những mười lăm năm ấy  biết bao nhiêu là …-Nguyễn Tà Cúc

tạp bút

logo-con-bo-cu%cc%9bo%cc%9bi

những mười lăm năm ấy

 biết bao nhiêu là …

 

nguyentacuc-pic

Nguyễn Tà Cúc

Gio-o

NTCuc151

(một trang trong Tạp chí Văn, Số 45 “Tưởng niệm Ngọc Dũng”, 9.2000

Chủ nhiệm/Chủ bút Nguyễn Xuân Hoàng

Mỹ nhân tự cổ…

 Tối hôm kỷ niệm Mười lăm năm Gió O ngày 9 tháng 10 năm 2016, lần đầu tiên trong đời có lẽ tôi đi sớm. Tôi đã được quý ông tặng không biết bao nhiêu cơ man đồng hồ và một lời nhắc khéo Mỹ nhân tự cổ như danh tướng/Bất hứa nhân gian kiến đúng giờ. Từng đã lái xe vượt hơn 300.000 ngàn dặm trong 10 năm trên xa lộ California, những xa lộ lúc nào cũng đông cả ngày mưa dông hay đêm gió loạn, nhất là rất phải tránh những chiếc xe tải hàng của các anh hùng sạn đạo bạt mạng trong đêm khuya, đúng theo châm ngôn “tránh đại xa không xấu mặt nào”; nhưng bây giờ phản ứng đã chậm, không phải vì mỹ nhân đã hứa nhân gian kiến bạc đầu nhưng vì càng ngày càng lười biếng. Nhất là mối lo đậu xe. Hội quán âm nhạc Lạc Cầm, do nhạc sĩ Sĩ Dự (con trai nhà thơ Nguyễn Sĩ Tế-thuộc nhóm Sáng Tạo) và các bạn sáng lập, nằm trong một ngõ hẻm bên cạnh khu Phước Lộc Thọ, Wesminster, California nên sự đậu xe hẳn là vất vả. Tuy đã được mời mấy lần tới nghe nhạc nhưng viễn tượng phải mang giầy cao gót lê thê một mình lúc tan hát tới chỗ đậu xe xa xôi đêm khuya kiểu Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách khiến tôi chùn lại.

Quý bạn nào từng đến khu Little Sài gòn đều rõ tự sự các bãi đậu xe chật hẹp ra sao. Nếu có ngạc nhiên mỗi khi đến đây là nhận xét này: Việt Nam ta hình như lái xe có khi không “chiến” lắm. Chỗ nào cho phép đi nhanh, chúng ta lái chầm chậm như đang hóng gió ở bờ sông Sài gòn. Chỗ nào cần chầm chậm, chúng ta lái veo veo, hơn cả tốc lực xe cứu hỏa. Nhưng tài nghệ đậu những chiếc xe khổng lồ như xe tăng vào những chỗ chỉ đủ cho hơn một chiếc mô-tô hai bánh thì chúng ta có thừa. Trừ tôi. Thế nên, hôm ấy,  khi phải dời xe từ bãi đậu Phước Lộc Thọ sang ngay trước cửa Lạc Cầm, tôi phải cầu cứu tới quý ông. Một ông khách ra tay nghĩa hiệp trong nháy mắt, cái kiểu các ông anh Bắc kỳ rất nhanh nhẹn và tự nhiên, không khách sáo.

Đầu hẻm, bên kia đường, là một con đường cũng hơi hẹp, đầy quán xá, với quán bán đậu hũ nổi tiếng Đông Phương, có bà chủ cùng quê Nam Định di cư vào Nam rồi di tản sang đây.  Bắc kỳ chúng tôi nhờ quán này mà hết phải tự làm dưa cà mắm muối. Năm nào đông mãn xuân khai mà bà chủ cao hứng, chúng tôi lại có thêm hành muối kèm bánh chưng vẫn bán tứ mùa. Bánh chưng quán này cũng tuyệt tác, chỉ nhỉnh hơn lòng bàn tay một chút, vuông vắn và chắc như một viên gạch chứ không phải loại to tướng bán vào mỗi dịp Tết với giá cắt cổ. Tôi để quên một chiếc bánh chưng Đông Phương cả tháng trong xó tủ lạnh, đến khi nhớ ra, vẫn không bị “lại gạo”, vẫn ngon như thường. Ngày xưa, hồi mới qua đây 1975, đàn bà chúng tôi đều phải tự muối dưa, làm chả lụa, gói bánh chưng và mọi thứ bắt đầu bằng chữ “bánh”. Hồi đó, tôi khám phá rằng nếu muối dưa hay hành ta trong những chiếc siêu để nấu thuốc bắc là an toàn nhất. Dù rằng sau đó, đừng hòng nấu thuốc bắc được nữa vì đã ám cái mùi hành muối. Chưa kể còn nuôi giá, tráng bánh cuốn và nấu phở. Và cà muối. Tôi chưa thấy cà muối nhà kiểu Bắc bán ở đâu, trừ hình như tại tiệm phở Nguyễn Huệ của ông Cảnh (vịt) góc Euclid và First, mà chỉ thấy bầy bán những hũ pha ớt từ Việt Nam khiến người sành điệu–dù Hà nội hay Sài gòn –đều phải ăn đỡ ghiền nếu không học được nghệ thuật muối cà. Phở Nguyễn Huệ, nhất phở gà, là quán quân Bắc hà bao lâu nay dù nhiều “phiến phở” gần gần mở hàng cạnh tranh đã lắm, mong soán ngôi “đế phở”. Quán phở Ông Cảnh là một thứ huyền thoại. Đó là chỗ các bạn nhà văn, nhà ca sĩ, nhà nghệ sĩ đến ăn phở, đương nhiên, nhưng chính là để ăn cơm với các món Bắc kỳ chính cống. Phở Tàu Bay, khác với phở Nguyễn Huệ, có cả phở lẫn bánh cuốn tráng tay vì di tản từ Sài gòn sang. Hai món đều đặc-Bắc kỳ nên tôi đã gặp nhiều nhà văn xuất thân từ Miền Bắc qua thăm dân Việt tại đây. Quán này cũng là một thứ huyền thoại vì có gốc Sài gòn.

Hồi mới qua 1975, bà thân sinh tôi trồng cà la liệt, thứ cà trắng nhỏ dòn; nhưng khác với Nguyễn Khuyến mà tôi mượn tạm 2 câu thơ Cà trắng nghĩ đắn đo không muối/ Muối đưa ai, ai biết mà đưa, bà không phải đắn đo vì đồng hương đến tận nhà mua ào ào. Thế là bà đã mang đi được một mảng quê hương Miền Bắc, kiểu chúng ta đi mang theo quê hương đấy.

Chưa kể, bà còn nhận ra rau khúc– một thứ cỏ hoang mọc viền xa lộ hay ngay trong vườn nhà California– để làm bánh khúc (hay đồ xôi khúc)  mà nếu không phải Bắc kỳ chính hiệu như bà thì không đời nào nhận ra. Từ khi bà qua đời cách đây đã hơn 20 năm, tôi không bao giờ ăn loại bánh khúc nhẻo nhèo nhèo chỉ có màu xanh của bất cứ một loại rau nào. Bánh khúc chính hiệu là những viên bánh làm bằng bột pha với rau khúc băm nhỏ bao ngoài nhân đậu xanh thịt hành tiêu thơm ngát. Những viên bánh này, được bọc ngoài bằng một lớp nếp,  khi hấp xong trông như những viên ngọc thạch xanh nhạt vẩn lên những sợi tơ màu xanh lá cây đậm, là chứng tích của rau khúc thái nhỏ lẫn vào bột. Những sợi rau khúc, ngoài phận sự giúp bánh khúc một màu xanh đặc biệt còn giúp cho bánh cứng cáp. Tôi đã từng phải băm rau khúc, sau khi đã giã nát cả lá và thân cành, đến tím cả lòng bàn tay. Thế nên, khi dọn ra đĩa, các viên bánh khúc có thể chiếm một chỗ huy hoàng, giữ nguyên hình trạng như một quả trứng, mà không nằm ẹp xuống như một tiểu thư ốm đau kinh niên của cái loại bánh khúc giả hiệu chỉ có màu xanh pha nhợt nhạt thê thảm kia. Cũng chính vì cứng cáp như thế nên bánh khúc làm khéo chỉ có đúng một lớp nếp bao ngoài, bạn có thể gắp riêng từng chiếc bánh khúc từ một đĩa bánh mà không bị giằng theo cả một tảng xôi, đến nỗi khi ăn xôi đi đằng xôi, khúc đi đằng khúc. Tôi biết nhiều đầu bếp hoặc luộc rau khúc lên hoặc cho vào máy [“quay sinh tố”] nghiến nát ra khiến tôi hơi buồn vì tuy tiện lợi, đỡ tốn thì giờ nhưng quyết không đẹp vì bánh bị nhuộm một màu xanh đậm chứ không thể có một màu xanh lơ lơ, xanh nhàn nhạt làm nền cho những sợi tơ rất đậm như thứ bột bánh kiểu kia.

