Một ngày trong đời…Công Tử Hà Đông Hoàng Hải Thuỷ

tambut1

logo Văn học

MỘT NGÀY TRONG ĐỜI

Hoàng Hải Thuỷ
Công Tử Hà Đông Hoàng Hải Thuỷ

Tất cả mùa xuân rộn rã đi
Xa xôi người có nhớ thương gì ?
Sông xưa chảy mãi làm đôi ngả,
Ta biết xuân nhau có một thì !

Một ngày trong đời được diễn tả trong bài Viết ở Rừng Phong Tháng Ba 2017 không phải là một ngày trong đời Nhà Văn Solzhenytsin mà là một ngày trong đời người viết những dòng chữ này – Công Tử Hà Đông.

Tháng 12 năm 1946 chiến tranh Việt Pháp nổ ra ở Hà Nội, gia đình tôi từ thị xã Hà Đông chạy loạn về làng quê tôi – làng Linh Quy, tổng Kim Sơn, phủ Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh – năm 1947 tôi ở trong Ban Văn Nghệ Gia Lâm. Gọi là Ban Văn Nghệ cho oai, thực ra cái gọi là Ban Văn Nghệ này chỉ có một việc làm là đi diễn kịch tuyên truyền ở những làng chưa bị quân Pháp tấn công, chưa có đồn bót của quân Pháp trấn đóng, chưa là “làng Tề,” một thứ làng quê có đồn bót của quân Pháp đóng ở gần làng, Ban ngày lính Pháp trên đồn kiểm xoát những làng này, ban đêm nhiều làng có Việt Minh về hoạt động. Làng phải có chính quyền xã – thường là do quân Pháp chọn người và cho làm đại diện dân làng – ban đêm những ông “đại diễn bất đắc dĩ” này phải ứng phó với Việt Minh. Các ông ở trong tình cảnh “một cổ hai tròng.” Ngôn ngữ Việt Nam ở Bắc Việt thời ấy có thành ngữ “Ấm ớ Hội Tề” là do tình trạng những ông làng Bắc Kỳ phải cùng một lúc làm vừa lòng những người Việt Minh kháng chiến và người Pháp chiếm đóng.

Cái gọi là Ủy Ban Hành Chính Kháng Chiến Gia Lâm có anh Dũng làm Ủy Viên Ban Thanh Niên. Tất nhiên anh Dũng là bí danh của anh. Anh trạc 30 tuổi, chưa vợ, người không phải là dân vùng quê tôi. Anh đến sống trong làng quê tôi, anh thành lập cái gọi là Ban Văn Nghệ Thiếu Nhi Gia Lâm.

Cái gọi là Ban Văn Nghệ Thiếu Nhi Gia Lâm này có 5 thiếu niên, trong số có tôi và Xuân Cang, một thiếu niên bằng tuổi tôi. Làng của Xuân Cang là làng Trân Tảo, cách làng Linh Quy của rôi một cánh đồng và một con sông đào.

Năm 1947 quân Pháp hành quân qua vùng Làng tôi. Cái gọi là Ban Văn Nghệ Thiếu Nhi Gia Lâm chỉ  có  5 chú thiếu niên, chú nào cũng trạc 14, 15 tuổi. Trong số những chú này có tôi. Chúng tôi diễn toàn kịch cương, tức kịch không có kịch bản, không có đối thoại. Tôi có cái kèn harmonica, dường như là kèn Butterfly. Tôi thổi cây kèn này khi các bạn tôi hát bài Tiến Quân Ca mở đầu buổi diễn kịch.

Năm 1945, 1946 tôi ở trong đoàn Hướng Đạo Đống Đa. Tôi có chừng 10 số báo Thẳng Tiến của Hướng Đạo Việt Nam. Trong những số Thẳng Tiến xuất bản mỗi tháng một kỳ này có khoảng năm, bẩy vở kịch của Hướng Đạo. Những vở kích ngắn, ít vai, dễ diễn, thường được diễn trong những đêm lửa trại của Hướng Đạo. Tôi kể cốt chuyện những vở kịch Hướng Đạo này cho các bạn tôi nghe, chúng tôi diễn cương theo ý những vở kịch ấy. Toàn là kịch vui.

Quân Pháp hành quân qua vùng, Ban Văn Nghệ Thiếu Nhi Gia Lâm tan rã, anh Dũng đi qua sông Đuống sang vùng Bắc Ninh chưa bị quân Pháp đánh tới. Năm ấy những vùng đất như thế được gọi là Vùng Tự Do. Từ đó tôi không một lần được gập lại anh Dũng.

