Sống,học,mần,chơi và yêu vợ nhất đời-Công Tử Hà Đông Hoàng Hải Thuỷ

tạp bút

logo viết

 

SỐNG, HỌC, MẦN VÀ, CHƠI

Hoàng Hải Thuỷ

Tôi thích đọc chữ Nho – tên khác là Chữ Hán, Chữ Tầu – nên năm 1967 tôi mua sách dậy Chữ Nho về tự học. Hai lần tôi tự học Chữ Nho, hai lần tôi bỏ cuộc. Chữ Nho khó tự học quá. Khi ấy tôi đã có vợ con, có việc làm, tôi lại ham chơi hơn học. Tôi đã tưởng như vậy là thôi, là trọn đời tôi không có Chữ Nho.

Tôi từng thu xếp Đời Sống của tôi với ba Việc chính: Làm, Học và Chơi. Ba việc có liên can với nhau: Tôi Làm để có thể Học và Chơi, tôi Học để có thể Làm việc kiếm sống, tôi Chơi để có thể Học và Làm. Tôi ham Chơi nên phần Chơi trong đời tôi luôn luôn lấn sang phần thời giờ tôi dành cho Làm và Học.

Tôi từ Hà Nội vào Sài Gòn trong một sáng mùa xuân. Mùa xuân ấy tôi mười tám tuổi.

Năm tôi 14 tuổi – năm 1948 – tôi đi kháng chiến chống Pháp. Đã hơn một lần tôi viết “Tôi đi kháng chiến cho “oai.” Thực ra việc làm thứ nhất có tiền lương trong đời tôi là việc làm liên lạc viên cho cơ quan Tình Báo Đặc Biệt Gia Lâm. Tôi có tiền lương tháng 120 đồng tiền Việt Minh; tôi ăn cơm trong cơ quan 50 đồng một tháng. Năm 1950 tôi trở về Hà Nội. Tôi đi học lại. Năm 1951 tôi vào Sài Gòn.

Năm 1951 tôi đọc trong một nhật báo Sài Gòn lời nhắn tìm người dịch bài chữ Pháp ra chữ Viêt của một ông bác sĩ. Tôi tìm đến phòng mạch của ông bác sĩ tôi không nhớ tên. Phòng mạch ở đường Verdun. Sau năm 1956 đường Verdun là đường Hàm Nghi. Người tiếp tôi là ông thư ký của ông bác sĩ. Ông đưa tôi một tờ chữ Pháp đánh máy cho tôi dịch. Hôm sau tôi mang bản dịch đến nộp cùng bản tên và địa chỉ của tôi. Tôi đề nghị tiền công tôi dịch một trang chữ Pháp như thế là 5 đồng.

Vài ngày sau tôi được phòng mạch bác sĩ gọi đến giao việc dịch. Ông bác sĩ cho tôi quyển Danh Từ Khoa Học, quyển tự điển tác giả là ông Hoàng Xuân Hãn. Tập tài liệu chữ Pháp khoảng 30 trang, tôi dịch được 150 đồng. Tiền trả ngay. 150 đồng là khoản tiến tôi kiếm được thứ nhất trong đời tôi. Năm 1950 giá tiền tô phở Bắc ở Sài Gòn là 5 đồng, vé xi-nê hạng bét là 8 đồng.

Vì cần tiền tôi bỏ học đi tìm việc làm.

Nhiều năm sau, tôi có việc làm, có vợ con, tôi vẫn thích Học. Tôi thích đọc Chữ Nho. Nhưng, như tôi đã viết, hai lần tôi tự học Chữ Nho, hai lần tôi bỏ cuộc.. Đầu năm 1968 tôi đọc trong mục Rao Vặt của một nhật báo lời rao:

“Học trong hai tiếng đồng hồ có thể tự đọc được Chữ Nho.”

Khoảng 3 giờ chiều một ngày Thứ Bẩy tôi đến trường Đức Trí, đường Cao Thắng. Trong một lớp học ở trường này lần thứ nhất tôi gập thày Đào Mộng Nam. Ông trạc tuổi tôi. Chờ ông dậy xong tôi gặp ông, tôi tự xưng tên tôi, kể với ông việc tôi tự học Chữ Nho mấy lần mà đều phải bỏ cuộc.

Thầy Đào Mộng Nam cho tôi một tập bài học chữ Nho in ronéo. Ông hỏi địa chỉ của tôi. Khoảng tuần sau ông ghé nhà tôi. Ông chỉ cho tôi cách đếm nét chữ tìm âm và nghĩa của chữ. Những âm và nghĩa này có ghi ở dưới bài chữ Hán..

Sáu mươi năm qua, nay tôi vẫn nhớ những lời ông nói:

– Anh tự học Chữ Nho không được là vì anh phải nhớ nhiều quá. Anh phải nhớ mặt chữ, nhớ âm và nghĩa của chữ. Nay học theo phương pháp của tôi mỗi ngày anh học một bài trong sách. Anh mở sách, tìm âm, tìm nghĩa của những chữ trong sách, dịch toàn bài sang tiếng Việt. Xong anh gập sách, anh đi làm việc khác. Anh quên bài học đi. Hôm sau anh mở sách học bài tiếp. Bài tiếp này có mấy chữ bài trước, và mấy chữ mới. Anh quên, anh lại xét mặt chữ, tìm âm, tìm nghĩa của nó. Bài học tiếp có một số chữ anh đã học. Hai, ba lần như thế, anh sẽ nhớ. Chỉ cần mỗi ngày anh học một bài. Học một bài cả trong ngày chủ nhật. Đừng bỏ học ngày nào.