nguyentacucden

Nguyễn Tà Cúc

Nếu ông thân sinh tôi là một tay biết ngoại ngữ, di chuyển nhiều nơi theo nhiệm sở, kể cả vùng hoang vu biên giới Trung -Việt thì bà thân sinh tôi lại là một sản phẩm trung thành của Văn minh đồng quê sông Hồng: Bà là một nông dân chính hiệu, không hề biết chữ, không hề đọc sách nhưng giữ được văn minh đồng quê này đến kỳ cùng. Tôi có thể khoe rằng –với sự làm chứng của các ông bạn Bắc kỳ đã hơn 80– nhờ bà, tôi có thể  tiếp tục nấu món “Cá thu kho riềng (non)” dù tôi vốn nấu ăn không khá. Các anh chị cao thủ đọc đến đây có thể cười khà: Ai mà không biết nấu món đó? Nhưng nghề …ăn cũng lắm công phu đấy. Bạn có thể gắp miếng cá thu kho kiểu này lên đung đưa như một miếng thịt kho, chắc chắn, không èo uột. G(r)iềng là giềng chọn chỗ còn non, ăn luôn được với cá, lượng cá bằng lượng giềng, thái giềng cũng tím cả tay gần như băm rau khúc. Nếu trồng giềng được tại vườn nhà thì cái khoản có giềng non và không bị đau tay, lại đỡ tốn rất nhiều tiền mua riềng [vì riềng chợ là riềng già, chỉ bấm lấy được tý riềng không già quá]. Từ lúc sửa soạn đến lúc nấu xong phải mất một ngày rưỡi. Khá nhiêu khê. Cái ức ở đây là tôi rất ít khi ăn được cá vì không ưa nổi mùi khiến nhà thơ Hà Huyền Chi có lần cãi nhau bằng thư với tôi rằng cuộc đời ẩm thực của tôi bị khuyết tật. 

Cũng như đa số người di cư Miền Bắc vào Nam, ông thân sinh tôi mất hết tài sản. Nhưng với bản tính “khéo tay làm lấy” và sáng kiến của những người phải thình lình đối mặt với một cuộc sống hoàn toàn xa lạ, ông tự làm lấy nhiều việc, tự tạo một thế giới đã mất nhưng vẫn giúp gia đình hòa trộn được vào với những người láng giềng mới. Với một người cháu họ, ông xây một bể nước để chứa nước mưa hay nước gánh khi khan nước. Ông cho phá vỡ một phần mái nhà phía sau, ngay trên bể nước, để ánh sáng tràn vào căn bếp.

Ông cũng cho xây một phòng toilette, kiểu cũ của người Pháp, có tường bao quanh và giữ sạch bằng những bậc thang. Quý độc giả đọc đến đây hẳn phải kêu lên: “Lạc đề quá xa rồi!” Không, sau này, khi Đảng Cộng sản chiếm được Miền Nam, có rất nhiều người sẽ thuật lại về các kiểu toilette giữa Miền Bắc và Miền Nam, giúp  chúng ta hình dung phần nào thành quả của Đảng Cộng sản dành cho dân Miền Bắc khi so sánh với bộ máy tuyên truyền của họ. James Jones, tác giả From Here to Eternity và The Thin Red Line vv., từng dành 2 trang nhắm so sánh “toilet” giữa giới quý tộc Anh,  giới đại chúng Pháp và Mỹ khi sang thăm Miền Nam. Ông “sỉ nhục” sự “xấu xí, không thẩm mỹ chút nào, không tươi tắn, không thể ngồi mà đọc sách được” của toilet Pháp trong 2 trang 115-116 [Viet Journal, Nhà xuất bản Delacorte Press, 1974] khi mở đầu bằng câu “Tôi không ngờ rằng, cho tới khi thăm Huế, toilet có thể trở thành một đề tài lý thú khi nghiên cứu về một nền văn hóa”.

Ngay trước cửa nhà, tuy không có vườn tược, ông trồng một cây roi [tức là cây mận], quả rất trắng và rất nhỏ nhưng rất ngọt. Khi có trái, ông thường chia cho bà con chòm xóm để họ biết “quả roi Miền Bắc” như thế nào. Ông mua vài cái nhà xoàng xoàng cho thuê và chăm chỉ đóng thuế, dù có lúc Thuế Kiệm Ước chi phí sửa sang lấy hẳn 40% tiền thuê nhà. Khi chồng cô thợ may tử trận, nghe cô ấy than khóc, thân sinh tôi ngẫm nghĩ rồi bảo cô ấy trả 40 % thuế Kiệm Ước, ngoại giả coi như huề. Cô thợ may này chính là người dậy tôi may áo dài, áo vest và luông áo dài. Kiến thức ấy sau này sẽ giúp tôi viết được bài nhận định về áo dài Lemur và hơn thế nữa, sẽ có lần giúp tôi sinh sống khi hoàn cảnh cá nhân thay đổi. Tôi sẽ nhận xét về áo dài của các bạn phụ nữ gió-o trong hôm Kỷ niệm 15 năm và phong trào áo-dài-cách-tân hiện nay tại Việt Nam. Nhưng sẽ là một bài khác. Không thể lạc đề xa hơn nữa.

 

Cuộc tình duyên của hai ông bà–hai người xem ra rất trái ngược nhau– có ảnh hưởng vào quan niệm sống-và-viết của tôi sau này.

[Mọi người đọc đến đây chắc phải hơi cáu: Đúng là đồ … phải gió. Đang nói chuyện Hội quán Lạc Cầm rất “an toàn trong ngõ hẻm, thanh lịch trong thành phố” Westminster thì lại vượt đường sang quán đậu hũ dưa cà mắm muối bánh cuốn phở chín rau khúc cá thu kho riềng; lại (có lẽ) mượn cớ nói về gia thế của mình chăng. Không, tôi không bao giờ lạc đường lạc ngõ. Bao lần can qua, không bao giờ phải dẫn tiền quân bỏ chạy; mà có tiến, cũng không bao giờ tiến nhầm chỗ, đánh nhầm quân ta như đã xẩy bao nhiêu lần cho các bạn khác trong chốn mang tiếng gió tanh mưa máu này. Và không, tôi chưa bao giờ lợi dụng lòng tốt của Gió-o để nói về chính tôi. Cho đến nay, có lúc tôi vẫn bị nhầm là một nam-tác gia. Hồi 1997-1998, Từ Trung tướng Trần Văn Trung, Cục trưởng Tổng Cục Chiến tranh Chính trị đến cụ Bùi Văn Bảo đều viết thư qua Khởi Hành gửi “Ông Nguyễn Tà Cúc”. Khi được cho biết, các cụ lấy làm kỳ nhưng không tiện hỏi, chỉ xin lỗi bằng cách cho biết đã nhầm vì tên lót cùng văn phong hệt “như một người đàn ông”. Với Trung tướng Trần Văn Trung, sự hiểu lầm ấy càng chính đáng khi ông vốn là Cố vấn của Hội Văn nghệ sĩ Quân đội mà tạp chí Khởi Hành–Chủ nhiệm/Chủ bút Đại tá Anh Việt Trần Văn Trọng & Thư ký Tòa soạn Viên Linh– chính là tờ báo của hội này. Tạp chí Khởi Hành trước 1975 quy tụ quần hùng của văn nghệ Miền Nam từ Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Võ Phiến tới lớp trẻ như Nguyễn Bắc Sơn, Tú Kếu bên cạnh Cao Huy Khanh, người phê bình văn học rất sắc. Nay Khởi Hành-Bộ Mới tục bản với một phụ nữ -Thư ký Tòa soạn là điều bất ngờ.

 

NTCuc1512

Phần Cụ Bùi, Cụ Bùi chỉ nhắc Bùi Bảo Trúc về cái sự lạ của một người đàn bà lại có chữ lót là Tà. Bùi Bảo Trúc tuy là tay “nhiều chuyện” nhất nước cũng không đoán nổi. Một hôm gặp ở quán Favori cách đây rất nhiều năm– tôi không lai vãng đã lâu nên không hiểu còn tối mò như một phòng trà hay không–“bạn ta” Bùi Bảo Trúc đề nghị tôi bỏ chữ “Tà” đi và thay vào chữ “Thị” như “Lê Thị Huệ hay Phạm Thị Hoài” vì “chữ Thị trong một cái tên -3 -chữ  gây ấn tượng rất mạnh cho người đọc, còn cái chữ ‘Tà’ quái dị chỉ tổ làm người ta thắc mắc”. Rất ít người biết Nguyễn Tà-Cúc là tên thật hay có ý nghĩa gì. Nhà văn Mặc Đỗ phải mất mấy tháng mới truy ra sau khi đã lục vấn các “danh nho” mà không có giải đáp. Vậy xin cứ đợi hồi sau sẽ rõ, may ra sẽ không mang tiếng “phải gió”.]