Những làng vùng quê tôi có tên chữ Hán, có tên tiếng Nộm: như tên làng tôi là Linh Quy, tên Nôm là Làng Vụi, làng Xuân Cang là làng Trân Tảo, tên Nôm là Làng Táo. Có những ngày mùa thu năm 1947, ở quê thường ăn cơm trưa sớm. Khoảng 10 giờ sáng ăn cơm xong tôi đi qua cánh đồng sang làng Xuân Cang. Đi đường tắt cho gần. Ông bố của Xuân Cang là ông nhà giầu trong làng. Bà Mẹ của Xuân Cang là bà hai, hay bà ba của ông. Bà được ông chồng lo cho một nhà riêng. Những ngày tôi đến nhà Xuân Cang, bà mẹ anh thường di chợ buôn bán vắng nhà.

Tôi đến, mỗi ngày Xuân Cang cho tôi ăn một miếng khoai lang khô, cho tôi đọc một tập truyện Ba Người Lính Ngự Lâm Pháo Thủ.

Truyên Les Trois Mousquetaires do ông Nguyễn Văn Vĩnh dịch, xuất bản từng tập 30 trang. Xuân Cang cho tôi biết bộ truyện do ông anh của Xuân Cang mua, ông anh của Xuân Cang đi kháng chiến.

Năm 2010 tôi tìm thấy Xuân Cang trên Internet. Hiện nay Xuân Cang làm việc trong tòa soạn Báo Lao Động ở Hà Nội. Anh là nhà văn có nhiều tác phẩm. Tôi không biết Xuân Cang có nhớ tôi, người bạn cùng tuổi anh, từng đến nhà anh đọc truyện, ăn khoai khô năm xưa hay không.

1947 – 2017.. Tôi không biết năm nay, sống ở Hà Nội, Xuân Cang có nhớ tôi không – sống ở Kỳ Hoa, tôi còn nhớ Xuân Cang. Tôi mong Xuân Cang đọc những dòng chữ này.

Những chuyện tôi vừa kề xẩy ra năm 1947. Đã hơn 60 năm trôi qua đời tôi kể từ ngày ấy. Hôm nay một buổi sáng nắng vàng mùa Xuân ở Virginia, Miền Đất của những Người Yêu – Virginia is for Lovers – trong những ngày cuối đời tôi, tôi viết về những chuyện 50. 60 năm xưa. Với tuổi tác – năm nay, 2017, tôi 84 tuổi – tôi còn nhớ nhiều chuyện, tôi đã quên nhiều chuyện.

Một buổi chiều năm 1947, anh Dũng đưa anh em chúng tôi đến gập mấy anh bộ đội – Vệ Quốc Quân –  vừa ghé về đóng trong làng. Các anh đãi chúng tôi món khoai lang luộc. Chúng tôi ngồi quanh rổ khoai trêm thềm nhà. Anh Đại Đội Trưởng nói với chúng tôi:

– Các anh chiến đấu dành độc lập, nhưng các anh sẽ không hưởng cái hạnh phúc độc lập ấy. Các em sẽ hưởng.

Một đêm sáng trăng ở Thái Nguyên, ngồi quanh rổ sắn luộc, một anh Việt Minh trạc 30 tuổi nói với mấy chú thiếu niên liên lạc viên, trong số có tôi:

– Các anh chiến đấu là bổn phận của bọn anh. Nhưng các em đang tuổi đi học. Lẽ ra ở tuổi này các em sống  yên vui trong gia đình các em, sống trong tinh yêu thương của cha mẹ các em. Nhưng các em cũng đi chiến đấu cho đất nước như bọn anh.

Anh không nói, chúng tôi biết anh thương chúng tôi.

Ban Văn Nghệ  do anh Dũng thành lập có  5 chú thiếu niên, chú nào cũng trạc 14, 15 tuổi. Trong số những chú này có tôi. Chúng tôi diễn toàn kịch cương, tức kịch không có kịch bản, không có đối thoại.

Năm 1984 tôi bị bọn Công An Thành Hồ bắt, tôi bị chúng cho nằm phơi rốn 5 mùa lá rụng ở Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu và Nhà Tù Chí Hòa. Cùng bị bắt với tôi với cùng một tội: “gửi tác phẩm văn nghệ ra nước ngoài” là các anh Doãn Quốc Sĩ, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Dương Hùng Cường, Duy Trác, Trần Ngọc Tự, cô Lý Thụy Ý, cô Nguyễn Thị Nhạn.