Năm ấy Thầy Đào của tôi đi xe bốn bánh. Cứ khỏang mười ngày Thầy ghé nhà tôi một lần, hỏi có chữ khó nào tôi không tìm được âm-nghĩa không. Nếu có ông bảo tôi viết chữ đó, đếm nét chữ, rôi tra tự điển.

Hiếm có những ông thầy đã dậy không lấy tiền còn đến nhà học trò chỉ dậy thêm, như Thầy Đào Mộng Nam.

Ông chỉ cho tôi đến chỗ mua quyển Tự Điển Thiều Chửu. Tự điển này không bán ở Nhà Sách Khai Trí mà bán trong một nhà tư nhân gân rạp xi-nê Nam Việt. Đường gì tôi quên mất tên; chỉ nhớ tên Pháp là đường Chaigneau. Tôi nhớ quyển Tự Điển Thiều Chửu tôi mua năm xưa ấy là 30 đồng.

Tôi có tới hai, ba quyển Tự Điển Thiều Chửu. Nhưng nay tôi chỉ giữ một quyển. Quyển Tự Điển Thiều Chửu, ảnh kèm theo bài, tôi có từ năm 1968.

Nhờ Thầy Đào Mộng Nam, tôi có Chữ Nho. Tôi nhớ ơn Thầy.

Tôi vừa tìm thấy bài viết về Giáo Sư Đào Mộng Nam trên Intenet.

Thầy Đào Mộng Nam.

Tóc thường để dài, cột sau gáy, trang phục thường xuề xòa, mắt nhìn ngây thơ, cử chỉ dịu dàng, tính trầm mặc, ưa lặng lẽ, khi lên tiếng thì lời vi diệu, đầy ẩn mật, cho thấy những suy nghĩ lạ lẫm nhưng cổ kính,  ngôn ngữ trau chuốt nhưng thơ mộng… và cũng bất ngờ khi anh chợt đến, khi anh chợt đi. Đó là hình ảnh của giáo sư, và cũng là nhà thơ, Đào Mộng Nam.

Nhà văn Nguyễn Tiến Văn ghi nhận trên mạng Talswas.org hôm 1-9-2006, qua bài “Đào Mộng Nam, Về..…” với những dòng chữ mở đầu như sau:

“Đào Mộng Nam vừa qua đời tại California, hoàn toàn đơn độc tại trai phòng chỉ có bồ đoàn, máy vi tính, ấm trà, những bản thảo dịch thơ Cao Bá Quát và những tập bản thảo sưu tập các giai thoại về Bùi Giáng…”

Đào Mộng Nam đã sống một cuộc đời đầy những hồn thơ, kể cả khi lặng lẽ từ trần trong thư phòng, phòng chất đầy quanh tường và các kệ sách là Thơ của Cao Bá Quát và Bùi Giáng.

Người ta một thời gặp anh Đào Mộng Nam thường xuyên trên các phố Bolsa, nhưng vài năm gần đây thì ít gặp anh hơn. Những công trình anh muốn làm thì nhiều hơn việc làm của một đời người. Khi gặp nhau, khi được hỏi về các vấn đề cổ học, về Hán học, hay ngay cả về văn chương hiện đại, chúng ta thường nghe anh nói với những kiến thức đời thường ít gặp, ít thấy… Anh đọc nhiều hơn rất nhiều người, và đọc một cách sâu sắc lạ thường.

Khi hỏi chuyện riêng tư, thì anh thường cười và quay mặt đi. Chỉ thỏang khi chúng ta mới gặp vài ngôn ngữ nồng thắm tư riêng của anh. Thí dụ, như thử trích mấy câu thơ sau trong bài “Đồi Cỏ” của Đào Mộng Nam:

“Xin hãy cùng em bước lên đồi cỏ dại
Thế giới thủy tinh màu nắng là màu xanh
Thoảng nhẹ âm thanh chỉ tiếng gió thì thào
Ta riêng một cõi tạm quên đời dâu bể…”

Bài thơ nhiều đọan này về sau được một số bạn hữu đưa vào một CD Tuyển Thơ của nhiều nhà thơ.

Nhưng dấu ấn lớn nhất của Đào Mộng Nam đối với văn học Việt Nam là vai trò một nhà Hán học của anh. Rất nhiều sinh viên của Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Đại Học Vạn Hạnh thời trứơc 1975 không thể nào quên công trình quảng bá chữ Nho của Đào Mộng Nam.

Giáo Sư Đào Mộng Nam có một phương pháp dạy và học chữ Hán mới hơn, giúp học sinh tiếp cận văn học chữ Nho nhanh hơn và nhớ hơn các lối học truyền thống. Trước đây, nhà văn Hòang Hải Thủy từng viết rằng chỉ nhờ học chữ Hán theo phương pháp của Đào Mộng Nam trong 5 tháng là đã có thể tự đọc được Tam Quốc Chí bằng Hán văn. Hiển nhiên, như thế là phi thường kinh khủng.

Nếu chúng ta hình dung ra cơ sự tương tự mới thấy được cái hay của phương pháp tiếp cận mới đó: chỉ cần học Anh ngữ trong 5 tháng là có thể đọc được văn của Shakespeare hay Charles Dickens. Có lẽ, với Shakespeare thì 5 tháng chưa đủ, nhưng với Charles Dickens thì có thể phần nào, nếu có ai học Anh ngữ với một năng khiếu phi thường.

Thế đấy, hiển nhiên là, Đào Mộng Nam đã để lại những kỷ niệm không thể nào quên nổi với rất nhiều người từng một thời say mê chữ Hán hay cổ học.