         Lòng em như nước Trường Giang ấy

          Sớm tối theo chàng đến Phúc Châu/

          Thiếp tâm chính tự Trường- giang thuỷ

          Trú dạ tuỳ lang đáo Phúc-Châu (1)

Khi tôi đến thì ban tổ chức đã có mặt. Dĩ nhiên. Nhận xét đầu tiên là, Ồ, nhiều áo dài quá. Và áo dài không lượt thượt, mặc với quần ống hơi túm. Ba chị em nàng Lê Thị Huệ rất lịch sự, rất mỗi người một vẻ riêng. Cũng như thường lệ, tôi hay tìm một xó tối nhưng lần này, không để quan sát mà để tự do nghĩ. Cảnh các cô mặc áo dài qua lại, những nụ cười thân ái trong một căn phòng lich sự có hoa có đàn kéo tôi về Miền Nam. Lòng em như nước Trường giang ấySớm tối theo người tớichốn xưa. Nghĩa là Sài gòn. Thanh Nam có một tùy bút tuyệt hay, đăng trên Nghệ Thuật,  trích 2 câu thơ này của một nàng kỹ nữ Trung Hoa, viết về những đêm cuối ở Hà Nội trước khi xuống tàu xuôi Nam, cùng Ngọc Giao và mấy người bạn trong chốn văn chương, kéo nhau uống trà đợi sáng ở tiệm Phúc Châu. Đọc xong, chúng ta biết Thanh Nam đã mất bạn, mất một quãng đời, khó tìm lại lắm, dù sau này vẫn tối phòng trà đêm quán rượu với bạn Văn Quang, Mặc Đỗ, Mai Thảo … Còn tôi, đã là một công dân Xứ Kỳ Hoa, nhưng vẫn còn khá phần Sài gòn-Hà nội gửi gấm ở đấy, ở Miền Nam, ở Việt Nam Cộng hòa

Kỷ niệm là một cái gì rất kỳ quặc. Lòng em không phải một căn nhà, dọn đồ đạc này ra, khuân đồ đạc khác vào dù có khi tráng lệ hơn, là lại đầy đặn như thường lệ. Có những cái thường lệ không lệ thường chút nào. Nhìn các cô nghiêng đầu, thủ thỉ hay cười đùa, tôi liên tưởng tới những bài họ viết. Thái độ Lê Thị Huệ rất văn-giống-người. Rất tỉnh táo, đừng nên bước-xa-hơn nếu không cần thiết. Giữa tôi và Lê Thị Huệ, có một điểm làm tôi ít phải suy nghĩ: Khi bất đồng ý kiến, Huệ không làm tôi cảm thấy e dè. Tôi vốn rất e dè trong đời thường. Và một điểm chính: Đôi khi nhìn lại, tôi cũng nghi ngờ rằng, có thể Huệ không hiểu tại sao lúc ấy tôi hành động (một cách bất thường). Nhưng chắc chắn, vì tôn trọng, và nhất là tin tưởng, một người cộng tác, Huệ không bao giờ hỏi đến. Rồi nghe lời giải thích, rất rất lâu, có khi vài năm sau, thậm chí có vẻ vô lý, mà không mất thì giờ thắc mắc. Có một thời gian, khoảng 2 năm, tôi đã “biến” mất như một “tà ma”. Mà không phải chỉ với Huệ.

Cho nên, giao dịch giang hồ đã nhiều, tôi vẫn quý những mối quen biết có sự hiểu ngầm được lâu dài và rộng rãi đến thế. Nếu phải trình bày một vấn đề nào công khai, tôi có thể viết rất cặn kẽ; nhưng trong tình bạn, tôi rất ngại những cuộc tranh biện dài dòng vô ích. Không tin nhau, hiểu nhau nổi thì chỉ ít lâu là vĩnh biệt không thương tiếc, nhất là khi đã có biệt hiệu là “tà ma”.

Tổng chi, với tư cách chủ bút của một diễn đàn, Huệ có đức tính mà chắc chắn tôi hầu như không có: Kiên nhẫn. Thông cảm.

Tôi quen Lê Thị Huệ chừng 10 năm nhưng Gió-O đà được 15 năm.

Tôi nghĩ, không phải di tản thì chắc không có Gió-O. Có thể có nhà văn Lê Thị Huệ nhưng chắc không có Gió O. Chúng ta di tản ra ngoại quốc trước tiên là làm báo giấy, rồi báo mạng. Cùng lúc với các chợ. Rồi thời đại Internet dẫn đến báo mạng, sách mạng. Như một sự tiến triển không tránh được như bây giờ chúng ta có tiệm Đông Phương [và có lẽ tại nhiều chỗ khác, bất cứ nơi nào có người Việt] với dưa cà mắm muối mà trước kia chúng ta chưa có.

trả lời phỏng vấn (xem các trả lời phỏng vấn tại đây)

nhân dịp Gió O kỷ niệm 15 năm sinh hoạt 10-2016 

Nguyễn Tà Cúc gửi về vào tháng 7. 2017 , (chú thích của chủ biên Gió O)

Trên rừng ba mươi sáu thứ chim/ Tại xứ Kỳ Hoa vô số các loại web.

 

Gió O: Văn Chương Mạng. Với người tiêu thụ tham gia vào mạng internet hiện nay, có khuynh hướng tiên đoán là sản phẩm tưởng tượng như truyện/chuyện dài ngắn sẽ lụi.  Các hàng thật như tản mạn/tự chuyện … sẽ lên, bạn nghĩ thế nào?

Nguyễn Tà Cúc: Tôi nhớ hồi xưa đã có một loạt dấu hỏi từ các tạp chí — đại đa số nhân sự sáng lập & chủ trương đều xuất thân từ Miền Nam– mệnh danh là văn học tại Hoa Kỳ khi phải đối đầu với “báo chợ”, là loại báo cho không hay chỉ bán độ 25 cents, 50 cents vv. Loại báo này rất dễ làm vì thu thập xào nấu [no pun intended] tin tức thế giới và Việt Nam cộng thêm tin tức về ca sĩ vv nên họ hạ các anh chị “văn học” sát ván. Tự chủ trương và những đề tài của một tạp chí văn học Việt Nam đã hạn chế giới độc giả của họ. Nhưng chúng ta khó mà tiên đoán cái gì xẩy ra vì bất cứ báo nào, từ báo giấy tới báo mạng, cũng cho người đọc một sự chọn lựa và sự chọn lựa ấy không hề “hên xui may rủi”. Sau nữa, tài năng [và thành tích trong quá khứ nếu viết hồi ký, tự truyện] sẽ quyết định sự thành công của một tác giả.

Theo tôi, bởi thế, hình như ngược lại. Người đọc vẫn khao khát được đọc sáng tác có sức rung động, có sức bắt người ta phải dừng lại suy ngẫm, nhất là trong thời này, khi chiến tranh là một hiện diện thường trực.  Có một hiện tượng khiến tôi cho rằng sáng tác vẫn được chú ý là sự xuất hiện càng lúc càng nhiều các blog của cá nhân hay website của một nhóm–có khi được sự tiếp tay của độc giả– chuyên đăng tải những tác phẩm cũ hay tạp chí, nhất là tác phẩm và tạp chí thuộc Văn học Miền Nam. Điều đó có thể ám chỉ rằng, sau 40 năm từ khi Việt Nam Cộng hòa thất thủ hay sau 80 năm [Khái Hưng bị thủ tiêu năm 1947], giá trị nghệ thuật của những ngọn triều văn học Không-Cộng sản khác nhau ấy đã được chứng minh, yêu mến và xác định được chỗ đứng trong sự thay đổi của một nền kỹ nghệ thông tin cực kỳ chớp nhoáng. Tương tự, nếu không có giá trị nghệ thuật hay sự thật thì rất khó tìm được độc giả vì chính độc giả quyết định chứ không phải những lời giới thiệu nồng nàn của bạn hữu -mà Mặc Đỗ vẫn gọi đùa là “những chiếc nạng văn nghệ” — và của cả của những người phê bình.

Gió O: Bạn có thể cho biết nơi bạn đang sống, và liên hệ môi trường đang sinh sống của bạn với sinh hoạt Văn Chương Mạng của cá nhân bạn. Bạn có nhu cầu chia sẻ những sáng tác của bạn với những người đang sinh hoạt hàng ngày với mình không ? Có thì tại sao, và không thì tại sao?

Nguyễn Tà Cúc:  Vì là một người nghiên cứu nhưng thỉnh thoảng cũng có sáng tác (thơ) xuất hiện, tôi có mấy ý nghĩ sau đây.

