Ông Tướng (tuẩn tiết) có nụ cười “mĩm chi”Nguyễn Khoa Nam

tambut1

 

logo thi ca1

 

Lá Thư Gs Nguyễn Văn Hai gửi

Tướng(tuẩn tiết) Nguyễn Khoa Nam

thap-huong (1)

 

Nguyễn Văn Hai
GS/TS Toán, nguyên HT/QH Huế ,Phó Viện Trưởng
kiêm Khoa Trưởng Đại Học Khoa Học, Viện Đại Học Huế

 

Anh Nam kính mến,

Nguyễn Khoa Nam6

nhangkhoi

Chúng tôi vừa coi xong cuốn video “Chiến Tranh và Hòa Bình” của hãng Asia. Một đoạn video gây chúng tôi nhiều xúc động nhất là buổi phỏng vấn anh Phước về cái chết đầy khí tiết của Anh, một vị Tướng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vào giờ phút buồn thảm nhất của lịch sử đất nước. Một chi tiết đến hôm nay chúng tôi mới biết và làm tôi ngạc nhiên đến sửng sốt là Anh thọ trì thần chú Thủ Lăng Nghiêm đã từ lâu. Sửng sốt là vì thật không ngờ từ lâu Anh đã suy ngẫm nhiều về chân tướng cuộc đời, phát tâm tin Phật Pháp thâm diệu, sống ung dung thanh thản giữa một thế giới lắm tai ách và khổ đau.
Thực ra, Anh là người đã rất nhiều lần gây cho tôi những giây phút bàng hoàng sửng sốt. Duyên nghiệp cho tôi được cái vinh dự cùng Anh học một lớp và ở chung một ký-túc-xá suốt năm năm ở trường Trung Học Khải Định. Lúc bắt tay Anh lần đầu khi Anh sắp leo lên chiếc giường ngủ đặt sát cạnh giường tôi đêm trước ngày khai giảng niên khóa 1940 – 41, tôi có ngay cảm tưởng từ hôm nay tôi may mắn có thêm một bạn đồng song hiền lành, chăm học, dáng ngoài đúng điệu một thư sinh. Nhưng tôi để ý Anh có một nụ cười bí ẩn, mãi đến nay tôi vẫn còn chưa hiểu hết ý nghĩa của nó. Thường Anh ít nói mà chỉ cười, cười kiểu “ngậm kim”. Có khi tôi tưởng Anh cười nhạo báng, có khi tôi tưởng Anh cười đồng ý, và có khi tôi cho là Anh cười để tránh nói ra những cảm nghĩ làm mất lòng người khác.

Nguyễn Khoa Nam1

Nguyễn Khoa Nam thời làm công chức

Bây giờ tôi kể lại để Anh nhớ một hai câu chuyện hồi còn ở trường Anh đã gây cho tôi bàng hoàng sửng sốt. Thường ngày vào giờ Vẽ, tôi ngồi gần Anh trong phòng Họa, ở sát ngay Nhà Chơi của Trường. Cả lớp đều biết Anh có tài hội họa, vẽ truyền thần và phong cảnh. Kể ra, vốn tự biết mình vụng về không vẽ nên thân, tôi tìm ngồi gần Anh là cốt học mót nơi Anh cách vẽ, chứ thầy Tôn Thất Đào đâu có đủ thời giờ trong một tiếng đồng hồ đi chăm sóc từng trò một trong một lớp có đến 50 tên. Một năm nọ, vào kỳ thi lục cá nguyệt, thầy Đào ra đề tài cho vẽ tùy ý một cảnh hoạt động ngoài trời. Thế là tôi lúng ta lúng túng, hết gôm rồi lại xóa, làm mòn gần hết viên tẩy, thay tờ giấy vẽ này sang tờ giấy vẽ khác, rốt cuộc năm mươi phút trôi qua mà chẳng vẽ ra cái cảnh nào nên hồn cả. Anh thương tình, biết tôi tự ái, không bao giờ mở miệng cầu viện, mới hỏi: Cậu ưng mình vẽ hộ cho cậu không? Không đắn đo suy nghĩ, tôi cảm ơn lòng tốt của Anh và đưa cho Anh một tờ giấy vẽ còn nguyên. Thế là chỉ trong năm hay bảy phút gì đó, Anh đã họa xong giùm tôi một hoạt cảnh “Đá banh.” Tôi mừng thầm có cứu tinh phò trợ chuyến này chắc tai qua nạn khỏi. Ngờ đâu, khi nhìn vào tờ giấy vẽ trước khi đem lên nạp thời trời đất ơi! Anh đã vẽ một thằng bé chổng mông rách quần trên sân cỏ!!! Vì đã hết giờ và không còn cách nào hơn, tôi đành đem bức họa “quỷ khóc thần sầu” ấy lên nạp. Tôi nghĩ lại tất cả là lỗi tại tôi, đã có ý gian thì phải cúi đầu mà lãnh đủ quả phạt. Buồn cười là câu chuyện không chấm dứt như dự tưởng. Sau hơn ba năm dạy tôi môn Vẽ, thầy Đào thừa hiểu tôi không bao giờ đủ tài năng sáng tác ra một bức họa để đời như vậy. Thầy không cho tôi là người có tội nên phê vào tờ giấy vẽ đề tên tôi điểm 19 trên 20. Còn điểm bức họa của Anh thì chỉ được 18 trên 20 mà thôi. Tôi được một trận cười ra nước mắt, nhưng Anh thì đón nhận bài của mình vẫn với cái nụ cười “ngậm kim” muôn thuở!