Nhà thơ Khế Iêm hôm Thứ Sáu cũng gửi một điện thư tới tất cả các nhà thơ từng góp mặt trong Tạp Chí Thơ để tưởng niệm Đào Mộng Nam, trích:

“…Học giả Đào Mộng Nam là người đã cộng tác với Tạp chí Thơ ngay từ số ra mắt với những bài thơ dịch thơ Cao Bá Quát. Chỉ có thế thôi cũng đủ để chúng ta biết ơn, và hân hạnh đựơc sự cộng tác của ông. Ông là lớp nhà Nho hiếm hoi của thời đại chúng ta. Ông sống lặng lẽ và ra đi cũng lặng lẽ, để lại nơi chúng ta nỗi ngậm ngùi. Chúng tôi xin gửi đến quí anh chị bản tin này và mong quí anh chị đã từng cộng tác với Tạp chí Thơ và website www.thotanhinhthuc.org hãy để ra 1 phút để tửơng niệm Đào Mộng Nam, một ngừơi mà suốt cuộc đời phục vụ cho nền văn học Việt…”

Trở lại với nhà văn Nguyễn Tiến Văn trên Talawas.org, nơi đây cuộc đời Đào Mộng Nam được kể như sau:

“…Từ giữa thập niên 60, Đào Mộng Nam mở lớp dạy Chữ Nho cho các sinh viên Y khoa Đại học Huế trong chương trình kết hợp Đông và Tây; dưới sự tôn vinh Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, và lời thề với Y tổ này thay cho lời thề Hippocrate của Tây y. Đồng thời anh phát triển các khoá dạy chữ Nho tại Đại học Vạn Hạnh, Đại học Minh Đức, dạy miễn phí cho công chúng tại trường Đức Trí, đường Cao Thắng, quận 3 mỗi chiều thứ bảy, chủ nhật. Cũng như xuất hiện trên truyền hình để quảng bá việc học chữ Nho theo cách mới đến mọi tầng lớp.

Năm 1966 cùng với thân hữu, anh chủ trương Nhà Xuất Bản Nguồn Sáng, phát huy quốc học và chủ trương dung hòa Đông Tây. Nxb Nguồn Sáng, ngoài việc xuất bản bộ Chữ Nho tự học của Đào Mộng Nam, còn cho ra đời những bộ sách giá trị như Nho văn giáo khoa toàn thư của bác sĩ kiêm Đông y sĩ Nguyễn Văn Ba, tủ sách Việt Nho của Lương Kim Định, những sách dịch như Ấu học quỳnh lâm, các tiểu thuyết của Dostoievski như Anh em nhà Karamazov, Lũ người quỷ ám, Đầu xanh tuổi trẻ, tiểu thuyết của Han Su-yin (Hàn Tố Âm), của Heinrich Bull, thơ của Tagore, Kahlil Gibran… và tủ sách thiếu nhi gồm các danh tác thế giới và Việt Nam, trong đó đặc sắc là bộ Phiêu lưu trên lưng ngỗng của Selma Lagerloff do Lý Quốc Sinh dịch…

Ra nước ngoài từ 1975, Đào Mộng Nam định cư ở Hoa Kì, trôi nổi từ miền Đông sang miền Tây, sau cùng cố định ở Westminster, California… Cộng tác với các tạp chí ở hải ngoại như Hợp lưu, Văn học, Văn, Tạp chí Thơ, Khởi Hành… ở Hoa Kì, và Trăm Con ở Canada, Đào Mộng Nam hăng hái cổ xuý cho sự kết hợp phương pháp rung nhịp của hơi thở thiền định với tiết điệu của thơ, nhất là thể loại lục bát truyền thống của dân tộc qua ca dao,Truyện Kiều, Lục Vân Tiên..v.v.. Đào Mộng Nam dịch và xuất bản tập Nhã ca (tương truyền của vua Salomon trong Kinh Thánh Do Thái và Cựu Ứớc của Kitô Giáo) in kèm với tranh của họa sĩ trừu tượng của Nga là Marc Chagall.

Ước vọng cuối cùng của Đào Mộng Nam là dịch toàn bộ Thơ Cao Bá Quát, khoảng 2.000 bài. Thơ CBQ chữ Hán. Anh mới thực hiện được vài trăm bài thì từ giã chúng ta. Hi vọng sẽ có người nối chí anh để hoàn tất công cuộc đó vì Cao Chu Thần là đỉnh cao của cả ngàn năm văn học kinh điển Việt Nam. Có lẽ, Đào Mộng Nam đã dịch gần hết Thơ của Cao Bá Quát,

Báo Văn Nghệ ở Hà Nội, trong một số báo gần hai năm trứơc, có ghi nhận về công trình nghiên cứu và dịch thuật của Đào Mộng Nam về Thơ Văn Cao Bá Quát – với người viết là Nguyễn Huy Thuận và tựa bài viết là “Biết thêm về Cao Bá Quát”, trích như sau:

“Ngày 16-12-2004, tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học thuộc Hội Nhà văn đã tổ chức kỷ niệm 10 năm thành lập và Hội thảo khoa học về Cao Bá Quát. Đông đảo các nhà nghiên cứu văn học, các chuyên gia Hán, Nôm, các nhà văn và bạn đọc đã đến dự. Giáo sư tiến sĩ Mai Quốc Liên, Giám đốc Trung tâm đã ôn lại chặng đường 10 năm nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá của dân tộc, đặc biệt là các công trình lớn về thân thế sự nghiệp của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, về từ điển Tiếng Huế… Trong công việc thầm lặng vô cùng khó khăn này, với sự cộng tác tâm huyết của các học giả nổi tiếng trong và ngoài nước, Trung tâm đã sưu tầm, bổ sung nhiều tài liệu đặc biệt quý hiếm, chẳng những có giá trị về văn chương mà còn là những chứng tích rực rỡ về lịch sử, chính trị, dân tộc học, ngôn ngữ học… Vừa công phu lật tìm trong bụi phủ của quá khứ vừa chạy đua với thời gian, vì có nhiều chuyên gia lớn về Hán, Nôm đã trên dưới 100 tuổi, công phu, chuẩn xác, năng động, sáng tạo, chặng đường 10 năm của Trung tâm là một điển hình đẹp đẽ đầy tâm huyết với văn hoá dân tộc… Văn nghệ xin giới thiệu bài “Biết thêm về Cao Bá Quát “của tác giả Nguyễn Huy Thuận trong Ban Quản lý Di tích Phú Thị, quê hương Cao Bá Quát.