Nghiên cứu/Phê bình

Tôi sống tại Hoa Kỳ. Trong lãnh vực nghiên cứu/phê bình, tôi thường chia sẻ kết quả của các nghiên cứu với độc giả Khởi Hành và với vài mạng như Gió-O –rồi lan ra sang các mạng khác, kể các mạng hay blog ở Việt Nam — mà tôi coi độc giả Khởi Hành và tất cả các mạng đó như tri âm vì quan tâm đến cùng một vấn đề, đến nỗi bỏ thì giờ quý báu, hay bỏ tiền mua báo, rồi có khi còn cung cấp thêm tài liệu bổ sung trong khi rõ ràng họ có nhiều chọn lựa tại các mạng khác, với các nhà phê bình/nghiên cứu khác.

 Nhưng cũng phải rất thành thực mà công nhận rằng, ngoài tình tri âm thượng dẫn mà tôi coi là một bổn phận với miền đất đã ra đi  một danh dự được đáp ứng tại nơi đất mới, hầu như tôi không gửi bài tới cho nhiều mạng và tuyệt đối không gửi cho bạn bè hay người quen, trừ một hai người không theo dõi được Internet; hay thỉnh thoảng, trừ một bài đầu tiên trong loạt để báo tin, phòng khi sau này bị trách là “Sao không cho người ta biết?!!!” Sau khi bài đăng trên mạng, nhiều phần tôi cũng không cho ai hay. Chủ trương ấy có thể bị coi là quá khích nhưng tôi quan niệm một vấn đề “sinh tử” với tôi không có nghĩa cũng sinh tử với người khác. Tình thân hữu càng không cho tôi đặc ân để buộc họ đọc những gì tôi viết và ngược lại. 

Tôi muốn nói rõ hơn một chút trước khi bị nghi ngờ rằng “kiêu căng”, không cần bạn hữu hay độc giả vv và vv. Hai chữ “sinh tử” nhắm chỉ lãnh vực mà một người nghiên cứu chú tâm vào. Với tôi, tôi chuyên tâm vào Văn học Miền Nam rồi trong vòng Văn học Miền Nam, tôi chỉ có thể dồn sức hàng chục năm vào vài vấn đề không những có thể tự được coi là nhân chứng mà còn có tương đối có đủ tài liệu.

Trước hết, tôi đã viết về Mặc Đỗ và hoạt động văn nghệ của ông vì được nhận thư từ soi sáng nhiều vấn đề của VHMN. Thứ hai, về cuốn Kinh Thánh Việt ngữ Tin lành và phần hợp tác phiên dịch của Phan Khôi vì được đọc Kinh Thánh Tin Lành Việt ngữ trước 1975, cộng thêm sự tình cờ quen biết với giới mục sư Tin Lành, trong số có người đã tái phiên dịch cuốn Kinh Thánh nêu trên. Thứ ba, về hoạt động của Trung Tâm Văn bút Việt Nam 1957-1975 và Ủy ban Văn nghệ sĩ-Bị Cầm tù 1979-1997. Sau 1975, tôi đã giữ phần vụ Trưởng Ủy Ban Văn Nghệ sĩ -Bị Cầm tù trong một thời gian ngắn khi tham dự Trung Tâm Văn bút Việt Nam Hải ngoại từ 1996-2000. Tôi cũng phải mở ngoặc để nói rằng tôi quen Thanh Lãng, vị chủ tịch lâu đời nhất mà cũng gây nhiều tranh luận nhất, ngay từ Sài gòn nên càng có thể hình dung những gì ông quyết định trong khung suy nghĩ của một trí thức cực Khuynh Tả.  Chính vì thế, tôi lưu giữ được khá nhiều tài liệu từ các văn hữu khác trao cho. Họ biết, và muốn, một ngày kia, lược sử của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Lưu vong phải được bảo toàn trong lịch sử người Việt và nhà văn Miền Nam lưu vong. Trung Tâm này do nhà thơ Phó Chủ tịch Nguyên Sa TT VBVN khởi xướng, rút từ kinh nghiệm của các nhà văn Hung Gia Lợi lưu vong, rồi được Trung Tá Không quân/Chủ biên tạp chí Lý Tưởng/nhà văn Trần Tam Tiệp cùng nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh đồng sáng lập, 1978. Rồi ra, Trần Tam Tiệp sẽ cáng đáng phần giúp đỡ anh em bị cầm tù suốt gần 20 năm: ông là nhà văn duy nhất của Miền Nam làm việc cho “Ủy ban Ngân sách” trực thuộc Ủy ban Văn Nghệ sĩ-Bị Cầm tù- Văn bút Quốc tế. Ngoài ra, tôi còn quan tâm đến bối cảnh thành lập, nhân sự  hợp tác với nhật báo Tự Do (thời Mặc Đỗ sáng lập), tạp chí Bách Khoa  Sáng Tạo. Kế đó, một chủ đề rất lớn với tôi là Chiến tranh Việt Nam. Tôi đã phân tích những công trình nghiên cứu khác hay hồi ký phản ảnh trận chiến chống Cộng sản của người Việt tự do, người Việt di cư và người Việt di tản.

Tôi liệt kê rất chi tiết những lãnh vực nghiên cứu thượng dẫn để có thể kết luận rằng đã không “quá khích” đối với bạn hữu xa gần, vì như độc giả, chưa chắc họ đã coi đó là những vấn đề “sinh tử”. Hay cũng không “kiêu căng” khi không muốn đọc những đề tài khác. Với những đề tài khác, thường tôi chỉ chọn đọc vài tác giả. Tôi tin nhiều độc giả cũng có sự chọn lựa tương tự khi chỉ quan tâm tới vài vấn đề “sinh tử” hay theo dõi thường xuyên vài tác giả nào đó.

Sáng tác

Về sáng tác, tôi càng phải thành thực hơn mà tâm sự rằng bản tính vốn cực kỳ “thầm lặng”. Nhiều bài thơ chưa xuất hiện ở đâu. Tôi đang viết tiếp một truyện dài do một người bạn vốn là một nhà văn Miền Nam giao phó nhưng chưa hề phổ biến-từng kỳ. Bởi thế, nếu chỉ riêng về sáng tác thì lại càng dễ dàng để giải thích sự thầm lặng ấy: Tôi không có bổn phận với ai–ngoài tôi–để quyết định khi nào muốn chia sẻ, ở đâu, và với ai.

[Không phải vì sợ bị chê. Bị chê làm thơ hay ngâm thơ dở chưa chắc đã đau hơn bắc kỳ-muối dưa-mà-bị-khú. Tôi không đùa đâu. Tôi từng chứng kiến Mai Thảo thì thầm với Viên Linh : “Cô ấy cũng làm thơ à?” khi nạn nhân đang say sưa độc diễn trên sân khấu. Tôi cũng ngồi bên cạnh ông cụ Nguyễn Sỹ Tế khi ông cụ không nói thầm với tôi: “Ai lại ngâm thơ Tô Thùy Yên ư ử như ban Tao Đàn thế kia?!” Và lập tức toàn dân có mặt hôm đó được nghe-và-xem Nguyễn Sĩ Tế biểu diễn thơ Tô Thùy Yên như thế nào. Công nhận Nguyễn Sỹ Tế vốn là một thi sĩ lại là một tay lý luận nên biết khi nào nên đọc khi nào nên ngâm-ư ử-như-kiểu-Tao Đàn. Theo tôi, bị chê ngâm thơ dở, hát không hay, múa không dẻo…là chuyện thường. Ca sĩ bị chê hát dở mới có chuyện chứ. Nhưng Bắc kỳ mà muối dưa khú sau một đời muối dưa như tôi thì rất cần nên xét lại.]

Gió O: Tiếng Việt ở Sài Gòn có thể khác với tiếng Việt ở California và như thế việc xử dụng Tiếng Việt đóng vai trò thế nào trong sinh hoạt giao tiếp với độc giả toàn cầu của thế giới mạng? Nỗ lực viết tiếng Việt hiện hữu như thế nào khi bạn mở máy sáng tác một tác phẩm. Bạn có bao giờ nghĩ ngợi về vấn đề viết tiếng Việt trong thế giới toàn cầu hóa không?

 Nguyễn Tà Cúc: Theo tôi, tiếng Việt trong nước không khác mấy với tiếng Việt ở California hay của Miền Nam vì một lý do quan trọng: Tiếng Việt-Nói có thể khác nhưng Tiếng Việt-Viết thì không thay đổi lắm từ cái mốc 1954-1975. [Riêng trong lãnh vực nghiên cứu phê bình, những thế hệ trẻ hơn trong nước sử dụng tiếng Việt rất tài tình vì họ phải biết các thuật ngữ mới được dịch ra tiếng Việt như thế nào trong khi chúng ta dừng lại ở 1975 nên dĩ nhiên một kho thuật ngữ mới ở rất nhiều lãnh vực như Luật pháp, Triết học, Thần học, Kinh tế  vv. chúng ta chưa kịp dịch cho đủ và/hay chính xác. Tôi vẫn phải lùng mua tự điển chuyên môn của các chuyên viên /học giả khả tín từ trong nước để tra cứu và học hỏi thêm.] Các tác phẩm giá trị của Văn học Miền Nam đã và vẫn được đón nhận nồng nhiệt trong nước; bởi thế,  một người xuất thân từ nền giáo dục và xã hội Miền Nam có di tản đến đâu cũng chỉ cần viết cho chính xác thôi.

