Từ Vũ Thư Hiên tới Chekhov-Du Tử Lê

logo Văn học

Từ Vũ Thư Hiên, tới Chekhov,

(Áo thụng vái nhau ??)

Du tử Lê bây giờ

  • Du Tử Lê
  • Trước tháng 4-1975, ở miền Nam, việc xuất bản một tác phẩm, thí dụ một tập thơ, hay truyện, là một việc không đơn giản, nếu không muốn nói là rất nhiêu khê cho những ai không ở trong nghề – – Từ việc xin giấy phép xuất bản, tìm nhà in. Nhờ ai đó, trình bày bìa, thuê sắp chữ (bằng tay)… Sau đó, tìm nhà in…

 

VuThuHien_02

Nhà văn Vũ Thư Hiên (hình FB)

In xong, mang một số sách tượng trưng, theo quy định, trở lại bộ Thông Tin, gọi là nộp bản. Mục đích, để cơ quan hữu trách có thể kiểm soát xem giữa bản thảo đã nộp trước đấy cho bộ Thông Tin và bản in ra, không có gì sai biệt? Sau đấy, tác giả phải lo tới công việc tìm nhà phát hành, nhờ họ gửi sách đi khắp nơi. Trên thực tế, không phải tác phẩm nào in ra, cũng được các nhà phát hành nhận phát hành. Trở ngại này, cũng góp phần vào việc giới hạn số lượng sách được xuất bản.

Tuy nhiên, khi người Việt tới định cư tại Hoa Kỳ, được hưởng những ưu đãi của xứ sở này dành cho lãnh vực thông tin, văn hóa… Nên nhà văn, nhà thơ, các nhà nghiên cứu, biên khảo của chúng ta, bất cứ ai cũng có thể tự in sách của mình một cách dễ dàng. Với thời gian, sự kiện này được ghi nhận là lạm phát. Riêng tại miền nam Cali, đã từng diễn ra cảnh một nhà thơ hay nhà văn có tác phẩm mới, mang ra quán cà phê, gặp ai cũng “ưu ái”, “ân cần” tặng cho một hoặc hai cuốn sách làm kỷ niệm. Nhiều người dở khóc, dở cười vì từ chối thì thiếu tế nhị mà, mang về thì chỉ thêm rác nhà.

Ở trường hợp này, có người phải chọn giải pháp “vô tình bỏ quên” cuốn sách “được tặng”, ở bàn cà phê; để sau đấy, người phụ trách việc dọn dẹp sẽ vứt bỏ vào thùng rác.

Đây không phải là nguyên nhân chính đưa tới sự co cụm, lãnh vực xuất bản sách ở hải ngoại. Nhưng tính vàng thau lẫn lộn, dẫn tới sự rẻ rúng vừa kể – – Phần nào, cũng đã ảnh hưởng thị trường sách vở. Không ít người đọc đã tỏ ra mất tin tưởng, thất vọng trước hiện tượng này. Trong quá khứ, những nhà xuất bản, nhà sách chủ trương cung cấp những món ăn tinh thần chọn lọc cho người đọc, đã phải lần lượt đóng cửa! Như nhà sách và, XB Văn Nghệ của ông Võ Thắng Tiết. Nhà sách và, XB Văn Khoa của giáo sư Đỗ Đình Tuân…

Trong vòng một thập niên trở lại đây, không biết có phải nhận thấy thị trường sách vở dù bị co cụm, thì ở mạch ngầm, nó vẫn là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu của số người đọc thầm lặng; và, bởi thế, công ty nhật báo Người Việt, đã cắt cử một bộ phận chuyên trách việc thực hiện, ấn hành những tác phẩm giá trị; dù kén độc giả.

Nhưng, thật bất ngờ, khi thực tế lại cho thấy điều ngược lại:

– Rất nhiều tác phẩm những tưởng “nhức đầu”, khó nuốt như “Đứng Vững Ngàn Năm” của Ngô Nhân Dụng; “Đèn Cù” của Trần Đình Đĩnh, “Lời Ai Điếu” của Lê Phú Khải, v.v… Và gần nhất là “Tuyển Tập Truyện Ngắn Vũ Thư Hiên”… lại là những tác phẩm có số bán kỷ lục trong thời buổi văn chương bị coi là “mạt vận” này.