Nguyễn Khoa Nam2

Tướng Nguyễn KHoa Nam lễ Phật

Sau đây là một câu chuyện khác, nhưng lần này xin nhường cho Phan Thụy Dung, một người bạn học khác của Anh kể hay hơn tôi nhiều: Một hôm trong lớp học xuất hiện một giáo sư Việt Nam, thầy B. H., dạy tiếng Nhật vừa được ghi thêm vào chương trình trung học. Học trò bên ngoài ngoan ngoãn học ngoại ngữ mới, thật ra bên trong chẳng mấy người hăng hái sốt sắng vì mặc cảm hết tiếng Tây đến tiếng Nhật đang đè nặng. Tất nhiên đám học trò có phản ứng và sự việc xảy ra đã làm cả lớp thích thú:
Hôm đó thầy B.H. giảng cách dùng tiếng Nhật khi nói về “đàn ông” và “đàn bà,” đại khái nói về “đàn ông” thì dùng chữ “Watakusi.” về “đàn bà” thì dùng chữ “Watasi.” Một anh bạn đứng dậy giơ tay nói: Thưa thầy, như rứa là “đàn bà” thì không có “ku” phải không? Cả lớp được một dịp cười hả dạ. Tui không bao giờ quên được anh bạn đó, người đã dùng óc hài hước để hóa giải mặc cảm nói trên. Người học sinh có óc hài hước đó lại là một con người tài ba, sau này đã thành công trong đời, đã lên đến đỉnh cao trong binh nghiệp và khi không giữ được nước, đã noi gương trung liệt của Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Phan Thanh Giản, v.v… làm rạng danh một dòng họ lớn ở đất Thần Kinh: họ Nguyễn Khoa.(Trích trong Tiếng Sông Hương “Kỷ Niệm 100 Năm Trường Quốc Học”).
Anh Nam ơi! Rồi duyên nghiệp đưa tôi trở thành con rể trong gia đình bên ngoại Anh, và qua nhà tôi, tôi trở thành người em cô cậu của Anh. Tin Anh tình nguyện gia nhập binh chủng Nhảy Dù sau khi mãn khóa 3 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức làm tôi kinh ngạc hết sức. Đúng ra, theo phong cách của Anh, Anh phải là một văn nhân, một nghệ sĩ. Nay Anh lại tự ý muốn trở thành quân nhân quả cảm của một binh chủng có tiếng oai hùng nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, điều này làm tôi mến phục Anh vô cùng!
Anh nhớ không, sau Tết Mậu Thân, tôi có dịp cùng một số sinh viên Đại Học Huế lên thăm tiền đồn của Dù bảo vệ Huế đóng trên núi ở phía Tây kinh thành. Lại một lần nữa Anh làm tôi bàng hoàng sửng sốt khi thấy nơi chốn Anh ăn nằm không có chút gì khác biệt giữa cương vị của một vị Đại Tá cao cấp với một anh binh Nhì thuộc cấp.
Trong thời gian Anh đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, tôi được gặp Anh một lần ở Sài Gòn và hỏi về chuyện một Giáo Sư trường Đại Học Dược Khoa muốn theo Anh để nâng khăn sửa túi. Nhưng rồi Anh không nói có, Anh cũng chẳng nói không, mà chỉ cười cái cười ngậm kim như thuở nào!
Anh Nam ơi! Trong trại tỵ nạn ở Subic Bay, chúng tôi bàng hoàng sửng sốt khi nghe tin Anh đã tự sát để đền nợ nước và để tránh khỏi đầu hàng quân địch. Anh lại gây trong lòng chúng tôi một sự sót xa kính phục vô cùng tận không lời nào tả xiết.
Cuối cùng, nhờ được biết Anh thọ trì Thần chú Thủ Lăng Nghiêm từ lâu, nên nay chúng tôi mới rõ trong thời kỳ trước 1975, Anh đã thần thông thấy, biết trước mọi điều bất hạnh sẽ xảy ra cho đất nước, nhưng với trí tuệ giải thoát, Anh vẫn sống an nhiên tự tại, quan niệm sanh tử tức Niết Bàn, thảy thảy đều không. Nay tuy Anh đã đi vào cảnh chân như tịch tịnh, đời đời hậu thế sẽ không bao giờ quên đề cao gương trung liệt của Anh.
Thương kính nhớ Anh vô cùng

