Thơ Việt hải ngoại :Du Tử Lê-Nguyễn Đức Tùng

logo thơ

THƠ VIỆT HẢI NGOẠI:

Du tử Lê3
DU TỬ LÊ
Nguyễn Đức Tùng1
Nguyễn Đức Tùng
Con người có nhiều khả năng hành động hơn khi mối quan hệ với người khác trở nên tốt đẹp, bền vững. Trong một xã hội ngày càng bận rộn, đông đúc, ít người nhận ra, như khi chỉ một mình và trong hoàn cảnh nguy hiểm, đời sống thực ra rất mong manh. Khởi đầu, gắn bó với người mẹ, lớn lên chúng ta xa rời cuống rốn, càng độc lập càng dễ mất dần cảm giác cần đến người khác. Cần thiết và sở hữu: bản chất của tình yêu. Vị tha, đánh mất, chỉ là những khuôn mặt khác. Thơ tình Du Tử Lê cố gắng nói về điều ấy. Nhưng anh không chỉ viết về sự mất mát, mà còn chúc tụng, bình phẩm, thương tiếc, hồi phục. Sống hai lần cho một tình yêu. Không ai lấy văn chương làm mục đích của kinh nghiệm sống, nhưng có những số phận đặc biệt ở đó dường như mọi diễn tiến của đời sống đều nghiêng một phía, về hướng vecteur của sáng tạo. Chữ đẹp và lạ, hình ảnh đặc sắc, nhạc điệu mới hoặc biến đổi, hầu hết trong thể thơ quen thuộc bảy chữ hay lục bát. Vì vậy thơ Du Tử Lê phổ biến. Nhiều tuyển tập thơ Anh ngữ có mặt anh. Thơ tình mà đầy lòng trắc ẩn, bạn bè, chiếu rọi ánh sáng vào giấc mơ, vào thân xác, vào nhục cảm. Đôi khi tình yêu nam nữ vượt qua chính nó, trở thành câu chuyện về đất nước. Quả thật anh viết nhiều đề tài, chiến tranh, sự khó nghèo, quê hương, bạn hữu, thậm chí những đề tài thân mật và ít gặp trong thơ Việt như gia đình, con cái, chi tiết lặt vặt. Vì sống là nhớ lại. Một người biến mất khỏi trí nhớ của một người khác, tức là đã chết. Đêm về theo vết xe lănTôi trăng viễn xứ hồn thanh niên vàngMột đất nước như một giấc mơ đã thất bại. Là một trong những nhà thơ lưu vong quan trọng nhất, bao giờ anh cũng tìm cách ra khỏi mình. Du Tử Lê say mê ngôn ngữ, say mê đời sống theo nghĩa sáng tạo, tái tạo và phá hủy của nó. Giữ một lập trường riêng biệt, anh tìm cách xuyên qua các ranh giới và các định nghĩa, không mệt mỏi đi tìm sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, thoát khỏi cái bóng của quá khứ chiến tranh máu lệ. Nhiều người làm thơ, càng viết càng yếu đi, tự lặp lại mình, nhưng giai đoạn sau 1975 ở hải ngoại, Du Tử Lê đi lên so với trước đó, bên kia mép rìa của trường thẩm mỹ cũ, và sự vận động này giữ nguyên tốc độ, ít nhất cho đến khi sức khỏe anh có vấn đề. Sau đó, sau một sự dừng lại ngắn, và sau những bài thơ tự lặp lại mình, anh tiếp tục viết, bền bỉ, mặc dù không còn tạo ra các bước ngoặt như ở giai đoạn cao nhất của thơ Du Tử Lê, khoảng những năm 80, 90. Lúc đó, thơ anh đạt đến tài hoa ngôn ngữ: nhiều đoạn, nhiều câu trở thành thí dụ mới, trong khi gắn bó với truyền thống vẫn biến đổi không ngớt. Về mặt thể loại, anh đóng góp cho thể lục bát, năm chữ, bảy chữ, tự do. Nhiều người nói về cách tân của anh, những xuống dòng, những ngắt nhịp, các dấu chấm, dấu phẩy, dấu gạch chéo. Điều ấy sẽ còn gây tranh cãi, và một số thể nghiệm của anh có thể sẽ không thành công, nhưng chắc chắn có một số khác đang được chấp nhận và kế tục, gần như trở thành chuẩn tắc mới của tiếng Việt. Khó có một nhà thơ cùng thời nào khác có những câu thơ được nhiều người nhớ tới, không phải chỉ vì các ca khúc mà chúng tựa vào, mà còn vì sự chia sẻ đối với lòng hoài niệm, đối với số phận dân tộc và sự kháng cự số phận ấy, chất trầm cảm và bi tráng của tình yêu, trong vẻ đẹp của một thứ tiếng nói, ngày ấy có lẽ tưởng sẽ mất, nhưng đã, sẽ không bao giờ mất.