“Tuyển Tập Truyện Ngắn Vũ Thư Hiên” như những bức tranh xã hội chìm, khuất, được nhiều người chờ đợi. Trong số những độc giả thầm lặng chờ đợi đó, có tôi.

.
Tôi chỉ đọc, biết Vũ Thư Hiên vào khoảng cuối thập niên 1997, khi được ông Võ Thắng Tiết, tặng cho cuốn “Đêm Giữa Ban Ngày”, “Hồi ký chính trị của một người không làm chính trị” Vũ Thư Hiên. Chủ nhân nhà XB và cũng là nhà sách Văn Nghệ, nhắc tôi, nên đọc và nếu có thể, giới thiệu rộng rãi cho độc giả Việt Nam. (Thời gian đó, tôi còn phụ trách bản tin VHNT hàng tuần cho đài VOA)

Tôi nhớ, rất bất ngờ với tôi, khi tôi bị cuốn vào cuốn Hồi Ký với số trang dầy hơn 800 trang. Tôi đọc say mê, liên tục ngày, đêm.

Là người dốt nát về phương diện chính trị, tôi không biết gì về những dữ kiện (đúng / sai), được họ Vũ ghi lại trong “Đêm Giữa Ban Ngày”, điểm tôi chú ý nhất trong hồi ký đó, là tính lạc quan, (đôi chỗ châm biến), nhưng không hận thù, không sắt máu, không đằng đằng sát khí, nhất định đòi phải tiêu diệt tới tên CS cuối cùng. Mặc dù, họ chính là những người đã ra lệnh bỏ tù không xét xử, tác giả cũng như thân phụ của tác giả (một người có công lớn với chế độ CS ngay khi còn phôi thai). Chi tiết này, với tôi, cho thấy đó là phong cách mang tính nhân văn cao của họ Vũ.

Từ “đường dẫn” “Đêm Giữa Ban Ngày” tôi tìm đọc tập truyện “Miền Thơ Ấu” – – Một tác phẩm đẹp, lấp lánh nhiều hạt sương thi ca, viết về tuổi thơ của họ Vũ – – Một tuổi thơ nhìn từ một xóm đạo nhỏ bé, gần như bị lãng quên ở miền Bắc; được tác giả ghi lại với nhiều tập quán dân gian cổ truyền, phản ảnh phần nào nền văn hóa nông thôn Việt Nam, thời hậu bán thế kỷ 20.
CHEKHOV

Chekhov

Với bệ phóng “Đêm Giữa Ban Ngày” , “Miền Thơ Ấu”, rồi “Hoa Hồng Vàng” (dịch năm 1960, từ tiếng Nga của nhà văn Paustovsky), “Trắng Trên Đen” dịch từ nguyên bản tiếng Nga của Gonzalez-Gallego, năm 2005, hoặc tập truyện ngắn “Chuyện Ở Tỉnh Lỵ” do Việt Tide XB năm 2003.

Tôi cũng tìm và, đọc được một số truyện ngắn rải rác khác của Vũ Thư Hiên; như các truyện “Nấm Mồ”, “Hoa Cúc Dại”, “Lời Xưng Tội Lúc Nửa Đêm”, “Khai Bút”… Hay “Ác Mộng” v.v… Tất cả những truyện ngắn hay tự sự kể này của họ Vũ, đều có trong “Tuyển Tập Truyện Ngắn Vũ Thư Hiên” và cũng là những truyện ngắn khiến tôi cay mắt khi đọc tới dòng chữ cuối.

Tôi không biết có phải vì lý do bệnh hoạn hoặc, vì tuổi già, ở tôi đã bắt đầu những “ló dạng bất tường!” Thí dụ, từ hồi nào giờ, tôi đã sớm bị ám ảnh bởi một câu thơ của Nguyễn Khuyến trong bài ông khóc Dương Khuê: “Tuổi già hạt lệ như sương”… Vậy mà, cớ gì, tôi lại rất dễ chảy nước mắt, khi đọc truyện ngắn Vũ Thư Hiên?