Trong thời gian bị giam dài đến 4 năm ở Nhà Tù Chí Hòa, anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, anh Dương Hùng Cường bị chết thảm.

Năm 1988 chúng tôi – Doãn Quốc Sĩ, Duy Trác, Trần Ngọc Tự, Lý Thụy Ý, Nguyễn Thị Nhạn và tôi bị đưa ra tòa xử. Người làm chánh án trong phiên tòa xử chúng tôi là một người đàn bà. Tôi nhớ tên bà ta là Nguyễn Thị Thu Phước. Khi vừa tuyên án xong, bà ta gập tập hồ sơ lại, đứng lên, đi ngay ra khỏi phòng.

Năm 1993 vợ chồng tôi, ba con tôi, ngồi chờ quyết định của nhân viên ODP. Ông Trưởng Ban ODP nói:

– Ông bà này – ( ông đọc tên vợ tôi, tên tôi ) – được nhận sang Hoa Kỳ, được coi là tỵ nạn chính trị. Mấy người kia không được xét đến.

Nói xong, ông gập tập hồ sơ lại, đi ngay ra khỏi phòng.

Nhiều năm qua tôi vẫn nhớ hình ảnh hai lần người ta tuyên án về số phận vợ chồng tôi và các con tôi. Vừa tuyên án xong, người ta gập ngay hồ sơ, đi ngay ra khỏi phòng.

Vợ chồng tôi sang Mỹ năm 1994. Ba con tôi không được cùng sang Mỹ với chúng tôi vì năm đó các con tôi không sống trong cùng một nhà với chúng tôi. Năm 2003 nhờ Thượng Nghị Sĩ John McCain đệ trình Quốc Hội Tu Chính Án cho phép con những người đi HO vì không ở cùng nhà với bố mẹ nên không được sang Mỹ, nay được sang Mỹ. Hai con chúng tôi sang Mỹ, một con chúng tôi ở lại Sài Gòn.

Chính phủ Hoa Kỳ chỉ nhận đón sang Kỳ Hoa những người Việt bị Công Sản bắt đi tù từ 3 năm trở lên vì “tội là ngụy quân, ngụy quyền.”

Tôi và vợ con tôi được sang Hoa Kỳ như các ông sĩ quan đi HO vì tôi là nhân viên Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam, và tôi bị CS bắt tù 2 lần, tất cả là tù 8 năm.

Nhân Viên ODP cho vợ chồng tôi hưởng tiêu chuẩn tỵ nạn chính trị. Chúng tôi không xin, chúng tôi có xin cũng không được.

Năm 1993 tôi được giấy của cơ quan USIA – Cục Thông Tin Hoa Kỳ –  cho biết tôi và vợ con tôi được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nhận cho sang Hoa Kỳ với tư cách tỵ nạn chính trị.

Vợ chồng tôi làm hồ sơ xin đi. Trong khi chúng tôi chưa biết chúng tôi nên xin đến sống ở thành phố Hoa Kỳ nào, chúng tôi được thư của ông bà Anh Ngọc, ông bà sang Hoa Kỳ khoảng năm 1990. Trong thư có tấm ảnh ông bà ngồi trên thảm cỏ xanh, quanh ông bà là những chiếc lá thu vàng. Ông bà ghi những tấm ảnh này ở Virginia.

Nhìn ảnh, vợ chồng tôi bảo nhau:

– Đẹp quá. Chúng mình đến Virginia nhé.

Cùng những ngày ấy tôi thường nghe những buổi phát thanh tiếng Việt của Đài VOA. Tình cờ tôi nghe được buổi ông Nguyễn Ngọc Bích phỏng vấn bà Khúc Minh Thơ, bà Hội Trưởng Hội Bảo Vệ Gia Đình Cựu Tù Nhân Chính Trị. Bà Khúc Minh Thơ, ông Nguyễn Ngọc Bích cùng sống ở Virginia, Thành phố Falls Church, Quận Fairfax, Thủ đô Wasington DC nằm trong bang Virginia.

Tôi gửi thư xin bà Khúc Minh Thơ làm sponsor – người bảo lãnh cho vợ chồng tôi. Và một buổi trưa Tháng 11 năm 1994 vợ chồng tôi líu ríu dắt nhau vào phi trường Reagan. Bạn hữu đến đón chúng tôi thật đông.