Tiếng Việt-Viết cũng ít thay đổi không chỉ nhờ văn học mà nhờ âm nhạc của Miền Nam. Âm nhạc Miền Nam cũng được hoan nghênh nhiệt liệt, cái âm nhạc vẫn bị gọi là “sến”, thứ âm nhạc tuyền Tiếng Việt (Miền Nam)-Viết. Thí dụ như bài Con đường xưa em đi của Châu Kỳ và Hồ Đình Phương. Bài này đặc biệt có mấy câu  “Chiến trường anh bước đi” và “Nơi đây phiên gác canh dài” rõ ràng chỉ người lính Việt Nam Cộng hòa nhưng vẫn được bảo vệ cho đúng với nguyên tác, dù sau 1975:

Con đường xưa em đi, vàng lên mái tóc thề, ngõ hồn dâng tái tê

Anh làm thơ vu quy, khách qua đường lắng nghe chuyện tình ta đã ghi

Những mùa trăng vu quy, vì mưa gió không về

Chiến trường anh bước đi

Có nàng hoen đôi mi, ngóng theo đường vắng hoe… Hỏi còn ai cố tri

Em ơi! nhìn gió lên khơi, lòng có trông vời một người xa cuối trời?

Nơi đây phiên gác canh dài, e ấp đôi lời mình còn nhớ thương hoài

Em ơi! màu áo phong sương, mình ước huy hoàng được bàn tay chính nàng...

Những “vàng lên mái tóc thề” hay “hỏi còn ai cố tri ?” “nhìn gió lên khơi” vv.  quyết không thể là Tiếng Việt-Nói. Nhưng đã trở thành một thứ tiếng Việt “hoàn cầu”. Sự được ái mộ của các bài ca của Miền Nam trước 1975–các bài ca rất sến nương, rất bình dân, được nhiều ca sĩ hát và nhiều người thuộc, chứ không phải loại “quý phái” như “nhạc Trịnh”–giải thích một điều: Ngôn ngữ đó tuy cũ với chúng ta (dân Miền Nam trước 1975 và dân di tản) nhưng rất tân kỳ với các thế hệ sau này tại Việt Nam. Vì trước đây có loại Nhạc đỏ, loại nhạc có những câu: “Lệnh tiến công cả nước xuống đường/  Mẹ đã đi trong đám biểu tình cùng đứa con thơ /Vẫn bước hiên ngang trước nòng súng giặc…”, Người mẹ Miền Nam tay không thắng giặc,  “Quả pháo ơi, sao mà yêu như đứa trẻ”Cô gái Sài Gòn đi tải đạn (Lư Nhất Vũ-nhân Tết Mậu Thân);  “Cả cuộc đời Bác chăm lo cho hạnh phúc nhân dân/ Cả cuộc đời Bác hi sinh cho dân tộc Việt Nam”Bác Hồ Một Tình Yêu Bao La, hay “Sài Gòn ơi! Vững tin đã bao năm rồi một ngày vui giải phóng/ Ta nghe vang như tiếng Bác Hồ dậy từ non sông!/ Rạo rực sao hôm nay, Bác vui với hội toàn dân…“,  Đất Nước Trọn Niềm Vui.

Đúng là điển hình XHCN-Xã hội chủ nghĩa -Xạo hoài cha nội- Xạo hết chỗ nói.

Hèn chi mà vẫn phải “Tiến lên, ta cứ tiến lên/Tiến lên không biết đi đâu/Tiến lên ta cứ hàng đầu tiến lên.” Thật ra thì “ta” biết “đi” đâu chứ: Đi lùi về văn học, ngôn ngữ  Miền Nam. Về các sinh hoạt văn nghệ của Miền Nam như phòng trà với các ban nhạc. Về với áo dài đủ loại. Về với các nghệ sĩ như Thanh Nga, Thẩm Thúy Hằng vv. Những ca sĩ Miền Nam cũ–từ ca sĩ hát nhạc Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Vũ Thành An …tới ca sĩ hát nhạc Châu Kỳ, Y Vân, Minh Kỳ, Hoài Linh [không phải nghệ sĩ Hoài Linh], Mạnh Phát, Trần Thiện Thanh, Trầm Tử Thiêng…–  bây giờ tha hồ đắt hàng khiến quá khứ của họ tái xuất với một Việt Nam Cộng hòa rất văn nghệ,  kể cả giữa quân đội Việt Nam Cộng hòa cùng giới nhạc trẻ. Nhiều nghệ sĩ trong số này  nay trở thành thần tượng trong nước, 40 năm sau.

Hàng đầu, từ trái qua phải: Trung tá Quản đốc Đài Phát thanh Quân đội Văn Quang, Trung tá Tạ Tỵ,

Trung tá Cục phó Cục Tâm Lý chiến Phan Trọng Thiện,

Đại Tá Cục trưởng Cục Quân cụ Anh Việt Trần Văn Trọng,

Trung Tướng Tổng Cục trưởng Cục Chiến tranh Chính trị và Bà Trần Văn Trung

Loại Nhạc đỏ này chán lắm. Trước kia thì “Yêu biết mấy, nghe con tập nói /Tiếng đầu lòng con gọi Stalin! […]Thương cha, thương mẹ, thương chồng/ Thương mình thương một, thương Ông thương mười…[Tố Hữu khóc Stalin]. Bây giờ thì các cô Sài gòn coi quả pháo giết người như …đứa trẻ, trong khi tôi nhớ hồi Mậu Thân, khi Đảng Cộng sản tấn công bất ngờ, các-cô Sài gòn như chúng tôi đều phải chạy vào nhà thờ nhà chùa trú ẩn. Một điều làm tôi hết sức mích lòng là họ khôn ngoan lắm, họ đẩy phụ nữ và con trẻ ra trận tiền để gán cho những chuyện “xạo hoài cha nội” ấy, chứ nếu chính họ “Quả pháo ơi, sao mà yêu như đứa trẻ”, hay Tố Hữu dám nhận “Thương cha, thương mẹ, thương …bồ/ Thương mình thương một, thương Ông thương mười” thì tôi đã không phải hóa hình từ một cô Bắc kỳ-muối-dưa từ một nơi xa xứ, từ một đời đã khác,  để bắt buộc bước vào một đời nghiên cứu cho một quê hương cũ như hiện nay.

         Nghĩa là nói chung, nếu viết cho đúng, cho hay, cho mới thì ranh giới trong-ngoài ấy phải và nên biến mất và tự nhiên sẽ được “toàn cầu hóa” trong biên giới của  người sử dụng chữ & tiếng Việt. Còn nếu bàn về sáng tác thì sự làm mới ngôn ngữ bất kỳ ở đâu mới là quan trọng, ở Việt Nam hay thế giới. Sự “toàn cầu hóa” chỉ giúp phương tiện, không sản xuất tài năng. Nếu chúng ta quay lại thời 1954, đọc lại các nhà văn Miền Nam thì thấy họ làm mới tiếng Việt trong một bước tiến nhẩy vọt. Lấy thí dụ Mặc Đỗ: ông sinh năm 1917 nhưng truyện ngắn của ông rất hiện đại vì chịu ảnh hưởng từ nền văn học Tây phương. Ông xuất thân từ văn chương Pháp trước khi “tự học” tiếng Việt nhưng may mắn có một căn bản chữ Hán rất vững nên văn ông không giống văn dịch thuật. Văn Quang viết rất nhiều truyện với lối dàn dựng có thể làm phim được. Riêng lối đặt tên truyện thì Văn Quang đáng mặt cao thủ, thường mỗi truyện chỉ có đúng ba hay bốn chữ rất thơ và rất đậm cảm xúc: Thùy Dương trangNguyệt áo đỏChân trời tím, Ngàn năm mây bay, Đường vào bến mê, Đời chưa trang điểm, Người yêu của lính, Nét môi cuồng vọng,  vv. Đằng khác, truyện Mã Lộ của Viên Linh, một người di cư, có tới 95% đối thoại và giọng văn Miền Nam dù đó chỉ là một tác phẩm duy nhất của ông có sắc thái này.