Thế giới truyện ngắn Vũ Thư Hiên, qua “Tuyển Tập Truyện Ngắn Vũ Thư Hiên” với tôi, là cả một giai đoạn lịch sử cận và hiện đại, được vẽ lại (bằng chữ) của một văn tài mà, không ít người đã so sánh ông với nhà văn Chekhov. (1) Có dễ vì ngoài số lượng truyện ngắn phong phú có được, hai ông còn gặp nhau ở đặc điểm: Không một khía cạnh xã hội nào bị bỏ quên. Từ thân phận người dân ở đáy cùng xã hội, tới những bi kịch chiến tranh (nhìn từ các góc khuất)… tới những “bạo chúa” của thời đại mới… Riêng với Vũ Thư Hiện, còn cho người đọc ông, những chuyện kể ngậm ngùi, xúc động về cảnh đời thực của những văn nghệ sĩ thế hệ trước, hoặc cùng thời với ông, như: Văn Cao, Nguyễn Tuân, Hồ Dzếnh, Phạm Tăng, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Khải, Nguyễn Sáng… (2)

VŨ THƯ HIÊN –  Một Cõi Cho Mình

30 Tháng Năm 201712:00 

“>

Tôi kính trọng những nhà thơ. Trong mắt tôi, họ là những người dũng cảm bậc nhất. Hoặc gan lì, cũng bậc nhất luôn. Giữa thời thiên hạ tối tối dán mắt vào ti vi, sáng sáng lướt rao vặt trên báo chợ, ngốn tiểu thuyết trinh thám trên xe điện ngầm, trên máy bay…mà vẫn cứ có những nhà thơ. Những nhà thơ này vẫn bình tĩnh làm thơ được, mới lạ. Ngó vào số lượng in ở trang cuối mỗi tập thơ lại càng thêm kính phục họ. Các nhà thơ hậu duệ của Beaudelaire, Verlain, Apollinaire, của Goethe, Schiller…đều ngán ngẩm khi nói đến tình trạng thê thảm của sự đọc thơ bây giờ – Đời thuở nhà ai mà một tập thơ bán được một ngàn bản đã là của hiếm trên đất nước đông đúc bảy tám chục triệu dân cơ chứ. So với họ, các nhà thơ của chúng ta ở hải ngoại còn dũng cảm hơn nhiều. Và cũng may mắn hơn nhiều, nếu so số lượng xuất bản trên tỷ lệ số dân.

vuthuhien-dutule-content
– Dũng cảm gì đâu. – Du Tử Lê cười hiền lành – Không hề. Gàn dở thì đúng hơn, ông ạ. Bọn làm thơ chúng tôi, chạy không nổi khỏi cái nghiệp, là sự chìm đắm vừa đau đớn, vừa êm đềm, một thống khoái khó hiểu, đối với nhiều người, không trừ chính kẻ làm thơ…

Chúng tôi ngồi ở một bàn ngoài của một quán cà phê với một loạt ghế trên hè, rất Paris, ngay trước tượng Thần Tự Do giương cánh trên đài kỷ niệm Bastille. Quán cà phê bình dân này không phải là La Rotonde ở Montparnasse, nơi những danh nhân lịch sử của nước Pháp từng lai vãng, nhưng vào buổi chiều thu ấy cũng đông nghịt, bên trong không còn bàn trống. Du Tử Lê xuề xòa, nói ngồi ở các bàn ngoài thú hơn, giống ở Sài Gòn hơn. Vừa nhàn nhã nhâm nhi ly expresso, ngắm cảnh xe cộ bá tính tập nập ồn ào trên quảng trường ghi dấu cuộc cách mạng vĩ đại 1789, vừa bàn về văn chương thơ phú, thật thú vị. Hình như các nhà thơ đều hiền lành. Tôi chưa gặp một nhà thơ dữ tợn nào. Những người dữ tợn không làm thơ. Tôi đòi Du Tử Lê đọc một bài thơ mà anh ưng ý hơn cả. Du Tử Lê nhìn tôi như cách người ta nhìn một con quạ… trắng.