Bà Khúc Minh Thơ giúp vợ chồng tôi và các con tôi thật nhiều. Vợ chồng tôi không bao giờ quên Tình và Ân của Bà Khúc Minh Thơ.

Những ngày như lá, tháng như mây…

Thấm thoắt vậy mà đã 23 năm…

Cảm khái cách gì!

Đến thành phố Falls Church, tôi được quen Thi sĩ Thái Thụy Vy. Anh sống trong một tòa nhà có nhiều phòng do Sở Xã Hội Quận Fairfax mướn và cho những người già có tiền thu nhập thấp mướn lại. Sở Xã Hội mướn nhà khoảng 1000 Đô một tháng, người nghèo như vợ chồng tôi chỉ phải trả tiến nhà bằng 1/3 số tiền SSI của chúng tôi. Thái Thụy Vy chỉ cách cho vợ chồng tôi xin mướn nhà cùng nhà anh ở. Nhà này gần Trung Tâm Eden. Những ngày thu dịu nắng nhiều ông bà trong nhà chúng tôi có thể đi bộ ra Trung Tâm Eden. Trong hai, ba năm đầu Thái Thụy Vy sốt sắng đưa vợ chồng tôi đi khắp nơi trong Virginia. Anh cư xử thật tốt với vợ chồng tôi.

Không đi làm việc một ngày ở Mỹ, không từng đóng một đồng thuế, tiền SSI của vợ chồng tôi, hai người, là 1200 Đô, chúng tôi trả tiền nhà mỗi tháng là 320 Đô, tiền điện nước ở trong 320 Đô. Chúng tôi được cấp Medicaid, Medicare.

Căn phòng vợ chồng tôi sống líu ríu bên nhau có khung cửa sổ lớn nhìn ra hướng Đông Nam. Buổi sáng mặt trời hồng lên ở bên tay trái tôi, nắng sáng chiếu vào tận bếp phòng tôi. Đêm trăng, nửa đêm tôi thấy trăng qua khung cửa sổ, nằm giữa phòng tôi.

Đến sống ở nhà này tôi gặp lại ba người quen cũ.

Tôi quen với Trần Kính năm 1954 ở Sài Gòn, tôi gập lại anh năm 1956 khi anh là huấn luyên viên Thể Dục ở thành phố Nha Trang. Anh là một trong số những ông bạn đến phi trường đón vợ chồng tôi khi chúng tôi đến Mỹ. Anh sống nhiều năm trong cùng tòa nhà gọi là Nhà Già với vợ chồng tôi. Anh qua đời vì bệnh khoảng năm 2008.

Người tôi quen cũ thứ hai tôi gập lại trong Nhà Già là ông Lê Phùng Thời. Ông này nguyên là dân biểu thời TT Ngô Đình Diệm. Dường như vì chống chính quyền Ngô Đình Diệm, có nhiều năm ông Lê Phùng Thời phải sang sống ở Nam Vang, Cao Miên.

Ông LP Thời sống một mình trong Nhà Già. Rồi ông bỏ Virginia, ông đi sống ở nơi khác.

Người quen xưa tôi gặp lại ở Nhà Già này là bà Tuấn. Những năm 1947, 1948 bà là nhân viên Ban Tình Báo Đặc Biệt Gia Lâm. Bí danh của bà là Cô Tú. Tôi năm ấy hoạt động cùng một cơ quan với bà, tôi gọi bà là chị.

Sáu mươi năm sau tôi tình cờ gập lại bà trong tòa Nhà Già này ở Virginia. Tôi nhớ bà là chị Tú của tôi năm xưa. Nhưng bà không nhớ tôi. Gợi chuyện bà nói bà nhớ có thời gian đi kháng chiến bà ở Bắc Ninh, nhưng bà không nhớ tôi là ai. Nay bà đã rời nhà này, tôi nghe nói bà về sống với con gái của bà.

Đọc sách mười năm học lấy quên 
ta, đêm Hồng Thủy dạo con thuyền
giận công trác tuyệt trời khai thác
tay cuốn dòng sông, nổi sóng lên
ruộng đất đã nguôi lòng thảo dã
mặc ta rừng núi khóc lâm tuyền
thơ đâu? chẳng nói lời yêu hoặc
vẽ mặt sầu nhân, nét bút điên? 