Trong khoảng 10 năm trở lại đây đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà báo, sinh viên đại học, cao học về làng Phú Thị (Gia Lâm, Hà Nội) tìm tư liệu về Cao Bá Quát và quê hương Phú Thị. Đặc biệt có giáo sư Đào Mộng Nam, nhà nghiên cứu Đông Phương ở hải ngoại về Phú Thị thăm và giới thiệu công trình của ông đã dịch trên 1.400 bài thơ chữ Nho của Cao Bá Quát ra quốc ngữ. Ông đã phát hiện ra “thần lực” trong thơ Cao Bá Quát và từ khởi điểm này ông đang xây dựng một công trình văn hoá: “Nét đặc trưng văn hoá Việt Nam và tiến bộ khoa học hiện đại”. Ông đã đánh giá rất cao Cao Bá Quát:

– Nhà thơ vĩ đại nhất Á Đông.
– Bậc thi bá duy nhất tập đại thành cả 3 nghìn năm tư tưởng thi ca Đông Á.
– Thi sĩ, chiến sĩ cách mạng, thi sĩ tiên tri.

Ông có đọc cho các bạn ông nghe bài thơ “Nguyên Tiêu Khóc Cao Bá Quát ” trong đó có 2 câu:

Vạn thuở văn chương còn chẳng nát
Muôn đời thần khí lẽ nào tan…”

Đúng vậy, thật sự là như thế. Giấy rồi sẽ ra bụi, mực rồi sẽ phai mờ, nhưng văn chương không thể hư nát. Và thần khí lẽ nào tan…

Khi bạn đọc những dòng chữ naỳ, tang lễ của Giaó Sư Đaò Mộng Nam đã hoàn tất. Nhưng hình ảnh nhà thơ họ Đào vẫn còn đi lại quanh đây với chúng ta, còn thật lâu…

Phải chăng hình ảnh Đào Mộng Nam thương khóc Cao Bá Quát cũng là một cái nhìn tiên tri về chính cuộc đời của nhà thơ Đào Mộng Nam – người cũng y hệt như họ Cao, “suốt đời chỉ cúi đầu chào hoa mai” như một dòng thơ cổ lưu lại của họ Cao.

Nhân vật thứ hai trong Viết ở Rừng Phong đến với bạn đọc tuần này là Cư sĩ Thiều Chửu.

Ông tên thật là Nguyễn Hữu Kha, ra đời trong một gia đình nhà Nho nghèo ở làng Trung Tự, phường Đông Tác cũ, nay thuộc quận Đống  Đa, Hà Nội. Thân phụ của ông là ông Nguyễn Hữu Cầu, người cùng thời quen gọi là cụ Cử Đông Tác, từng tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục nên bị thực dân Pháp bắt tù, đày đi Côn Đảo. Cụ nội của ông là ông Nghè Đông Tác Nguyễn Văn Lý.

Ông kể về tuổi thơ của ông: “Nhà nghèo, chị em tôi 7-8 tuổi phải chăn bò, cắt cỏ, gánh nước, thổi cơm, nấu cám, 10 tuổi tát nước, 12 tuổi cày bừa. Năm tôi 13 tuổi, bố tôi bị giặc Pháp bắt, được hai tháng thì mẹ tôi sinh con thứ 8. Đẻ được ba ngày mẹ tôi đã phải đi làm đồng.”

16 tuổi, Hữu Kha đến Đồ Sơn bán thuốc Nam và bánh kẹo kiếm sống. Vì tin người nên ông mất hết vốn, ông phải làm phu kéo thuyền, đẩy xe, có lúc phải đi ăn xin. Hai năm trời cực khổ ấy khiến ông ngày càng tin yêu triết lý cứu khổ, cứu người của đạo Phật.

Cuối năm 1920, cụ Cử Cầu ra tù, ông về giúp cha mở hiệu thuốc Lợi Nhân Đường ở Ngã Tư Sở. Ông học được nghề thuốc Nam và trở thành vị lương y suốt đời chữa bệnh không lấy tiền. Ông lấy hiệu là Tịnh Liễu (Tịnh: trong sạch, Liễu: hiểu biết), ông bắt đầu tự học đạo Phật và ngoại ngữ. Được bà nội và bác ruột dạy chữ Hán, cùng đức tính kiên trì tự học, dần dà ông đã am hiểu chữ Hán, Nho giáo và Phật giáo, lại thông thạo các tiếng Anh, Pháp, Nhật.Tu theo Phật giáo, ông lấy hiệu là Thiều Chửu, có nghĩa là “cái chổi quét bụi,” thể hiện  tâm nguyện của mình là “cây chổi quét bụi ấy sẽ làm trong sáng giáo hội qua ngòi bút cải cách của mình”. Ngoài ra, “hàng ngày phải lau quét bụi trần tham nhiễm, đừng để gương lòng vẩn đục bởi phiền não vô minh che lấp”. Ông không trở thành tu sĩ mà chỉ là một cư sĩ, tu tại gia.