– Bài nào mình cũng thích, nhưng chỉ trong lúc đang làm ra nó thôi. Bài ưng ý nhất là bài mình sắp… làm ông ạ. Ấy là người đã có một lượng tác phẩm đồ xộ, hơn bốn chục cuốn, nếu tôi không lầm, nói thế. Nhưng chiều tôi, Du Tử Lê đọc se sẽ vài câu:

“đêm về trên bánh xe qua
“nhớ tôi xa lộ, nhớ nhà Hàng Xanh
“nhớ em, kim chỉ khíu tình
“trưa ngoan lớp học, chiều lành khóm tre
“nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
“nắng Trương Minh Giảng. Lá hè Tự Do
“nhớ nghĩa trang – quê bạn bè
“nhớ pho tượng lính: buồn se bụi đường.
“đêm về theo vết xe lăn
“tôi, trăng viễn xứ. Sầu em bến nào?…”

Nhớ Sài Gòn khi Paris sống động trước mặt là trúng lắm. Chẳng có nơi nào gợi nhớ những thành phố quê hương bằng Paris. Cách chúng tôi mấy bước là cái nắp cống bằng gang in hệt những nắp cống trên hè Hà Nội hay hè Sài Gòn, đọc những hàng chữ trên nắp cống mới biết chúng cùng một lò sản xuất. Mấy chiếc lá vàng lềnh bềnh trên dòng nước rãnh dọc hè, y như ở Hà Nội.

Người đọc biết đến Du Tử Lê không phải với tư cách nhà thơ lục bát truyền thống, hoặc thơ mới các kiểu hàng loạt. Du Tử Lê được thiên hạ biết đến, được nhớ đến, là nhờ những bài thơ không vần với những chấm, phẩy, gạch nối, ngoặc đơn, ngoặc kép và những ký hiệu toán học. Những cái đó là tốt, là xấu, là hay, là dở, tôi không bàn.

Trong địa hạt này tôi là kẻ ngoại đạo. Nhưng điều tôi thấy rõ là Du Tử Lê đã và đang làm một cái gì đó chưa từng có. Anh là kẻ khai phá. Cái mà anh đang khai phá rồi đi đến đâu là chuyện về sau. Nhưng ngay bây giờ tôi đã bắt gặp đâu đó những người theo chân anh. Như thế, anh không hề đơn độc.

“như / con sông / sẽ không ra biển!??
“nhan sắc đi / về ngang vết thương.
“thịt / da từng tấc chăm, nuông nghiệp –
“mỗi ngón tay:
“- thơm một nỗi niềm.
“như mưa / nắng / sẽ không cư, ngụ!?!
“lọn tóc xin tình mãi thiếu niên –
“nuôi vai chia nhánh vào ly, biệt…
“thương, nhớ nào xanh(?)
“những mặt bằng!?!!! “

Tôi không hỏi Du Tử Lê vì sao những dấu chéo (/) đặt giữa những chữ “như / con sông / sẽ không ra biển!??”; vì sao giữa từ kép “ly biệt” lại phải có một dấu phẩy ngăn cách để thành “ly, biệt”; cũng như tôi không hỏi vì sao sau câu “như / con sông / sẽ không ra biển!??” lại có một dấu than với hai dấu hỏi, mà ở câu “thương, nhớ nào xanh (?) (xuống dòng) những mặt bằng!?!!!” sau một dấu than, một dấu hỏi, lại có đến ba dấu than nữa?

Tôi không hỏi vì không muốn Du Tử Lê phải dằn lòng cắt nghĩa cho tôi rằng thơ là cái để mà cảm, chứ không phải cái để mà lý giải. Trong sự cảm ấy, tôi thấy, hoặc lơ mơ hiểu dường như Du Tử Lê muốn dùng những ký hiệu toán học, những dấu biểu cảm ngữ nghĩa như một cách chơi nhạc, để ngắt chữ ngắt câu, để nhấn mạnh, để khêu gợi, để bắt người đọc đi tiếp con đường suy tưởng của/cùng anh (tôi dùng một dấu chéo theo cách Du Tử Lê rồi đấy). Cái “thi tại ngôn ngoại” của Du Tử Lê phong phú, nó gọi ta bước qua những chữ cụ thể để lướt đi xa hơn nữa trong liên tưởng, như từ một nốt nhạc nẩy lên ta nghe vang vọng một toàn hài. Cái mà người đọc cảm được, thấy được trong thơ Du Tử Lê là những cảm giác du Tử Lê cũng là cảm giác của mình, dù đó là những suy tưởng về ý nghĩa thời gian, tình nhân loại, những niềm vui hồn nhiên, những phút buồn vô cớ.