ĐINH HÙNG

Tôi không học Quên. Nhưng đến Tuổi Già – Tám Bó – tôi Quên như mọi Ông Già Tám Bó trong cõi đời này. Tôi Quên nhưng tôi Quên Vừa Phải thôi, tật Quên của tôi chưa có gì tai hại nhiều cho tôi. Nay tôi quên những chuyện mới xẩy ra, quên ký trả bill, quên những việc tôi phải làm..v..v.. Tôi nhớ những chuyện đến với tôi sáu mươi, bẩy mươi năm trước.

Trong Nhà Già vợ chồng tôi sống từ 23 năm nay có bà già 91 tuổi, bà Năm Hầu. Trước đây khoảng năm, sáu tháng, sau vài phút nhìn mặt và nhớ lại, bà còn gọi đúng tên vợ tôi, tên tôi. Nay bà ngày ngày ra nhà khách ngồi nhìn người qua lại nhưng bà không còn nhớ tên ai.

Nhà già của vợ chồng tôi có hai ông già, ông nào cũng trên 90 tuổi: ông Phan Vỹ và ông Lương Tuất.

Ông Phan Vỹ là thành viên Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông bị tù khổ sai nhiều năm ở quê nhà. Ông ăn chay trường. Hai, ba năm trước ông hoạt động mạnh, ông luôn đi dự những hội nghị chống Cộng, ở New York, ở London. Ngoài 90 tuổi tâm trí ông vẫn sáng, vẫn nhớ, ông không Quên, ông vẫn chăm đi Lễ Chùa.

Ông Lương Tuất nguyên là doanh gia ở Sài Gòn. Ông là chủ nhân Nhà Hàng Queen Bee ở tòa nhà Eden Sài Gòn. Ông từng nghiên cứu Khoa Châm Cứu, ông là tác giả bộ sách về Khoa Châm Cứu dầy cả ngàn trang.

Viết đấn đây tôi thấm mệt. Bài Viết ở Rừng Phong này phải gửi qua tòa báo ở Cali trong tối nay. Tôi mời quí bạn đọc bài này:

Trích TẠI NGỤC VỊNH KIỀU, Viết cho Người Yêu

Về mục nhà ông Viên Ngoại họ Vương được tả là “thâm nghiêm kín cổng cao tường”, Công tử Hà Đông bèn có thơ rằng:

Thâm nghiêm kín cổng, cao tường
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành
Con oan
h học nói trên cành mỉa mai…
Mỉa mai nó mỉa mai ai?
Thâm nghiêm có cái mặt ngoài mà thôi.
Bề trong thì chán mớ đời
Cô em trong trắng quá chời là trong!
Dưới hoa em kết giải đồng,
Cuối tường em lộn nẻo thông mới rào.
Sắn tay em cho nó mở khóa động đào,
Rẽ mây em cho nó trông tỏ lối vào thiên thai.
Con oanh nói mỉa, nói mai
Mỉa mai nó mỉa: “Nhà này thật thâm…”

Khi Thúy Kiều xăm xăm băng lối vườn khuya một mình thì lúc đó trăng đã nhặt thưa gương rọi đầu cành, tức là vào khoảng 7, 8 giờ tối, giờ Tây Dương – đêm trăng ấy lên sớm.

Đến lúc đôi tình nhân diễn trò thề thốt dưới trăng thì trăng đã vằng vặc giữa trời, tức là trăng đã lên đến đỉnh trời. Thúy Kiều ở lại đó thề thốt, ký văn tự, đàn ca, uống rượu, đưa đầy với Kim Trọng mãi cho đến khi bóng tàu vừa lạt vẻ ngân, tức là khi ánh trăng đã nhạt trên những tàu lá chuối trong vườn.

Thời gian lúc trăng nhạt, trăng lặn đó phải là 3, 4 giờ sáng, giờ Tây Dương. Như vậy là Thúy Kiều đã qua gần một đêm trắng với Kim Trọng. Nếu không có tên gia đồng vào gửi tin nhà mới sang thì ta có thể nói mà không sợ mang lỗi vu oan cho nàng là nàng sẽ passnight với Kim Trọng. Không những chỉ qua đêm mà thôi, nàng còn có thể ở đó tới trưa hôm sau mới trở về cái gọi là đài trang hết sức thâm nghiêm kín cổng cao tường của nàng.
Việc Thúy Kiều chui rào qua nhà Kim Trọng vào cái năm Gia Tĩnh triều Minh cách nay cả năm sáu trăm năm ấy là một việc những thiếu nữ lương thiện đời nào cũng không nên làm. Nhưng việc Thúy Kiều lẻn sang nhà Kim Trọng vào buổi chiều và vào lúc nửa đêm cũng chưa ly kỳ bằng sau khi được tin “… thúc phụ từ đường. Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề. Liêu Dương cách trở sơn khê, Xuân đường kíp gọi Sinh về hộ tang…”, Kim Trọng đã cũng chui rào, hoặc leo tường, phăng phăng vào tận phòng ngủ của Thúy Kiều để chia tay. Tự do cứ như là nhà Thúy Kiều không còn một người nào khác ngoài Thúy Kiều. Luông tuồng đến như vậy nhưng mỉa mai thay, tòa nhà Viên Ngoại họ Vương vẫn được mô tả là:

Thâm nghiêm kín cổng cao tường
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.