ĐÊM, NHỚ TRĂNG SÀI GÒN

gửi Trần Cao Lĩnh

đêm về theo vết xe lăn
tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên vàng
tìm tôi đèn thắp hai hàng
lạc nhau cuối phố sương quàng cổ cây
ngỡ hồn tu xứ mưa bay
tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa
đêm về theo bánh xe qua
nhớ tôi Xa Lộ nhớ nhà Hàng Xanh
nhớ em kim chỉ khíu tình
trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
nắng Trương Minh Giảng lá hè Tự Do
nhớ nghĩa trang quê bạn bè
nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường
đêm về theo vết xe lăn
tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào ?

1978

CHẲNG CHIẾN CHINH MÀ CŨNG LẺ ĐÔI

Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
Chim về góc biển . Bóng ra khơi
Lòng tôi lũng thấp . Tâm hiu quạnh
Chẳng chiến chinh mà cũng lẻ đôi
Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
Buổi chiều chăn gối thiếu hơi ai
Em đi để lại hồn thơ dại
Tôi vó câu buồn sâu sớm mai
Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
Em còn gương lược dấu đường ngôi
Nằm mơ thấy tóc thơm vai hẹn
Và khoảng trời xanh đến rợn người
Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
Bàn tay dư mấy ngón chia phôi
(Tặng nhau chín ngón không đeo nhẫn)
Và những tàn phai đầy tuổi tôi
Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời
Như trời nhớ đất (rất xa xôi)
Nắng mưa nhớ mãi hàng hiên đợi
Thư nhớ hồi âm – Lệ nhớ môi
Chỉ nhớ người thôi sông đủ cạn
Nói gì kiếp khác với đời sau
Đôi khi nghe ấm trên da thịt
Như thể ai đi mới trở về

NHÌN NHAU CHỢT THẤY RA SÔNG NÚI

*gửi đào chí hồng, nguyễn quang minh, nguyễn ngọc chấn, ngọc hoài phương, trương trọng giác, nguyễn kim tiền, lê ngọc ngoạn, đào quý châu, phạm duy ánh và CVA 1956-1956 và các bạn diện tù cải tạo(H.O.?)

đón tù cải tạo

ba mươi năm lẻ ai ngờ được
tao với bay, giờ gặp tại đây
chiến tranh đã dứt nhưng thương tích
vẫn ở cùng tao, ở với bay
bay đã kinh qua địa ngục đời
từng nhìn binh biến giống trò vui
chiến xa, đại bác bay chơi nổi
bom ném ngang trời cũng được thôi
trận mạc ngày xưa còn chẳng ngán
nhằm nhò chi ít vỉ bia “cua”
cười khan những buổi đi “chà láng”
mà lại buồn so diện H. O.
nốc rượu nguyên đêm chờ được xỉn
ôi mái trường rêu: Chu Văn An
nhiều thằng “thăng” lúc còn hôi sữa
dăm tên đầu bạc kể hung hăng
đạn bom ngốn mất thời trai trẻ
cải tạo khơi khơi năm mười niên
ra tù mất vợ, con quay mặt
cười gượng ra điều ta vẫn … ngon
trong mắt bay nay vàng kỷ niệm
tao đầy gân máu nhớ quê hương
đêm đêm ác mộng còn truy kích
lạnh cẳng tao hầm nhất biển Đông
tụi bay muốn sống? –Quên cho lẹ!
mũ đỏ, đen gì … cũng đã xong
tao cam phận kiếm tô canh cặn
bay rồi cũng thế! Liệu nghe con
Xa trường mất xác giờ đâu khác?
xương bỏ quê người, cỏ cũng chê
chắc chi đã được như Tư Cóc
chết giữa quê hương, đắp mảnh cờ
Minh dê, Hồnng Trố tao mừng lắm
những tưởng không còn gặp tụi bay
đêm qua uống rượu con nhà Kiểm
thương bạn, tao thèm được khóc ngay
nhìn nhau chợt thấy ra sông núi
có chút gì nghe rất thốn đau
hẹn bay về chết trong tay mẹ
tổ quốc nghìn năm bỏ được sao?