Từ khi Thanh Tâm Tuyền chê truyện Mặc Đỗ là “làm dáng”, từ khi Hà Thượng Nhân chê thơ Thanh Tâm Tuyền là “thơ hũ nút” thì chỉ không tới mươi năm sau, có một số nhà văn Miền Nam đã cũng cố viết theo lối ấy của Mặc Đỗ và Thơ Tự Do đã tràn lan trên báo chí Miền Nam như lời chứng của nhà thơ Viên Linh khi phản bác Vũ Hạnh, một cán bộ Cộng sản nằm vùng:

Gọi nó là con đẻ của lý trí, ông Hạnh đã quên cách đây nhiều năm, người ta kêu rằng  không hiểu được thơ tự do trong khi ngày nay, ở bất cứ một tờ nhật báo nào cũng có thơ tự do. Ông Hạnh có thể dùng chữ con đẻ của lý trí vừa để chỉ Thơ Tự Do là một phát minh của sự suy tính, luận lý, vừa chỉ nó là một cái gì phi Thơ. Tuy nhiên trong cả hai nghĩa đều là không đúng. Tôi chưa thấy một thế hệ nào có thi ca giản dị như Thơ Tự Do,  giản dị đến nỗi ai cũng biết nói đến cách làm thơ tự do. Nếu thấy sự lổng chổng hay đa dạng của nó thì không phải vì đó là một cố tình rắc rối, mà là một cách nói hết sự thật, nghĩ đến đâu viết đến đấy, nghĩ cái gì nói cái ấy, nghĩa là không sửa soạn, xếp đặt, không  cầu kỳ, lập dị: Thơ Tự Do đã giản lược từ ngữ đến chỗ nhẵn bóng nhất… .[Viên Linh, “Anh lùn cạnh nhà thờ Đức Bà”, 1966, Nghệ Thuật]

Dĩ nhiên chúng ta có thể kết luận rằng đó là vì họ chưa kịp ra khỏi Việt Nam; họ vẫn còn sống trong một khí hậu đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho nguồn kiến thức đó.  Nhưng nếu là một người cầm bút thì vấn đề ngay từ đầu vẫn là sự thông thạo một ngôn ngữ-viết đến nỗi có thể điều khiển và làm mới được theo ý mình dù sống tại đâu. Hai thí dụ điển hình là Ta thấy hình ta những miếu đền, Mai Thảo:

          ...Tuyết sặc sỡ và nắng lạnh buốt 

          Ủng, lông, da, len, dạ một đồng lù lù 

          Những sớm mai ở Virginia
Trong bếp nhà Ngọc Dũng 

          Tôi một đống tôi sặc sỡ tôi lù lù … .

 và Thủy Mộ Quan, Viên Linh. Hai tập thơ này đều được sáng tác và xuất bản sau 1975, ngoài Miền Nam.

Gió O: Theo bạn Văn Chương Mạng xóa nhòa được biên giới địa lý như thế nào?

Nguyễn Tà Cúc:  Lại “biết rồi khổ lắm nói mãi”, không có Internet bùng nổ như bây giờ thì bọn nghiên cứu chúng tôi còn là khốn khổ, nhất là khi nghiên cứu về Văn học Miền Nam thì lấy đâu sách báo mà nghiên cứu ngoài một phần rất lớn tại các đại học Hoa Kỳ hay thế giới? Nhưng ai mượn được? Hình như có lần tôi đọc được đâu đó rằng chỉ cần biết tên một cuốn sách và nó nằm ở đâu là bất cứ ai cũng mượn được. Thế là nhầm to và chỉ gây hy vọng hão huyền cho người khác. Tôi xin mở ngoặc để chia sẻ kinh nghiệm của tôi. Trên thực tế, một người chỉ có thể mượn sách được thuộc khu vực quận hạt mà người ấy sinh sống. Bởi thế, nhờ sinh sống tại một thành phố thuộc về Quận Los Angeles (dù chỉ cách Quận Cam 17 dặm)  mà tôi mượn được tất cả sách tại các thành phố cùng trong hệ thống Los Angeles. Ngược lại, tôi không thể mượn sách thuộc Quận Huntington Beach hay Quận Cam. Nhưng sách của các thư viện công cộng thuộc các quận hạt thì không có sách khảo cứu và dĩ nhiên, rất hiếm sách Miền Nam trước 1975. Tương tự, chỉ có sinh viên đại học-4 năm, vì có đóng phí khoản mượn sách trong học phí hằng năm, mới được mượn sách từ tất cả các đại học khác tại Hoa Kỳ (và có khi tại Úc châu,) bất kể là tại tiểu bang nào. Nhưng những bộ sách hay cuốn sách thuộc loại “reference” thì không được mượn. Nếu quản thủ thư viện nơi được mượn cao hứng cho rằng cuốn sách được mượn quá hiếm, họ có toàn quyền không cho mượn (về nhà). Hồi tôi trở lại Penn State học và khám phá mấy số Nhật báo Tự Do ở một thư viện của một đại học khác, tôi phải nhờ tới bà quản thủ thư viện thuyết phục họ. Mấy số Tự Do đó tối cần thiết cho tôi không những trong việc nghiên cứu về nhà văn Mặc Đỗ mà còn về Trung Tâm Văn bút Việt Nam. Ngoài ra, có một số Đại học không thuộc hệ thống [thí dụ  thuộc vào các hệ phái tôn giáo) liên bang dù công dù tư thì dĩ nhiên họ có quyền từ chối.

Nhờ có các mạng– mà đầy đủ và khả tín nhất vẫn là Diễn đàn Sách Xưa–tôi có thể vói tới một phần kho tàng ấy. Rồi nếu được đồng nghiệp hay người sưu tập sách ở Việt Nam tin cậy thì có thể xin họ thêm tài liệu. Tôi lại còn nhớ là khi viết về lịch sử của cuốn Kinh Thánh Tin Lành Việt ngữ thì qua học giả Đào Hùng Trinh [con trai học giả Đào Duy Anh) sau khi  được đọc bài của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, tôi xin được liên lạc với ông Phan Nam Sinh–thứ nam của học giả Phan Khôi. Ông rất rộng lượng gửi ngay cho mấy bản scan của cuốn Kinh thánh do ông sở hữu từ chính Phan Khôi. Tôi không bao giờ quên được cái ơn này, vì làm sao mà ông lại tin cậy tôi như thế chỉ sau khi đọc bài tôi viết?  Nhưng còn 1 câu hỏi nữa: Kinh Thánh Tin lành Việt ngữ xuất bản lần đầu là năm nào? 1926 hay 1925? Cả tôi và ông Phan Nam Sinh đều không thể giải thích được. Cho đến một tối khuya, gần như đầu hàng sau nhiều năm tìm kiếm vô vọng trong các đại học Hoa Kỳ, Pháp và trên các nguồn khác, tôi đang lục trong mạng của Thư viện Quốc Gia Việt Nam, Phần “Sách Đông Dương-Cơ sở Dữ liệu Toàn Văn” thì hình một cuốn sách thình lình hiện ra trong khung “SÁCH NGẪU NHIÊN ĐƯỢC CHỌN TRONG BỘ SƯU TẬP”: Đó chính là cuốn Kinh Thánh Tin lành Việt ngữ xuất bản “lần thứ nhứt 1925” tại Shanghai. Nghĩa là suốt gần 90 năm, bí mật này–nằm ngay tại Hà Nội–mới được giải tỏa nhờ mạng Internet khiến giúp tôi xác định được thời điểm xuất hiện cũng như khoảng thời gian Hội Thánh Tin Lành Đông Pháp cần để phiên dịch rồi in ấn phát hành.  Ngược lại, những nghiên cứu của tôi cũng phổ biến trở lại sang Việt Nam nhờ trước ở bên này, sau lan dần sang các mạng bên ấy.

Đằng khác, những nghiên cứu đó vẫn không “xóa nhòa biên giới địa lý”– ở cái nghĩa tại bất cứ nơi nào cũng đọc được hết nghiên cứu và sáng tác của tôi hay người khác qua mạng Internet — vì một lý do giản dị: Nhiều tác gia không phổ biến sách vô điều kiện trên Internet.  Tương tự, tôi vẫn mua đủ mọi loại sách báo cả Việt lẫn Anh ngữ về nghiên cứu hay sáng tác. Nghĩa là, trái với sự tiên đoán trước đây, thị trường Sách Báo-giấy vẫn tồn tại. Đó là một thứ biên giới  địa lý vô hình mà Mạng/ Internet vẫn chưa xóa được.

 Gió O: Nhân dịp Gió O Kỷ Niệm 15 Năm sinh hoạt trên mạng, bạn có thể cho một nhận xét Gió O đóng góp thế nào vào Văn Chương Mạng?