Mấy lần cửa đóng then cài
Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?

Về mục nhà ông Viên Ngoại họ Vương được tả là “thâm nghiêm kín cổng cao tường”, Công tử Hà Đông bèn có thơ rằng:

Con oanh nó mỉa, nó mai

Thâm nghiêm kín cổng, cao tường
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.
Lơ thơ tơ liễu buông mành
Con oan
h học nói trên cành mỉa mai…
Mỉa mai nó mỉa mai ai?
Thâm nghiêm có cái mặt ngoài mà thôi.
Bề trong thì chán mớ đời
Cô em trong trắng quá chời là trong!
Dưới hoa em kết giải đồng,
Cuối tường em lộn nẻo thông mới rào.
Sắn tay em cho nó mở khóa động đào,
Rẽ mây em cho nó trông tỏ lối vào thiên thai.
Con oanh nói mỉa, nói mai
Mỉa mai nó mỉa: “Nhà này thật thâm…”

Khi Thúy Kiều xăm xăm băng lối vườn khuya một mình thì lúc đó trăng đã nhặt thưa gương rọi đầu cành, tức là vào khoảng 7, 8 giờ tối, giờ Tây Dương – đêm trăng ấy lên sớm. Đến lúc đôi tình nhân diễn trò thề thốt dưới trăng thì trăng đã vằng vặc giữa trời, tức là trăng đã lên đến đỉnh trời. Thúy Kiều ở lại đó thề thốt, ký văn tự, đàn ca, uống rượu, đưa đầy với Kim Trọng mãi cho đến khi bóng tàu vừa lạt vẻ ngân, tức là khi ánh trăng đã nhạt trên những tàu lá chuối trong vườn. Thời gian lúc trăng nhạt, trăng lặng đó phải là 3, 4 giờ sáng, giờ Tây Dương. Như vậy là nàng đã qua gần một đêm trắng với Kim Trọng. Nếu không có tên gia đồng vào gửi tin nhà mới sang thì ta có thể nói mà không sợ mang lỗi vu oan cho nàng là nàng sẽ pass night với Kim Trọng. Không những chỉ qua đêm mà thôi, nàng còn có thể ở đó tới trưa hôm sau mới trở về cái gọi là  “đài trang hết sức thâm nghiêm kín cổng cao tường” của nàng.

Việc Thúy Kiều chui rào qua nhà Kim Trọng vào cái năm Gia Tĩnh triều Minh cách nay cả năm sáu trăm năm ấy là một việc mà những thiếu nữ lương thiện đời nào cũng không nên làm. Nhưng việc Thúy Kiều lẻn sang nhà Kim Trọng vào buổi chiều và vào lúc nửa đêm cũng chưa ly kỳ bằng sau khi được tin “… thúc phụ từ đường. Bơ vơ lữ thấn tha hương đề huề. Liêu Dương cách trở sơn khê, Xuân đường kíp gọi Sinh về hộ tang…”, Kim Trọng đã cũng chui rào, hoặc leo tường, phăng phăng vào tận phòng ngủ của Thúy Kiều để chia tay. Tự do cứ như là nhà Thúy Kiều không còn một người nào khác ngoài Thúy Kiều. Luông tuồng đến như vậy nhưng mỉa mai thay, tòa nhà Viên Ngoại họ Vương vẫn được mô tả là:

Thâm nghiêm kín cổng cao tường
Cạn dòng lá thắm, dứt đường chim xanh.

Mấy lần cửa đóng then cài
Đầy thềm hoa rụng, biết người ở đâu?

Viết ở Sài Gòn năm 1991.

Viết ở Kỳ Hoa Tháng Ba 2017

Tất cả mùa xuân rộn rã đi
Xa xôi người có nhớ thương gì ?
Sông xưa chảy mãi làm đôi ngả,
Ta biết xuân nhau có một thì !

Cảm khái cách gì.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s