùng ngày nọ, bởi họ nghĩ họ đã bị phản bội khi ngồi xuống chiếu bạc và được chi trả bằng bạc giả. Những lá bài được đánh dấu sẵn và hệ quả tất yếu diễn ra, họ đã cháy túi.

lính Mỹ1

Tôi sẽ dọn lòng thanh thảnh để vào youtube xem phim 10 tập “đình đám” nọ. Có thông tin dạo đầu rằng: Đoàn làm phim đã bỏ ra 10 năm để cốt làm cho ra đầu ra đũa và “10 năm tình cũ” đã vấp phải nhiều thiếu sót, chưa đạt yêu cầu. Vô tình họ tô mới lại nước sơn: “Sự can thiệp của người Mỹ là bước đi sai lầm nghiêm trọng, dẫn tới bao hệ luỵ làm nên nỗi tủi nhục không tài nào gội rửa”.

Tôi yêu Canada. Nơi từng gửi quân tình nguyện qua giúp Việt Nam, và cũng là nơi trong thập niên 60 đã đón nhận những thanh niên Mỹ hèn nhát, trốn chạy khi sợ phải cầm súng qua chiến đấu ở “Đồi Thịt Băm”. Tôi yêu Canada, nơi quốc hội thông báo: Chúng tôi xem ngày 30 tháng 4 của cộng đồng Việt Nam là nỗi đau thương cần được sự chia sẻ. Cờ vàng ba sọc đỏ từng bay trên thủ đô Ottawa đầy gió an lành. Ai thắng ai thua? Ở một mặt nào đó, những người từng đánh đổi tất cả để làm cuộc bỏ phiếu bằng chân đã thắng. Hữu Thỉnh viết thư mời Phan Nhật Nam về Hà Nội cũng là một trong muôn ngàn lý giải về sự thắng thua vậy.

Hồ Đình Nghiêm
24.9.2017

 

Việt vị (2)

 

 

Hồ Đình Nghiêm

Cách đây mấy hôm, khi bài “Việt Vị” của tôi được đi trên trang Sáng Tạo, một số người đọc đã đồng cảm và chia sẻ. Một chị, có thể vì không am tường môn football (bóng đá) đã thắc mắc: Có ý gì khi dùng chữ “mơ hồ” ấy làm tựa đề? Thưa chị, Việt vị là một lỗi lầm trong luật chơi của môn đá banh, tiếng Anh gọi là Offside, tiếng Pháp thì kêu là Hors-jeu. Tiền đạo xuống sâu hơn vị trí của hậu vệ đối phương trước khi banh được chuyền giao thì trọng tài biên sẽ phất cờ báo: Lỗi việt vị. Thời bé, bọn nhóc chúng tôi thì dùng chữ: Đồ ham ăn cơm cháy. Lớn chút nữa (có thể do thời cuộc tác động) đã gọi mấy tên ưa “lấn đất” ham ghi bàn đó là dân nằm vùng. Nếu chị thấy chưa đạt thì xin hiểu sang một nghĩa khác. Việt vị là phong vị của người Việt.

Ngỡ đã chấm hết, tưởng đã “point final” ai dè lòng này vẫn còn tham, sân, si. Đôi khi trên sân cỏ đã có những tình huống làm thủng lưới đối phương dù mắc phải lỗi việt vị. (Bôi trơn trọng tài biên? Hậu vệ hoặc thủ môn lỡ bán độ?) Phim “The Vietnam war” dài 10 tập thì đoản văn có nhảy sang hồi 2 ắt cũng xin được lượng thứ cho.