Ông thôi việc hiệu thuốc để giúp bà chị ông mưu sinh bằng nghề cho thuê đòn tang. Lúc 28 tuổi, ông giúp cậu em họ kiếm sống bằng cách cùng mua một máy in dập chân, thuê nhà số 36 phố Sinh Từ mở hiệu sách Hòa Ký, tên hiệu lấy từ phương châm Lục Hoà của Phật giáo.

Sau thời gian nghiên cứu Phật giáo, ông cho ra đời bản dịch Khóa hư lục, “bộ kinh cứu khổ cho đời” mà theo ông tác giả là vua Trần Nhân Tông, vị tổ Thiền phái Trúc Lâm Việt Nam.

Thiều Chửu góp công lớn trong việc sáng lập Hội Phật Giáo Bắc Kỳ (1934), nhưng khi Hội mời vào Ban Trị sự thì ông lại do dự vì thấy Ban này có mấy vị quan cai trị. Sau cùng ông nhận lời với ý nghĩ có thể lợi dụng Hội này để thực hành cái chí cải tao cái tệ nạn  thối nát của nhà chùa thời đó.

Sau khi Hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập năm 1934 và ra báo Đuốc tuệ, Thiều Chửu nhận lời làm quản lý và biên tập cho tờ báo. Ông tham gia thành lập Hội Truyền Bá Quốc Ngữ vào năm 1938.

Năm 1936, ông cùng bà Cả Mọc (Hoàng Thị Uyển) đồng sáng lập Hội Tế Sinh và làm Tổng Thư ký Hội. Ngay năm sau Hội mở cuộc cứu giúp nạn nhân trận lụt Đinh Sửu.

Ông kể: “Chính vì chung một chí nguyện chịu khổ sở nhọc nhằn để giúp đỡ đồng bào, cả đời không ăn ngon mặc đẹp, không ai có gia đình riêng, nên chúng tôi được nhiều người tin yêu. Rất nghèo mà Hội cần tiền bao nhiêu cũng có.”.

Năm 1937, lụt ngập đồng đất hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang. Ngoài việc góp sức  cứu trợ nhân dân, ông cùng bà Cả Mọc còn  đi xin tiền, xin quần áo; rồi cùng ông Hoàng Đạo Thúy, ông Trần Duy Hưng hàng ngày đem thuốc, tiền, quần áo đi tới từng nhà nạn nhân giúp cho đến khi họ sống được. Những nhân viên của Hội đã đi cứu tế ba tháng liên tục cho đến lúc lúa chín.

Năm 1941, khi trường Phật Học Phổ Quang được mở, ông đảm nhận việc dạy chữ Hán, giảng kinh và chủ trì các khóa lễ mà nhiều học viên sau này trở thành các bậc tu hành có uy tín như Hòa thượng Thích Tâm Tịch, đệ nhị Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Năm 1946 ông cùng một lớp học tăng ni và một số trẻ mồ côi hội Tế Sinh đi theo kháng chiến chống Pháp, tham gia lao động sản xuất, giáo dục, ông viết và dịch sách.

Trong Cải cách ruộng đất, do việc tố cáo của đội cải cách ruộng đất ở xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Thiều Chửu bị quy là địa chủ và bị đưa ra xỉa xói mắng nhiếc, ông bị vu cho là người làm đủ các tội ác. Bị vu cáo, cộng với sự thương cảm nhiều nông dân bị hàm oan trong Cải cách ruộng đất mà thấy mình bất lực, ông đã tự vẫn ngày 16 tháng 6 năm Giáp Ngọ, ngày 15 tháng 7 năm 1954,  trên dòng sông Cầu chỗ đập Thác Huống, tại xóm Đồng Tâm, xã Vạn Thắng, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Trước khi mất, Thiều Chửu thức trắng đêm viết thư tuyệt mệnh gửi Hồ Chí Minh, và thư dặn các học trò ông phấn đấu thực hiện cuộc Kháng chiến chống Pháp đến cùng, ông viết lời kết bản Tự Bạch như sau:

“Cái án “mạc tu hữu” (tức vu cáo, ông viết chữ Nho) mà ông Nhạc Phi phải chịu đời phong kiến còn có lẽ; ai ngờ đời nay chính bản thân tôi lại bị, thì tôi còn sống làm sao được nữa.”

Ông nhẩy xuống sông Cầu tự vận.

Cái chết của ông đã gây ra nỗi chấn động và tiếc thương vô hạn trong dân chúng địa phương và giới Phật tử cả nước.

Ni sư Thích Đàm Ánh, một học trò của Thiều Chửu kể: Thiều Chửu dặn đừng vớt xác ông, cứ để xác ông theo dòng sông trôi đi, nhưng người trong gia đình ông và học trò ông không nỡ làm thế. Sau năm 1954, họ trân trọng rước hài cốt ông về Hà Nội mai táng. Hiện nay mộ ông đặt tại nghĩa trang Thanh Tước, số mộ 170-C3.

Thiều Chửu để lại 93 tác phẩm viết và dịch. Ngoài bộ Hán Việt tự điển có giá trị vượt thời gian, ông dịch 14 bộ kinh căn bản của đạo Phật như Kinh Di Đà, Thủy Sám, Địa Tạng, Kim Cương Bát Nhã, Viên Giác, Pháp Hoa, Dược Sư, Phả Môn, Di Giáo, Tứ Thập Nhị Chương, Kinh Lễ Sáu Phương, Lục Tổ Đàn Kinh, Khóa Hư. Các sách  khác của ông có thể kể: Vì sao tôi tin Phật giáo, Phật học cương yếu, Tây du ký…

Ông viết nhiều sách về Phật học như Sự tích Phật tổ diễn ca, Nhòm qua cửa Phật, Cải tà quy chính, Khóa tụng hàng ngày, Con đường Phật học thế kỷ 20.