 Nguyễn Tà Cúc: Gió O nổi bật về hai chủ trương:  Thứ nhất, phần đóng góp Của các tác giả Phụ Nữ và Về Phụ Nữ.  Thứ hai, về một số đề tài có thể gây tranh luận, đó là những bài của tôi liên quan đến Văn học Miền Nam không thể xuất hiện ở mạng nào khác, trừ Gió-O chính vì Lê Thị Huệ chọn đăng. (Một số bài viết của Nguyễn Tà Cúc gửi về, đã không lên Gió O, chú thích của chủ biên Lê Thị Huệ)

Đây sẽ không phải là lúc giả dối: Tôi là người phê bình duy nhất, tại hải ngoại, từng can qua mấy trận kinh hồn, ròng rã nhiều năm, với vài môn phái danh trấn giang hồ nên đủ hiểu rằng Lê Thị Huệ không chỉ là Lê Thị Huệ. Lê Thị Huệ còn có bạn hữu lâu năm trong văn giới hải ngoại. Lê Thị Huệ theo dõi báo chí và mạng Internet sát rạt hơn tôi. Lê Thị Huệ chắc chắn đã đọc đã nghe đủ về tôi, cả những điều có thật và không thật. Lê Thị Huệ không hề quen tôi.  Khi phải viết rõ ràng về quan niệm phổ biến bài ở câu hỏi Số 2 cũng là để cho thấy tôi rất ít giao hảo giới có mạng có blog có forum, nên Lê Thị Huệ khởi đi đã có rất ít tin tức về tôi, trừ bài tôi viết, và cách tôi viết.

Nhưng Lê Thị Huệ đã đăng bài tôi ngay từ những lúc sớm nhất để một khối độc giả khác, nhất là trong văn giới, có thể so sánh với những bài phê bình, chỉ trích hay tấn công tôi. Làm như vậy, theo tôi quan sát, Lê Thị Huệ rất dễ bị mang tiếng đã đăng bài của một người mà đến nay, vẫn còn nhiều dấu hỏi về thân thế- và- sự nghiệp, một người vẫn bị vài chốn giang hồ gán cho cái tiếng “gây gió tanh mưa máu”. Tôi quả thật không mích lòng trước những thắc mắc rất hữu lý đó.

Vì tôi không hề tham dự sinh hoạt văn nghệ trước 1975 mà nay lại nghiên cứu về vài lãnh vực của Văn học Miền Nam với những lập luận hầu như ngược hẳn với những gì đã công bố trước đây; lại giữ phần vụ Thư ký Tòa soạn của một tờ báo giấy, vẫn còn hiện diện, do một nhà thơ nổi danh chủ trương (Viên Linh- người không chỉ được biết đến vì tài thơ mà còn vì đã giữ chức Thư ký Tòa soạn hay chủ bút của vài tạp chí văn học danh tiếng nhất của Miền Nam); lại thay thế Trần Tam Tiệp đảm nhận Ủy Ban Văn nghệ sĩ -Bị cầm tù với sự thông qua của nhà thơ Nguyên Sa, Phó Chủ tịch Trung Tâm Văn bút Việt Nam 1957-1975 kiêm Đồng Sáng lập Trung Tâm Văn bút Việt Nam Lưu vong; lại rất không muốn phổ biến các bài viết một cách vô điều kiện; lại không sính xuất hiện; lại nhiều lần từ chối những cuộc phỏng vấn; lại xem ra không có bạn hữu trong giới sinh hoạt văn nghệ hải ngoại v v. và vv. Như vậy, tôi trở thành một người nghiên cứu vì Văn học Miền Nam hay vì chính tôi? Hay vì ai?

Cộng vào những điều thắc mắc hữu lý ấy, còn có những điều xem-ra-hữu-lý [để sẽ được sử dụng] như mối liên hệ giữa tôi và nhà thơ Viên Linh. Trên nguyên tắc, đó là loại thắc mắc thậm vô lý vì nếu tôi không phải là một cô (Bắc kỳ muối dưa), những tấn công hoàn toàn dựa trên giới tính, liên hệ cá nhân– thậm chí cả con cái,  mini jupe hay tuổi tác của tôi cũng được quý bạn ấy cho lên nhựt trình giấy và ảo–lẽ ra không đáng nhắc đến, khiến gây một cảm tưởng rất bất công cho [những] người bị tấn công.

Tôi dư biết một hiện tượng có tên “gió tanh mưa máu chốn Bolsa” xuất hiện tại một số báo chợ tại Quận Cam. Ngày nay, tuy số báo ấy bị tiêu diệt hay tự hủy, hiện tượng này vẫn được tiếp tục đại diện bởi một số tác giả có cùng chủ trương hay đã từng xuất hiện trên các tờ “báo” đó, chỉ khác nay họ nhờ mạng/blog/forum của bạn bè hay chính họ để chuyển bài đi. Lợi dụng sự rộng lớn vô cùng của thế giới Internet, họ có thể rất đê hạ khi lôi giới tính liên hệ cá nhân con cái mini jupe hay tuổi tác của tôi/người khác ra tấn công ở báo chợ; hoặc thông thường hơn, ở một mạng/blog/forum/phố rùm nào đó; đằng khác vẫn “đeo râu đội mão” nhân danh nhà văn Miền Nam-Văn học Miền Nam-chính nghĩa Miền Nam để vu oán tôi/người khác tại một mạng khác, tưởng đâu “sạch sẽ” hơn do các “nhà văn” có-chút-máu-mặt chủ trương. Chúng sinh làm sao biết được cả 2 mặt đó, hoặc có biết thì có thể  rơi ngay vào cái bẫy “gió tanh mưa máu” hầu không quan tâm xem ai bị phỉ báng ai phải tự vệ.

Nhưng dù thế, tôi không bao giờ thay đổi quan niệm sống-và-viết trong thời đại Internet như đã trả lời thượng dẫn vì có kinh nghiệm khởi đầu từ hoàn cảnh sinh trưởng và những chuyện dưa cà mắm muối tưởng chừng như lạc đề trên kia. Khi người Cộng sản thiêu hủy sách vở, họ không chỉ thiêu  hủy sách vở, họ còn thiêu hủy luôn một nếp sống, một phần văn hóa của một dân tộc. Tôi sinh ngoài Bắc nhưng lớn lên tại Miền Nam, tôi thừa hưởng văn hóa Miền Nam và dĩ nhiên văn hóa Miền Bắc nữa. Không riêng tôi mà tất cả người Miền Nam ra đi đều cưu mang phần văn hóa ấy qua tiếng nói, trang phục và ẩm thực vv… bằng cách này hay cách khác.

 [Ngày xưa, các chợ Việt Nam muốn chiều khách đã tặng, không phải xe hơi như bây giờ mà …tặng sách đấy. Thế nên tôi càng không hiểu tại sao có quý -văn-hữu lại than khóc rằng quý vị ấy rất buồn phiền khi thấy sách Miền Nam bầy bán bên cạnh “những chai nước mắm” và dưa cà mắm muối.]

Đó cũng là lý do tại sao tôi không có “nhu cầu chia sẻ” bài phản bác về những vấn đề liên quan đến nghiên cứu của tôi tới những mạng đã chọn đăng bài của những tác giả chỉ trích tôi một cách cá nhân, đê mạt và/hay không đủ dẫn chứng: Cách xử thế của tôi phải phản ảnh được văn hóa nơi tôi đã sinh trưởng, nơi tôi không những đọc sách mà còn học cách muối dưa và làm bánh khúc. Cũng như người Bắc di cư vào Nam rồi như chúng ta di tản ra ngoại quốc, văn hóa ấy càng nên được giữ rồi bồi đáp từ văn hóa mới hầu sử dụng khi tranh luận, khi nghiên cứu, khi sáng tác chứ không thể bị mai một. Dù có “toàn cầu hóa” tới đâu, dù tốt nghiệp ngành Hoa kỳ Học [chứ không phải Việt Nam Học], tôi vẫn là và vẫn được xem như một người cầm bút xuất thân từ Miền Nam 1954-1975, đang nghiên cứu và đối thoại với các tác gia khác trong căn cước Miền Nam ấy.

Sau nữa, nhiều bạn đã hỏi tại sao không gửi bài phản bác vì nhiều phần các mạng ấy sẽ đăng; nhưng thứ nhất, tôi không bao giờ tự đặt vào thế bị động. Trong mọi cuộc can qua, chính tôi sẽ quyết định cách thức phản công (chứ không phản bác) tại một đấu trường nơi tôi, và những người giúp tôi, chọn. Thứ hai, tôi tin độc giả của những mạng đó, nếu quan tâm đủ, sẽ tìm hiểu tại các phương tiện truyền thông khác. Thứ ba, rồi ra, người hay ban chủ trương của những mạng đã đăng các loạt bài đó sẽ phải trả lời độc giả và thân hữu, nhất là cho nữ độc giả và nữ thân hữu, về trách nhiệm của họ.  Tôi không hưởn mà giúp họ cứu vãn danh dự chính họ bằng cách hy sinh danh dự chính tôi khi cho phép chữ nghĩa của tôi xuất hiện trên loại mạng đó.