Trong cuốn Hồi ký của cựu Đại Tướng William C. Westmoreland, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam có trích dẫn một đoạn thơ của Rudyard Kipling (được phỏng dịch):

trận chiến tàn, thây vùi dưới mộ
mang tên tuổi của người xấu số:
“đây là nơi thằng khờ an nghỉ
vì đã cố lết về phương Đông”.

nghĩa trang Biên Hoà

Để làm rõ nghĩa, ông viết: “Theo ý kiến tôi thì một nền hoà bình sớm sủa cho Đông Dương chỉ là ảo tưởng. Tôi tin rằng một cuộc ngưng bắn có thể tồn tại được là điều không thực tế…” Trong nhiều bất lợi dẫn đến tình hình rối loạn ở quê nhà, ông không quên đổ thừa vào vai trò bọn phóng viên báo chí: “Vài cây viết bình luận dữ dằn nhất là những nhà báo ở tại Hoa Kỳ mà không bao giờ đặt chân tới Việt Nam, tiêu biểu cho số này là biên tập viên John Oakes của tờ New York Times… Một số qua Việt Nam chỉ để chui vào trong các trại lính nói chuyện nhảm với mấy tay lười biếng và lượm lặt vài tin đồn rồi về đăng báo y như chuyện có thật”. Kết luận, ông đã trích dẫn lời của Napoleon: “Chỉ ba tờ báo quá khích đã đáng sợ hơn cả ngàn lưỡi lê của địch”.

Một đoạn khác: “Tôi không nói đến những kẻ đã đốt thẻ quân dịch, đốt quốc kỳ và chiếm Ngũ Giác Đài, đi biểu tình mà cầm cờ địch tới lui dọc đường phố, xúi giục kẻ khác vi phạm pháp luật, trốn tránh trách nhiệm và vượt quá giới hạn của lý lẽ để hiểu thế nào là công bằng. Không ai chối cãi được rằng chính những kẻ ấy mới làm cho cuộc chiến kéo dài thêm”. (Nguồn: “A Soldier’s Report” của William C. Westmoreland. Duy Nguyên chuyển ngữ. Nxb Thế Giới. San Jose, CA).

Những gì Tướng Westmoreland chân tình thổ lộ trong cuốn “Bản Tường Trình Của Một Người Lính” đã thế cho giải thích, tại sao một tên nhà giàu lại đi thua một đứa nghèo rớt mồng tơi? Nhưng cuốn hồi ký giá trị nầy chẳng phải là nguyên cớ khiến tôi “mần” thêm Việt Vị 2. Tôi tiếp tục “xỏ giày ra sân” chỉ vì vừa đọc thấy trên trang Văn Việt hôm 26 tháng 9, 2017 có bài phỏng vấn của RFI dành cho nhà văn Nguyên Ngọc- nguyên là Sĩ quan trong quân đội Bắc Việt, cũng là một trong những người góp mặt trong bộ phim “The Vietnam War”. Ông chia sẻ: “Khi nói rằng nước Mỹ chưa ra khỏi chiến tranh Việt Nam, nhiều người, kể cả tôi, đã nghĩ rằng đó là một điểm yếu của nước Mỹ. Nhưng xem phim này thì tôi thấy hoá ra đó là cái mạnh của nước Mỹ. Đấy là một quốc gia luôn luôn nhìn trở lại và đặt câu hỏi về quá khứ, về cuộc chiến tranh của mình, về những gì mình đã làm trong suốt cuộc chiến tranh đó. Sức mạnh của nước Mỹ chính là luôn luôn biết tự đặt câu hỏi về quá khứ của mình… Đã hơn 40 rồi, khi mà nói về chiến tranh này, bởi vì Việt Nam là người thắng cuộc, nên ta thường nói theo chiều hướng khẳng định và ca ngợi nó. Còn cuộc chiến tranh đó đem lại những gì cho đất nước này, kể cả mặt tốt và mặt tàn phá của nó, tàn phá về cả vật chất lẫn tinh thần, thì chưa bao giờ được đặt ra một cách nghiêm túc. Riêng tôi là một người làm nghệ thuật, tôi ao ước Việt Nam có thể có một bộ phim tài liệu theo kiểu như vậy. Giá như Việt Nam cũng tự hỏi mình như thế. Theo tôi đó là điều cần thiết”.