Nguyễn văn Hai & gia đình

Nguyễn Khoa Nam3

Tro cốt của Tướng Nguyễn Khoa Nam tại Chùa Già Lam

Nguyễn Khoa Nam5

Hai tay nâng mảnh khăn tang
Trăm năm thôi vĩnh biệt Chàng từ đây
Vì đâu đến nước non này
Lệnh kia sao lại trói tay anh hùng ?
Trước hờn bức tử non sông
Thiên thu đâu lẽ thẹn cùng cỏ cây
Mịt mù bốn phía trời mây
Tiếng gầm đại bác, tiếng cày xe tăng
Phút giây oan nghiệt bất bằng
Giận cơn hồng thủy cuốn phăng sơn hà
Âm thầm, Chàng bỏ lại ta……
Giữa trăm ngàn nỗi xót xa nghẹn ngào !
Kỳ đài, cờ rũ trên cao
Ngỡ ngàng nghe lệnh chiến hào bỏ không
Đau thương nhìn lại xác chồng
Chàng đi theo nước, em không trách Chàng !
Xé manh áo, quấn khăn tang
Lên đầu con trẻ, hai hàng lệ rơi

tiếc thương

Xa nhau…..Vĩnh biệt nhau rồi……
Mà không nói được một lời từ ly !!!
Mắt thần chẳng khép làn mi
Một dòng máu đỏ, tứ chi lạnh dần
Ôm chồng, thân ngã vào thân
Tứ bề pháo giặc xa gần ầm vang
Hai tay nâng lá cờ vàng
Phủ lên cho ấm lòng Chàng, lòng ta !
Tên Chàng dù chẳng sử hoa
Nhưng hồn Chàng đã nhập hòa núi sông
Vô Danh Vạn thuở Anh Hùng!

lu_huong (1)

Chùa Già Lam

Chùa Già Lam (Gò Vấp Saigon) nơi Tướng Nguyễn Khoa Nam yên nghỉ

 
trích thơ Ngô Minh Hằng

Tài liệu đọc thêm(lề phải)

logo-candonline

Phóng sự

Kết cục bi thảm của viên Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật

08:13 30/04/2016
 
Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa, Vùng 4 chiến thuật là vùng rộng lớn nhất, bao gồm cả ĐBSCL hiện nay (trừ Long An), Bộ tư lệnh (BTL) đặt tại Cần Thơ. Mỗi vùng có biên chế quân đội là 1 quân đoàn. Đầu năm 1975, Tư lệnh Vùng 4, kiêm Tư lệnh Quân đoàn 4 là Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam.
 