4-1991

AI NHỚ NGÀN NĂM MỘT NGÓN TAY

gửi Nam Hải

tháng tư tôi đến rừng chưa khóc
mưa vẫn chờ tôi ở cuối khuya
có môi chưa nói lời gian dối
và mắt chưa buồn như mộ bia
tháng tư nao nức chiều quên tắt
chim bảo cây, cành hãy lắng nghe
bước chân ai dưới tàng phong úa
mà tiếng giầy rơi như suối reo
tháng tư khao khát, đêm vô tận
tôi với người riêng một góc trời
làm sao em biết trăng không lạnh
và cánh chim nào không bỏ tôi?
tháng tư hư ảo người đâu biết
cảnh tượng hồn tôi: một khán đài
với bao chiêng, trống, bao cờ xí
tôi đón em về tự biển khơi
tháng tư xe ngựa về ngang phố
đôi mắt nào treo mỗi góc đường
đêm ai tóc phủ mềm nhung lụa
tôi với người chung một bến sông
tháng tư nắng ủ hoa công chúa
riêng đóa hoàng lan trong mắt tôi
làm sao em biết khi xa bạn
tôi cũng như chiều: tôi mồ côi?
tháng tư chăn, gối nồng son, phấn
đêm với ngày trong một tấm gương
thịt xương đã trộn, như sông núi
tôi với người, ai mang vết thương?
tháng tư rồi sẽ không ai nhớ
rừng sẽ vì tôi nức nở hoài
mắt ai rồi sẽ như bia mộ
ngựa có về qua cũng thiếu đôi!
tháng tư người nhắc làm chi nữa
cảnh tượng hồn tôi đã miếu thờ
trống, chiêng, cờ xí như cơn mộng
mưa đã chờ tôi. mưa… đã… mưa
mai kia sống với vầng trăng ấy
người có còn thương một bóng cây?
góc phố đèn treo đôi mắt bão
ai nhớ ngàn năm một ngón tay?

New Orleans 1-5-84

Khúc thuỵ du

1.
như con chim bói cá
trên cọc nhọn trăm năm
tôi tìm đời đánh mất
trong vụng nước cuộc đời

như con chim bói cá
tôi thường ngừng cánh bay
ngước nhìn lên huyệt lộ
bầy quạ rỉa xác người
(của tươi đời nhượng lại)
bữa ăn nào ngon hơn
làm sao tôi nói được!

như con chim bói cá
tôi lặn sâu trong bùn
hoài công tìm ý nghĩa
cho cảnh tình hôm nay

trên xác người chưa rữa
trên thịt người chưa tan
trên cánh tay chó gậm
trên chiếc đầu lợn tha
tôi sống như người mù
tôi sống như người điên
tôi làm chim bói cá
lặn tìm vuông đời mình

trên mặt dài nhiên lặng
không tăm nào sủi lên

đời sống như thân nấm
mỗi ngày một lùn đi

tâm hồn ta cọc lại
ai làm người như tôi?

2.
mịn màng như nỗi chết
hoang đường như tuổi thơ
chưa một lần hé nở
trên ngọn cờ không bay
đôi mắt nàng khôn khép
bàn tay nàng khôn thưa
lọn tóc nàng đêm tối
khư khư ôm tình dài

ngực tôi đầy nắng lửa
hãy nói về cuộc đời
tôi còn gì để sống?

hãy nói về cuộc đời
khi tôi không còn nữa
sẽ mang được những gì
về bên kia thế giới
thụy ơi và thụy ơi

3.
tôi làm ma không đầu
tôi làm ma không bụng
tôi chỉ còn đôi chân
hay chỉ còn đôi tay
sờ soạng tìm thi thể
quờ quạng tìm trái tim
lẫn tan cùng vỏ đạn
dính văng cùng mảnh bom
thụy ơi và thụy ơi

đừng bao giờ em hỏi
vì sao mình yêu nhau
vì sao môi anh nóng
vì sao tay anh lạnh
vì sao thân anh rung
vì sao chân không vững
vì sao anh van em
hãy cho anh được thở
bằng ngực em rũ buồn
hãy cho anh được ôm
em, ngang bằng sự chết!

tình yêu như dao nhọn
anh đâm mình, lút cán
thụy ơi và thụy ơi

không còn ý nghĩa gì
ngoài tình em tình em
đã ướt đầm thân thể

anh ru anh ngủ mùi
đợi một giờ linh hiển.

cà phê một mình6

KHÚC HẠNH TUYỀN, NÚI SÔNG

Dòng suối trăm năm

chẻ đôi sông núi: đêm bưng mặt
mưa quấn khăn vào sâu ấu thơ
chẻ đôi thân thế mù tăm tích
ta nghĩa trang nào? chôn cất nhau?
chẻ đôi tâm thất kênh, mương cạn
hương tóc truy tầm vai thất tung
tưởng ai oan khuất vừa quay gót
xương, thịt, đời sau, máu rất buồn
chẻ đôi con gió: cây ly biệt
tim chấn thương cùng môi tháng, năm
phạt ngang ký ức rừng thao thiết
dòng suối trăm năm bỗng mất nguồn.

1993
Bài thơ này đã được nhạc sĩ Trần Duy Đức phổ nhạc thành bài hát Dòng suối trăm năm.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s