nghĩa trang Trường Sơn

Khi được hỏi cảm nghĩ về trận Tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, đặc biệt xẩy ra ở Huế, nhà văn Nguyên Ngọc trả lời: “Trong chiến dịch Mậu Thân 1968 thì Huế là thành phố mà đánh vào được và chiếm lâu nhất. Do chiếm lâu nhất và tưởng là giải phóng hẳn rồi và đã lập chính quyền, cho nên các cơ sở bí mật trong thành phố đều xuất hiện hết, bộc lộ ra hết. Sau đó, lực lượng chiếm thành phố bị đối phương vây trở lại và phải mở đường máu mà ra. Trước đó, khi vào chiếm Huế, người ta đã bắt những người bị cho là cộng tác với Mỹ, với chính quyền miền Nam. Trong số đó có thể có những người đúng là có làm cho Mỹ và chính quyền miền Nam, và cũng có thể có những người phạm những tội ác với những cơ sở hoặc là những người theo cách mạng ở Huế. Nhưng cũng có thể có những người bị bắt nhầm và thậm chí cũng có thể có những người bị bắt chỉ vì thù hằn riêng tư. Cho đến khi bí quá, rút ra không được, nếu thả những người này ra thì tất cả những cơ sở bí mật được chuẩn bị bao nhiêu năm, bây giờ bộc lộ ra hết, nếu thả những người bị bắt ra thì họ sẽ chỉ điểm số người hoạt động bí mật. Trong tình thế như vậy, người ta đã có chủ trương giết những người đó. Tôi không trực tiếp ở đấy và cũng không biết cái lệnh đó là từ ai. Nhưng trong phim tôi có nói, đấy là một vết nhơ, một vết đen trong cuộc chiến tranh, về phía Việt Nam”.

Sự thành thật của ông Nguyên Ngọc tin được mấy phần? Với vai trò một cựu sĩ quan từng tham chiến ở địa bàn Quảng Nam, với tư cách của một người cầm bút- một nhà văn nổi tiếng- ông có thể biết thực hư về cái “vết nhơ” kia, chỉ đơn giản bằng cách gọi Nguyễn Đắc Xuân để tỉ tê tâm sự, hẳn ông cũng nắm bắt được một vài thông tin cần thiết. Nguyễn Đắc Xuân nón tai bèo mang dép râu đeo băng đỏ nắm AK-47 có mặt ngay từ đầu cuộc tổng tấn công và làm chủ khu vực Thành Nội Huế. Người đã trao tư liệu chính mình ghi chép về những người giữ cờ ở Huế cho Hoàng Phủ Ngọc Tường để viết nên bút ký “Ngôi Sao Trên Đỉnh Phu Văn Lâu” (xuất bản 1971).

Nếu ông Nguyên Ngọc không thích “đi đêm”, không muốn nhắc lại quá khứ đau thương (điểm này ông tự nhận là thua người Mỹ) thì lạ kỳ thay, nhận được chỉ thị nào từ trung ương mà Nguyễn Đắc Xuân, sau hơn 40 năm vẫn câm như thóc. Sau 1975, ông soán đoạt, cưỡng chiếm (ngoài ta dùng chữ tiếp thu) toàn bộ tủ sách quý của thầy Phan Văn Dật và nghiễm nhiên trở thành nhà Huế học (nhờ đọc thiên kinh vạn quyển?). Một nhà Huế học, tuy nói giọng Quảng Nam nhưng nặng tình với cố đô, nhất là tuổi nay đã thuộc loại cổ lai hy, tiếc gì ông không thắp nhang, dọn lòng để ghi lại bao sự việc mà thường dân vô tội ở Huế phải chịu đoạ đày trong địa ngục năm xưa. Viết hết ra giấy, bạch hoá những uẩn khúc chất chứa trong lòng bao năm mãi dằn vặt chịu tiếng thị phi, đó không phải là một cách giải thoát theo kiểu “Buông đao xuống có thể thành Phật”? (Giải phóng người ta thì mau lẹ mà tự giải phóng mình thì bất khả?). Bắt chước thằng giặc Mỹ kìa, nó mới làm bộ phim nhìn nhận hết những sai trái nó từng để tay nhúng chàm. Trong phim “The Vietnam War” kể về trận Mậu Thân- Nguyễn Đắc Xuân có xem chăng?- đã có thằng Mỹ khi đi giải toả thành phố Huế đã tức cảnh sinh tình: “Ôi thành quách nó đẹp nhường ấy, thành phố thơ mộng thế kia sao chúng ta nỡ lòng nào đi phá huỷ chúng?” (Giặc xâm lược mà cũng có đứa biết tới chuyện bảo tồn bảo tàng, ngẫm mà đau đớn lòng!)