“rất nhiều khi tôi khóc một mình
“những hạt lệ không giúp ai no
“những hạt lệ không làm ai đỡ đói,
“nhưng nó vẫn là những giọt lệ
“chính nó,
“một mình –
“không có tôi đứng cạnh.”
“thay vì cloning cho tôi con cừu
“hãy tạo sinh vô tính cho tôi buổi chiều,
‘quê cũ.”
“một lần trong đời nhau
“đêm, nghìn sâu tiếng gọi
“ngọt ngào gối, chăn đau
“thịt, da gào kiếp, mới
“soi mặt gương đời, sau
“giọt máu còn chói lọi.
“một lần thân thể nhau
“tôi rạng ngời: địa ngục!?!”
“nuốt trộng chính mình, như ngọn lửa
“cháy một tôi: kẻ tự lột da
“nhìn em: chảy máu trong yên, ắng
“nghe giữa bọng cây: rộ đóa hoa.”

Tôi viết: Du Tử Lê không đơn độc trong sáng tạo, trong khai phá một lối đi mới cho chính anh, độc đáo trước hết cho chính anh, không cần ai chấp nhận. Cũng cái cung cách như thế ở trong nước có Dương Tường, một hồn thơ gần gụi với Du Tử Lê. Dương Tường cũng khai thác âm hưởng của những con chữ trong thơ, với những hàm ý không dễ hiểu, và dường như không cần ai hiểu. Dương Tường có những câu thơ thế này:

“tôi nhìn nước Mĩ
“qua em mềm mại phi lí
chéo
“qua phụ khoa em hơ hớ
chéo
“qua nhục dục em ngao ngán
chéo
“qua thân hình em ngạo ngược
chéo
“qua năng động em vô vọng
chéo
“qua nụ bè he em bối rối
chéo

Có trời hiểu những chéo in đậm nọ mang nghĩa gì. Trong tập “Thơ Dương Tường” (xuất bản năm 2005) có một câu “chẳng thể nào xuất” với hai gạch chéo hình chữ V nằm ngang (<) đi tiếp chỉ vào hai chữ “tinh” và “thần” để ta có thể đọc theo hai dị bản “xuất tinh” và “xuất thần”, hoặc gộp cả hai lại: xuất tinh thần; trông cứ như một công thức cấu tạo phân tử. Có khác gì Du Tử Lê với những ký hiệu toán học đâu.

Trong tình hình nhiều năm mọi kênh thông tin trong ngoài bị đóng kín, hai người không đọc thơ của nhau, nhưng Dương Tường và Du Tử Lê đều có những hoài bão khai phá như nhau và lối khai phá khá giống nhau. Về sự sử dụng nhạc tính trong thơ hai người hơi khác nhau chút ít. Có thể nói nếu thơ Du Tử Lê là euphonic thì thơ Dương Tường thiên về cấu trúc dodecaphonic. Dù sao thì ở đdây ta cũng thấy hiện tượng những chí lớn gặp nhau.

Ở đây vấn đề muôn thuở đặt ra: ở đâu, cái cảm giác chừng mực của sự biểu cảm? Chưa tới thì không được. Một chút quá là hỏng. Nhưng với chủ thể của sự sáng tạo Du Tử Lê vấn đề trên bất thành vấn đề. Tôi quen Du Tử Lê chưa đủ lâu để có thể nói rằng tôi hiểu anh thật nhiều. Nhưng tôi dám nói như thế từ những quan sát của mình qua những lần gặp gỡ bao giờ cũng ngẫu nhiên và hồn nhiên.

Khi tôi hỏi Du Tử Lê:

– Khi viết ông có nghĩ tới người sẽ đọc thơ ông không?