Đối với tôi “Writing is not a popular contest”. Đó cũng là lý do, không chỉ với sáng tác, mà với một vài vấn đề liên quan tới Văn học Miền Nam, tôi có thể đợi tới hơn 20 năm mới phổ biến. Cũng như cho tới nay, tôi mới đề cập tới họat động và xuất xứ của tôi một cách khá chi tiết trong một cuộc phỏng vấn.

Qua cuộc phỏng vấn này, có thể người đọc sẽ tìm thấy một vài chi tiết khả dĩ giải thích được các nghiên cứu của tôi: Từng làm Trưởng Ủy ban Văn Nghệ sĩ -Bị Cầm tù sau 1975 và từng quen Thanh Lãng trước 1975, rồi lại có rất nhiều tài liệu từ nhiều nơi (kể cả từ Hà nội) cung cấp, tôi có thể có khả năng phân tích nhắm trình bày về hoạt động của tổ chức này. Từng luông và may áo dài, tôi có thể có khả năng kỹ thuật hầu nhận xét về sự thất bại của áo Lemur cũng như về loại “áo dài cách tân” bây giờ, một thứ áo dài mới bị chính phủ Tỉnh Kiên Giang cấm nữ sinh trang phục. Từng là Thư ký Tòa soạn Khởi Hành, tôi có dịp gặp gỡ rồi  được sự tin cậy của nhiều nhân chứng thuộc Văn học Miền Nam để tổng hợp dẫn đến kết luận về trường hợp các tờ báo Bách Khoa, Tự Do hay Sáng Tạo. Thông thạo Anh và Việt ngữ, lại xuất thân từ một đại học Hoa Kỳ, tôi có thể đưa ra những vấn đề dịch giả Olga Dror chưa giải quyết được khi giới thiệu cuốn Giải khăn sô cho Huế (Nhã Ca) vv. Tôi chủ ý chọn ngành Hoa kỳ Học để có kiến thức về lịch sử và văn hóa của dân tộc này hầu tìm lời giải thích về phản ứng của họ với Chiến tranh Việt Nam. Ngược lại, chưa chắc họ đã am hiểu văn hóa, cộng đồng Việt di tản, và Văn học Miền Nam bằng tôi.

Do đó, một người phê bình tự tin không cần ăn mày lòng thương của độc giả và thân hữu bằng cách lôi kéo độc giả và thân hữu về phía mình. Trong tinh thần đó, phê bình cũng như sáng tác, trước hơn hết thảy, luôn luôn là sinh hoạt của một-người dù áp lực của một nền kỹ nghệ vi tính có cao tới mức nào. Trong sinh hoạt một-người đó, tác giả hiểu được lý do của những trang chữ sẽ xuất hiện. Tâm điểm ở đây vẫn không phải là độc giả hay người cùng giới chuyên môn mà là chính anh/chị. Tâm điểm ấy nắm giữ sinh mạng của bài/cuốn sách sẽ viết. Một trái tim đầy máu đen với một bàn tay hờm sẵn viên đá chỉ chực ném đi thì không bao giờ viết ra hồn hay lường gạt được một ai, kể cả chính mình, khi các trang ấy, sau cùng, xuất hiện trên mạng.

Thế nên, nếu trả lời câu hỏi này mà “đeo râu đội mão” né tránh trường hợp của riêng tôi, thì dễ quá, thà đừng trả lời còn hơn. Nhưng tôi chọn để đề cập đến vì, theo tôi, ngoài việc góp phần vào việc nghiên cứu Văn học Miền Nam, vô hình chung Gió-o cũng đã giúp làm sạch được phần nào môi trường Internet bằng cách cho một tác giả như tôi thêm một chỗ để phổ biến những nghiên cứu theo đúng các tiêu chuẩn: trách nhiệm, công bằng và sẵn sàng chấp nhận tranh luận. –  

         

CHÚ THÍCH

(1) Từ lâu nay, 2 câu thơ “Lòng em như nước Trường Giang ấy/ Sớm tối theo chàng đến Phúc Châu” vốn được coi như của Thế Lữ vì ông mở đầu bài Bên sông đưa khách bằng 2 câu này với “Lời Kỹ-Nữ” trong ngoặc đơn, như sau:

            Tặng tác -giả “ĐỜI MƯA GIÓ”

            Lòng em như nước Trường- Giang ấy,

            Sớm tối đưa chàng tới Phúc -Châu

                        (Lời Kỹ-Nữ).

[Thế Lữ, “Bên sông đưa khách” (1937), Mấy vần thơ, trang 37, Nhà xuất bản Cao Đàm, tái bản lần thứ 3, Sài gòn, tháng 11. 1956)

Thậm chí, bạn văn của ông còn nhắc tới quán trà Phúc Châu như Hoàng Cầm đã nhắc trong một đoạn hồi ức sau đây:

“Lúc bấy giờ mấy anh em chúng tôi thân nhau lắm, thường thường buổi chiều họp nhau ở quán trà Phúc Châu của người Tàu ở phố Hàng Giày. Quen thuộc đến nỗi chúng tôi hay mượn cái câu ‘Lòng em như nước Trường Giang ấy, sớm tối đưa chàng tới Phúc Châu’ (Lời kỹ nữ mở đầu bài thơ Bên sông đưa khách của Thế Lữ – HH). Quán Phúc Châu chỉ có trà thôi; khi có một nhóm khách đến lập tức chủ nhân bưng ra một cái khay trong đó    có một ấm trà, trà thì để sẵn ở đấy, một phích nước sôi, cứ việc uống, muốn pha loãng pha nhạt thì tùy, cả một hộp trà đấy rồi, muốn uống nước thứ mấy thì uống, thậm chí tôi nói đùa uống đến nước chủ nhật, tức là uống đến nước thứ 6, thứ 7 rồi không còn trà đâu nữa, nước đã loãng toẹt ra rồi vẫn uống.”

            https://vandoanviet.blogspot.de/2015/02/giai-pham-mua-xuan-ra-oi-nhu-nao.html?m=1

 

            GIAI PHẨM MÙA XUÂN RA ĐỜI NHƯ THẾ NÀO?

            Hoàng Cầm kể, Hoàng Hưng ghi]

Lúc đầu tôi còn không biết đó là thơ được xem như của Thế Lữ, nhưng nhờ một bạn văn báo động, tôi truy lục thì mới biết chắc không phải của Thế Lữ. 2 câu này xuất hiện trong cuối bài thơ theo điệu Giá Cô Thiên của Dương Ngọc Hương, kỹ nữ đời Minh rồi được Thứ Khanh dịch và đăng trong “Mấy nhà nữ thi sĩ ở Thanh-lâu và tác phẩm của họ”,  Phụ Nữ Tân Văn, Số 226, 30 Tháng Mười Một 1933.  Tôi xin chép lại nguyên tác của kỹ nữ Dương Ngọc Hương– cư ngụ tại Kim Lăng, đời hoàng đế Thành Hóa Minh Hiến Tông (1464-1487) — khi từ giã người yêu Cảnh Thanh về quê; rồi bản dịch của Thứ Khanh, tháng 11.1933. Theo đó, Thanh Nam nhớ đúng chữ “theo” [“Sớm tối theo chàng tới Phúc Châu”] còn Thế Lữ nhớ sai, đổi thành “đưa“.

(Điệu Giá Cô Thiên)

Lang thi Mân nam Đệ nhứt lưu,

Hung bàn tinh đẩu, khí hoành thu.

Tân từ uyển chuyển ca tài tất,

Hựu trục chính hồng hạ Bích lâu.

Khai cẩm lãm! Thượng lan chu!

Kiến lang hoan hỉ, biệt lang ưu.

Thiếp tâm chính (tự *) Trường- giang thủy,

Trú dạ tùy lang đáo Phúc châu.

Dương Ngọc Hương

[*Có lẽ nhà báo đánh máy thiếu chữ “tự”. Tôi đã thêm vào theo một nguồn khác. Nguồn này trưng dẫn nhà thơ Huy Cận đọc 2 câu cả nguyên tác lẫn thơ dịch với chữ “theo”. -http://thisivietnam.blogspot.com/2015/06/anh-xuan-dieu-than-yeu.html]

Dịch

Ở đất Mân-nam chàng đứng đầu,

Bụng như sao sáng, khí trời thâu.

Vừa ca déo dắt xong bài mới,

Liền đuổi chim hồng xuống Bích lâu.

Giây gấm mở! Xuống thuyền mau!

Gặp ai mừng rỡ, biệt ai sầu!

Lòng em như nước Trường -giang ấy,

Sớm tối theo chàng tới Phúc -châu.

Thứ Khanh

Ngoài Dương Ngọc Hương, Thứ Khanh còn dịch thơ của Tề Cẩm Vân và Nhiếp Thắng Quỳnh.-

nguyentacucden

 

          Nguyễn Tà Cúc

          07/2017

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s