Ông Nguyên Ngọc ao ước Việt Nam sẽ thực hiện được một cuốn phim tựa thế. Mỹ mời ông lên phi thuyền dạo chơi cung trăng một chuyến e dễ tựu thành hơn sự hoang tưởng kia.

nghĩa trang quân đội Biên Hoà

Ngoài những bản nhạc bất hủ của ban C.C.R, lính Mỹ khi qua tham chiến ở Việt Nam vẫn thích nghe bài “We Gotta Get Out Of This Place” của nhóm Animals. Cầu thủ mà cứ phạm lỗi việt vị mãi cũng xấu hổ, e tôi xin được ra khỏi chốn này. Trước khi tạm biệt, bỏ công đi sao chép lại những “danh ngôn” nghĩ là thích hợp cho những nét ngang dọc trên, dùng thế cho một phụ bản:

“Trong phim ảnh: Kẻ xấu luôn bị loại trừ. Trong đời thực: Kẻ xấu mãi chiến thắng”.

Trong truyện Bố Già, nhân vật Michael (con của bố già) nói với thuộc hạ: “Mày có hiểu thấu nỗi đớn đau về sự bội phản không? Nó không bao giờ đến từ những kẻ thù nghịch mày”.

“Hãy nhớ, những gì bạn lỡ đánh mất rồi, có khi bạn sẽ thu nhặt được thứ khác. Thiếu bóng tối, bạn chẳng thể nào trông thấy những vì sao”.

Ngạn ngữ Phi Châu: “Nếu bạn muốn đi nhanh, hãy đi một mình. Nếu bạn muốn đi xa, hãy đi cùng chúng tôi”.

Ngạn ngữ A Phú Hãn: “Bạn có đồng hồ nhưng chúng tôi có thời gian”.

“Những người nếu không cảm thông được sự câm lặng của bạn, họ sẽ chẳng bao giờ hiểu được những lời bạn nói”.

Lời của William Shakespeare: “Yêu hay ghét tôi, cả hai điều ấy đều làm tôi thích thú. Nếu bạn yêu tôi, tôi luôn nằm trong tim bạn. Ngược lại, nếu bạn ghét, thì tôi mãi dính trong trí óc bạn”.

Lời của Winston S. Churchill: “Sợ hãi là phản ứng. Can đảm là sự quyết định”.

Lời của Mark Twain: “Sự tử tế là thứ ngôn ngữ mà người điếc có thể nghe, đứa mù có thể thấy”.

Và sau cùng, bao trùm tất thảy là câu nói “danh bất hư truyền”. (Tác giả là ai, mọi người đều biết; thậm chí ai cũng có thể điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa):

“Đừng nghe những gì_______nói, mà hãy nhìn những gì_________ làm”.

Xin hẹn gặp lại ở chốn nhân gian “có thể” hiểu nhau. Có còn bom rơi đạn lạc không nhỉ? Quang Dũng thơ: “Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa?”

Hồ Đình Nghiêm

 

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s