Anh hùng Nguyễn Tài và ký ức về ngày 30-4-1975

 

Tướng Nguyễn Khoa Nam bấy giờ khá nổi tiếng trong quân đội Sài Gòn. Khi đó, sắp vào tuổi 50 nhưng ông ta vẫn sống độc thân. Điều này có nguyên nhân sâu xa của nó. Nguyễn Khoa Nam là dân làng An Cựu Tây, huyện Hương Thủy, nay thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế. Từ nhỏ, ông ta tỏ ra rất có năng khiếu về hội họa và âm nhạc. Ngay từ những năm tháng còn là học sinh, nhất là thời gian học trung học tại Huế, ông ta đã có nhiều tác phẩm hội họa ấn tượng được trưng bày. 

Ai cũng nghĩ ông ta sẽ tiếp tục khẳng định tài năng của mình thế nhưng một biến cố trong tình cảm riêng tư đã xảy ra. Cô gái người yêu của ông ta sang Pháp định cư, rồi lấy chồng. Chàng họa sĩ tài hoa ấy đã vứt bỏ giá vẽ, vào lính và trở nên hận “phụ nữ”. Ông ta từng “thề” cho tới chết, sẽ không quen biết thêm người phụ nữ nào nữa… 

 
Trụ sở của Bộ Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật xưa.
Sau khi học Trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức (thuộc “Quân đội Quốc gia Việt Nam” trong Liên hiệp Pháp), Nguyễn Khoa Nam phục vụ cho chính quyền Ngô Đình Diệm với chức đại đội trưởng lính dù. Phục vụ trong binh chủng “con cưng” của Ngô Đình Diệm rồi Nguyễn Văn Thiệu, ông ta liên tục thăng tiến. Từ quân hàm đại úy, lên cấp tá chẳng bao lâu, ông ta được Thiệu tin cẩn phong chuẩn tướng, rồi thiếu tướng, giao làm Tư lệnh Vùng 4, trấn giữ cả miền Tây.

Trước sức mạnh như vũ bão của quân Giải phóng, ngày 21-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức trao quyền lại cho Trần Văn Hương. Trước khi cùng gia đình lên máy bay ra nước ngoài, ông Thiệu cùng một số tay chân của mình vẫn nuôi ảo vọng “ngày trở về”. Tại dinh Độc Lập, ông Thiệu đã có cuộc làm việc với thuộc cấp “ruột” Nguyễn Khoa Nam. 

Cả hai “thầy trò” tỏ ra rất tâm đắc, đầy kỳ vọng với “phương án Gavin”. Đó là nếu Sài Gòn thất thủ thì khu vực cuối cùng phải án ngữ là miền Tây Nam Bộ. Sau cuộc họp đó, tướng Nam sốt sắng về Cần Thơ, vạch kế hoạch chuẩn bị cho Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn rút về tử thủ.

Chính vì lo cho kế hoạch tử thủ này mà tháng 4-1975 cũng là những ngày bận bịu nhất của tướng Nam. Một thuộc cấp ông sau này viết trong hồi ký rằng: “Tư lệnh đi họp liên tục ở Tổng tham mưu, ở dinh Độc Lập. Thời gian còn lại, Tư lệnh thường đến các tiểu khu và sư đoàn nhưng nhiều nhất là tiểu khu Long An, Ðịnh Tường, Kiến Tường và Châu Ðốc”. 

Gần cuối tháng 4-1975, trong tình thế càng ngày càng hỗn loạn, nhiều máy bay trực thăng của quân đội Sài Gòn bay lũ lượt từ hướng Sài Gòn về phi trường Trà Nóc (Cần Thơ) và một số bay ra hướng Phú Quốc, tướng Nam vẫn còn dạt dào niềm tin, đến Châu Ðốc khảo sát “vành đai phòng thủ”. Lịch họp của ông ta vẫn dày đặc: Ngày 24-4, họp ở Bộ Tổng tham mưu; sáng 25-4, họp ở tiểu khu Ðịnh Tường… Ngày 27-4, tướng Nam ra lệnh giới nghiêm, yêu cầu các đơn vị bám vị trí, sẵn sàng chống trả quân Giải phóng. Sáng 28-4, tướng Nam tiếp cố vấn Mỹ tại văn phòng Bộ Tư lệnh. Sáng hôm sau, ông ta vẫn bay và chiều cùng ngày, họp ở BTL Sư đoàn 21 Bộ binh (cạnh phi trường Trà Nóc).