– Hoàn toàn không.

– Vậy ông nghĩ gì khi làm thơ?

– Tôi chẳng nghĩ gì cả. Một tứ thơ chợt đến, và tôi cầm lấy bút.

Thế đấy. Du Tử Lê không làm thơ, có thể hiểu như thế. Thơ tự đến với Du Tử Lê, như cái duyên số phận, có đi tìm cũng không thấy, muốn chế tạo cũng không được. Trong Du Tử Lê mọi điều kiện cần thiết cho cho thơ đã có sẵn để cho thơ nẩy nở. Cái sự khai phá mà tôi nói đến ở trên cũng nằm trong cái duyên ấy, không phải do một ý chí nào. Chính vì vậy mà Du Tử Lê làm thơ không quan tâm đến đối tượng sáng tạo, không cần biết họ hiểu được hay không hiểu, cảm được hay không cảm được.

Du Tử Lê làm thơ như Du Tử Lê thở, như Du Tử Lê cười, Du Tử Lê khóc, nói tóm lại, như Du Tử Lê sống. Trong cõi riêng của mình.

(Feb. 07.)

________
Chú thích:

(1) Theo tư liệu của trang mang Wikipedia-Mở thì, Chekhov sinh ngày 29 tháng 1 năm 1860 tại thị trấn Taganrog, miền nam nước Nga, nơi cha ông làm chủ một cửa hiệu tạp hóa nhỏ. Năm 1879, ông theo học ngành y tại Đại học Quốc Gia Moskva. Ở đây, ông bắt đầu vẽ biếm họa cho một số tạp chí hài để hỗ trợ gia đình. Sau khi tốt nghiệp năm 1884, Chekhov hành nghề y nhưng vẫn tiếp tục sáng tác. Đến năm 1887, văn tài của ông đã được chấp nhận rộng rãi, và việc sáng tác không cho phép ông dành nhiều thì giờ cho y khoa nữa.

Thời kỳ từ 1886 đến 1888 là giai đoạn Chekhov chuyển tiếp từ thể loại truyện ngắn khôi hài dưới 1.000 chữ qua những truyện ngắn dài hơn, có chủ đề nghiêm túc hơn và văn phong chững chạc hơn. Những truyện ngắn trong thập niên 1890 đem lại một cái nhìn rộng lớn về xã hội nước Nga cuối thế kỷ 19, miêu tả sự chính xác về xã hội của cuộc đời những nông dân, trí thức, tư thương, giáo sĩ, phụ nữ và trẻ em trong những bối cảnh có tính phổ cập và bất biến với thời gian.

Chekhov bị bệnh lao, và năm 1897 ông phải dời đến cư ngụ ở vùng ấm áp Yalta, nằm kề Biển Đen. Năm 1901, ông kết hôn với nữ diễn viên Olga Leonardovna Knipper. Thời gian này, sức khỏe của ông đi xuống dần. Ông qua đời năm 1904 ở khu nghỉ mát Badenweiler tại Đức trong khi đang tìm cách chữa trị…

Chekhov được xem như là người đã nâng thể loại truyện ngắn lên một tầm cao mới trong nền văn học Nga. và dần dần trong nền văn học của thế giới (…)

Về mặt nghệ thuật truyện ngắn của Chekhov có chiều sâu tâm lý rất lớn, lột tả rất xác thực các tinh tế nội tâm đặc trưng của các tầng lớp người Nga thế kỷ 19 nhất là thành phần thị dân, trí thức trung lưu và thợ thuyền trong các thành phố đang hình thành của nước Nga, nên có thể nói Chekhov là nhà văn của tầng lớp thành thị Nga. Ngôn ngữ của truyện ngắn Chekhov rất tinh tế đã nâng tiếng Nga, lên tầm hiện đại và làm giàu rất nhiều cho loại ngôn ngữ này. Ông là nhà văn đã để lại ảnh hưởng rất lớn lên văn học và văn hóa Nga cũng như trong văn học thế giới.

(2) Xin đừng lầm với Nguyễn Quang Sáng (1932-2014) mà, bằng hữu ông này, thường gọi ông một cách thân mật là “Sáng Lùn.”