Năm 1943, ông soạn cuốn Giải thích truyện Quan Âm Thị Kính, chủ yếu dùng triết lý Phật học để giải thích. Ông coi tập thơ Nôm khuyết danh đó là kinh Phật chứ không chỉ là một tác phẩm văn chương.

Tác phẩm cuối cùng của ông là “Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX ” xuất bản năm 1952, tác phẩm thể hiện quan điểm của một Phật tử chân chính, yêu nước

YÊU VỢ NHẤT ĐỜI

Trích HOA TƯƠNG TƯ, người viết Nhà Văn Nữ HỒNG THỦY

Hoàng Hải Thủy người đàn ông yêu vợ nhất trên đời

Nếu không lưu lạc qua xứ người, chắc chẳng bao giờ tôi có cơ hội trở thành cô em gái của anh chị Hoàng Hải Thủy, để được biết một chuyện không thể nào ngờ: một nhà văn nổi tiếng, đẹp trai, hào hoa phong nhã như anh Hoàng Hải Thủy lại là một người chồng ngoan và ‘cực kỳ’ yêu vợ. Ở tuổi ngoài 80, nỗi lo sợ lớn nhất của anh Hoàng Hải Thủy là chị bỏ  đi trước anh và anh phải sống một mình. Có lẽ tại anh chị có một tình yêu đẹp quá. Tôi dám nói như vậy vì anh có tặng tôi tập thơ của anh xuất bản năm 1995. Trong những bài Thơ HHT tôi đoc được Tình Yêu của Anh Chị. Cuộc Tinh đã thắm đượm trong 60 năm.

Mở đầu tập Thơ là ảnh chị Hoàng Hải Thủy với nụ cười Mona Lisa.  Hình này chị chụp khi tóc chị đã điểm sương, nhưng trông chị còn đẹp. Trên tấm ảnh là giòng chữ:

“Tặng Alice. Washington DC Cuối Thu 94.”

Chữ ký Hoàng Hải Thủy rất bay bướm. Có bông hoa dưới chữ ký.

Trang tiếp theo là 4 câu Thơ Alice 54

Mùa thu mây trắng xây thành
Tình em mầu ấy có xanh da trời
Hoa lòng em có về tươi
Môi em có thắm nửa đời vì anh?

Thu 1954

Bài thơ thứ nhì là bài Yêu Hoài Ngàn Năm;  HH Thủy làm bài thơ này ngày 15 tháng 10 năm 1977  trong Phòng Biệt Giam Nhà Tù  Số 4 Phan Đăng Lưu. Trong ngôn ngữ ngục tù Cộng sản, Phòng Biệt Giam – gọi theo Tầu – là phòng giam một người; tiếng Pháp của Phòng Biệt Giam là xà-lim: cellule.

Yêu Hoài Ngàn Năm

Yêu nhau ngày tháng qua nhanh
Ba mươi năm lẻ chúng mình yêu nhau
Từ xanh đến bạc mái đầu
Tình Ta nước biển một mầu như xưa
Yêu bao giờ, đến bao giờ
Thời gian nào rộng cho vừa tình ta?
Lòng em hoa vẫn tươi hoa
Môi em thắm đến em già chưa phai
Yêu kiếp này, hẹn kiếp mai
Ngàn năm yêu mãi, yêu hoài nghe em
Mặt trời có lặn về đêm
Sáng mai em dậy bên thềm lại soi
Cuộc đời có khóc, có cười
Có cay đắng, có ngọt bùi mới hay
Thu về trời lại xanh mây
Ðầy trời anh thấy những ngày ta yêu
Càng yêu, yêu lại càng nhiều
Nhớ em, anh nhắn một điều: yêu em

Ðọc bài thơ này tôi chắc nhiều người cảm nhận được tình anh Hoàng Hải Thủy trao cho chị Alice tràn đầy và chung thủy đến như thế nào.

Những ngày ở tù  buồn khổ, cơ cực, Tình Yêu tạo cho anh cảm hứng làm những vần thơ cho chị. Những câu thơ đọc lên nghe nát cả lòng

Nằm trong khám tối âm u
Buồn nghe đêm lạnh sương mù sa mưa
Bồi hồi tưởng mái nhà xưa
Ngày đi đã nát, bây giờ ra sao?
Thương em nhạt phấn, phai đào
Ðêm đêm trở giấc chiêm bao một mình
Ngủ đi em, mộng bình minh
Mưa bao nhiêu giọt là tình bấy nhiêu

*

Nằm trong khám tối nghe mưa
Ðêm nào cũng thấy đêm thừa trống canh
Thương nhau nên ngủ không đành
Nhớ nhau nhưng mộng không thành em ơi
Anh nghe từng tiếng lệ rơi
Biết em đang khóc nên trời đổ mưa…

Làm trong xà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu năm 1976

o O o

Mới 10 tuổi chú nhi đồng Dương Trọng Hải (tên thật của anh Hoàng Hải Thủy) đã nuôi mộng trở thành văn sĩ.  Ngay năm 10 tuổi anh mê đọc Giông Tố của Vũ Trọng Phụng và Trường Đời của Lê Văn Trương. Anh phục các ông văn sĩ, anh thấy các ông như những Ông Trời trong những tác phẩm của các ông. Các ông có quyền tạo ra các nhân vật, tạo ra cuộc sống đa dạng cũng như định mệnh của các nhân vật đó.

Anh bắt đầu viết văn năm 18 tuổi. Một năm sau, 1952, anh dự cuộc thi Truyện Ngắn do Nhật báo Tiếng Dội tổ chức. Truyện được chọn đăng báo là tác giả được nhà báo trả 200$. Số tiền khá hấp dẫn với chàng trai 19 tuổi.

Năm 1952, Truyện ngắn dự thi ‘Người Con Gái Áo Xanh’ của anh được Giải Nhất.  Tiền thưởng là 3.000$.  Ông Trần Tấn Quốc, chủ nhiệm nhật báo Tiếng Dội đãi ba người trúng giải Nhất, Nhì, Ba bữa tiệc cao lâu, rồi đưa mỗi người một tấm check – ngân phiếu.

Đi lãnh tấm chi phiếu thứ nhất trong đời ở Ngân Hàng, về nhà anh biếu thầy mẹ anh 500$, anh chia cho các em anh một phần.  Anh đi may cho anh bộ complet đầu tiên với giá 700$. Bộ complet bằng tiền của anh.

Từ đó sự nghiệp văn chương của anh bắt đầu khởi sắc. Những truyện dài đăng trên các báo của anh  hấp dẫn người đọc. Lần lượt các truyện dài đăng báo của anh như  Như Truyện Thần Tiên, Tìm Em nơi Thiên Đường, Định Mệnh đã an bài, v.v. .. được các nhà xuất bản mua bản quyền xuất bản nhiều lần.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của anh là cuốn tiểu thuyết phóng tác Kiều Giang. Anh lấy tên cô con gái cưng, bé Kiều Giang lúc đó mới được 6 tháng để đặt tên cho tác phẩm này.

Nói tới nhà văn Hoàng Hải Thủy là ai cũng nghĩ ngay tới tác phẩm Kiều Giang. Điều này đã cho anh cảm hứng sáng tác bài thơ làm trong Xà lim Khu B, trại giam Phan Đăng Lưu năm 1978. Có những câu đọc muốn ứa nước mắt.

Người bạn tù hỏi qua song cửa
Phải anh là Hoàng Hải Thủy
Anh viết truyện Kiều Giang?
Kiều Giang …!
Ôi tên con, tên ngọc, tên vàng
Làm bố vỡ tim và hồn nức nở
Khi đặt tên con đâu ngờ có thuở
Nghe tên con giữa chốn lao tù
Những đêm dài ngục tối âm u
Bố thấy mắt con sáng bừng rực rỡ
Bố yêu con trong từng hơi thở
Trong trái tim hồng, trong giòng máu đỏ
Kiều Giang ơi, tiếng kêu thương nhớ
Con có run da thịt đêm nay?
Bố cho con trọn máu xương này.

Anh chị có 3 người con 2 trai 1 gái.  Hoài Nguyên và Kiều Giang ở Texas và Ohio. Hải Triều ở Sài Gòn. Tôi hỏi tại sao anh chị lại chọn Virginia để định cư. Anh cho biết anh quen biết anh Anh Ngọc (ca sĩ rất nổi tiếng của VN ngày xưa). Hồi anh còn ở VN, anh Anh Ngọc, ở Hoa Kỳ, có gửi về cho anh một tấm ảnh anh chị Anh Ngọc ngồi trên một thảm cỏ xanh, trên thảm cỏ có những chiếc lá vàng, quanh anh chị là cả một rừng lá thu vàng.

Anh Hoàng Hải Thủy mê ngay phong cảnh quá đẹp đó nên khi có giấy tờ được sang Mỹ, anh chị quyết định chọn nơi có thảm cỏ xanh và rừng lá vàng tuyệt đẹp để định cư. Đó là tiểu bang Virginia, một tiểu bang có cái tên tình tứ Virginia is for Lovers.

Anh chị chọn Virginia vì ở Virginia anh chị có mấy người bạn thân và có bà Khúc Minh Thơ, người hết lòng giúp đỡ những cựu tù nhân chính trị ở VN qua Hoa Kỳ tị nạn.

Thời gian đầu anh chị  thường dự những buổi họp văn nghệ. Từ 10 năm nay, vì tuổi tác, anh chị không tham dự những hội hè đình đám nữa. Những ngày gần đây sức khoẻ chị suy yếu, anh sợ chị sẽ bỏ anh đi trước. Chị bị ngã mấy lần. Anh tâm sự anh không thể sống thiếu chị.

Tôi trêu anh: tại chị nấu ăn ngon và cưng anh quá. Chị Hoàng Hải Thủy làm chả giò rất ngon. Nhắc đến chả giò tôi nhớ một kỷ niệm rất cảm động với anh chị. Một hôm tôi tình cờ gặp anh chị ở chợ Việt Nam bên Virginia.  Chị em tôi mừng rỡ ôm chầm lấy nhau vì lâu quá hai chị em mới có dịp gặp nhau. Chúng tôi ở cách xa nhau. Tôi ở Maryland, anh chị ở Virginia. Đang nói chuyện với tôi bỗng chị quay qua anh, nói:

– Anh về nhà lấy gói chả giò em để trên ngăn đá mang ra đây em biếu cô Thủy. Em ở đây nói chuyện với cô ấy. Lâu quá chị em mới gặp nhau.

Tôi cản thế nào cũng không được, anh đi thật nhanh ra xe để về nhà lấy chả giò cho tôi.  Anh chị thương tôi như vậy đó và tôi cũng rất quí mến anh chị. Chị rất dễ thương nên được lòng nhiều bà cùng cư ngụ trong tòa nhà.

Một hôm tôi tới thăm anh chị đúng lúc anh đi đón chị ở nhà thương  vừa về tới. Tôi thấy một bình hoa hồng thật đẹp của các bà cùng sống trong nhà để sẵn ở cửa phòng để mừng đón chị về. Vào trong nhà lại thấy bao nhiêu là bánh trái. Anh nói của các bà hàng xóm thấy chị đau nên mang tặng. Có mấy ai được mọi người quí mến như anh chị đâu.

Tôi rất mừng thấy anh còn khoẻ mạnh dù tuổi đã cao. Ngoài 80 mà anh vẫn còn phong độ, sáng suốt. Vẫn lái xe đưa chị đi chợ và viết bài cho các báo. Điều hạnh phúc nhất là tình yêu của anh chị sau 62 năm vẫn còn thắm thiết như những ngày đầu.

Ngày đó gia đình chị đi Vũng Tàu nghỉ mát, mướn nguyên một Villa. Anh họ của chị – con ông bác –  là bạn thân của anh, rủ anh cùng ra Vũng Tầu.

Biển xanh, nắng vàng và những đêm trăng thơ mộng của Vũng Tàu đã cho cặp trai tài gái sắc có cơ hội gần gũi và nẩy sinh tình cảm với nhau.

Kết quả anh tỏ tình và xin cưới chị. Anh kể: Tối hôm trước vừa tỏ tình với chị thì ngay sáng hôm sau khi  ra phố uống café, mua tờ báo đọc, thấy trên trang nhất giòng chữ 8 cột:

Hiệp Định Geneve ký kết. Hết chiến tranh, chia đôi đất nước.

Ngày anh chị quyết định kết hợp cuộc đời là ngày đất nước chia đôi thành hai miền Nam Bắc. Ngày đó không chỉ là ngày đặc biệt khiến anh chị nhớ mãi, mà cũng là ngày mà mọi người dân Việt không thể nào quên.

o O o

CTHĐ: Một Ngày Tháng Ba 2017 tôi đến dự Buổi Ra Mắt tác phẩm Hoa Tương Tư của Nhà Văn Nữ Hồng Thủy.

Buổi Ra Mắt thành công quá đep, quá vui. Hội trường đầy người. Tác giả và tác phẩm được chào đón nồng nhiệt.

Xin chia vui với Nhà Văn Nữ Hồng Thủy.

Thân tặng Nhà Văn Nữ Hồng Thủy bài thơ Chiều Xa Quê. Thơ của Kiều Giang, con gái tôi.

CHIỀU XA QUÊ (KIỀU GIANG)

Bước lên xe bus mỗi chiều
Bước vào đời mới ít nhiều ngạc nhiên.
Một đô một chỗ bình yên
Ngoài kia thiên hạ nổi chìm mặc ai.
Xe đi không vội đường dài
Mang theo mình những mặt người lạ nhau.
Tóc và da đủ sắc mầu
Cùng đau chung một nỗi đau quê người.
Ngang qua góc vắng bồi hồi
Một giàn mướp đẹp nắng phơi sắc vàng.
Thiếu con bướm trắng bay ngang,
Thiếu câu thơ cũ
, hoa vàng vô duyên.
Xe ngừng, kẻ xuống, người lên.
Buồn se áo nỉ, buồn tênh tiếng giầy.
Đèn đêm khép lại một ngày.
Trời thu sầu lạnh vai gầy xác xơ.
Nửa đời bỏ lại hững hờ
Nửa đời sau có bao gi
ờ lại yêu.

Sống buồn như thể sống vờ.
Sống vui như thể cơn mơ kéo dài.

Houston 2005.

o O o

CTHĐ: Tôi nhớ lại những buổi sáng năm xưa tôi trở dậy trong sà-lim Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, xương cốt mỏi rừ vì nằm co quắp trên bệ xi-măng, ngồi trong vùng sáng mờ từ bên ngoài lọt vào qua ô cửa gió – ô cửa gió trên cửa sắt sà-lim nhỏ bằng quyển sách –  ca nước lạnh để trước mặt, thèm ly cà-phê nóng, thèm khói thuốc lá.., tù không biết ngày nào được trở về mái nhà xưa và vòng tay gầy của người vợ hiền, nhưng những buổi sáng sà-lim ấy tôi không buồn, không tuyệt vọng… như những buổi sáng năm nay tôi sống an ninh ở xứ Mỹ.

Đây là bài thơ Buồn tôi làm ở Sài Gòn năm 1976.

Năm 1976 vợ chồng tôi líu ríu sống bên nhau trong căn nhà nhỏ trong xóm nhà được gọi là Cư Xá Tự Do – cư xá ở giữa Ngã Ba Ông Tạ và Ngã Tư Bẩy Hiền.

Như cánh lá vàng sau trận cuồng phong
Anh rạt về đây, xóm hẹp, người đông.
Nhà Em, nhà Anh cách hai thước ngõ
Những chiều mưa buồn nước ngập như sông.
Em đứng não nùng trước dàn ván gỗ
Như người chinh phụ ôm con đợi trông.
Anh đứng võ vàng sau khung cửa sổ
Như người tù nhìn trời qua chấn song.
Anh đứng trông mây, Em đứng trông chồng.
Vắng chồng con bế, con bồng, Em mang.
Cái bống là cái bống bang.
Mẹ bống yêu bống, bống càng làm thơ.
Tiếng ru hờ, tiếng khóc ơ
Vương trên khung cửa bây giờ tang thương.
Đìu hiu cuối ngõ, cùng đường.
Bên Anh tuyệt vọng, đoạn trường bên Em.
Ngày qua ngày, đêm theo đêm
Ngày rơi tàn tạ, đêm chìm phôi pha.
Buồn từ trong cửa buồn ra
Buồn từ ngã bẩy, ngã ba buồn về.
Ta đang sống, ta đang mê,
Hay ta đang chết não nề, Em ơi ?

Hoanghaithuy(Congtuhadong)

 

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s