Điều khiến cho tướng Tư lệnh Vùng 4 lo lắng nhất vẫn là chuyện quân Giải phóng áp sát và chiếm giữ ngày càng nhiều vị trí trên QL4 (nay là QL1A). Đầu tháng 4-1975, tướng Nam đã trực tiếp đến tận nơi hoặc gọi điện khích lệ tinh thần binh lính tại Sư đoàn 7 Bộ binh (phụ trách tiểu khu Ðịnh Tường) và Sư đoàn 22 Bộ binh (rút từ Vùng 2 về, phụ trách tiểu khu Long An). 

 
Nguyễn Khoa Nam trước ngày 30-4-1975.
Quyết không cho phá cầu Tân An và Bến Lức nhằm phục vụ cho kế hoạch di chuyển bộ máy chính quyền Sài Gòn và Bộ Tổng tham mưu về thủ phủ của miền Tây, tướng Nam liên tục lên “dây cót” tinh thần với các tỉnh trưởng trong Vùng 4 rằng “tôi sẽ chiến đấu tới viên đạn cuối cùng”. “Những ngày cuối tháng 4-1975, áp lực địch vẫn nặng ở QL4. Tiểu khu trưởng Long An tiếp tục báo cáo tình hình nguy ngập và xin tư lệnh cho giật sập cầu Long An. Tư lệnh không cho và ra lệnh các đơn vị tiếp tục phòng thủ” – nhật ký của một thuộc cấp của tướng Nam viết.

Thiếu tướng Hà Nghĩa Lộ, nguyên Giám đốc Công an TP Cần Thơ cho biết, trong ngày 28-4-1975, dù từng tin Cần Thơ là “thủ đô thứ hai” sau Sài Gòn nhưng các tướng tá, nhân viên cao cấp của Mỹ – VNCH tại Tòa lãnh sự Mỹ tại Cần Thơ đã hoang mang cực độ, kéo nhau xuống tàu hải quân chạy ra biển, trong số này có Đại tá Huỳnh Ngọc Diệp – Tỉnh trưởng và Chánh văn phòng BTL Vùng 4. 

Tướng Nam đã chỉ định Đại tá Trần Cửu Thiên lên nắm quyền tỉnh trưởng, kiêm thị trưởng Cần Thơ; chỉ đạo tiếp tục duy trì hiệu lực lệnh tử thủ và lệnh giới nghiêm 24/24 toàn thành phố, đồng thời gấp rút điều lực lượng (gồm 4 trung đoàn chủ lực, 1 trung đoàn bảo an, 2 thiết đoàn xe thiết giáp M113) về giữ tuyến Lộ Vòng Cung, chống trả quyết liệt các cánh quân Giải phóng nhằm bảo vệ cơ quan đầu não. Sáng sớm 30-4, tướng Nam vẫn bay xuống Ðịnh Tường để chỉ đạo cuộc họp chớp nhoáng, xong ông ta bay ngay về Cần Thơ.

Sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, lúc 15h ngày 30-4-1975, 18h30 cùng ngày, lực lượng An ninh TP Cần Thơ chiếm lĩnh Ty Cảnh sát Phong Dinh và Bộ Tổng tham mưu Vùng 4 chiến thuật, tước vũ khí bắt tại chỗ trên 100 tên cảnh sát… Tướng Nguyễn Khoa Nam vẫn ngoan cố tử thủ. Đó cũng là lúc đó ông ta phát hiện có nhiều nội dung trong kế hoạch tử thủ đã bị vứt vào sọt rác, không được triển khai đến các tiểu khu theo lệnh ông ta. Không chỉ có vậy, ông ta còn muốn không tin vào tai mình khi nghe báo cáo tay trợ lý đã “hớt tay trên” khi dùng chiếc máy bay trực thăng dành riêng cho ông ta, để cùng vợ con bay ra Hạm đội 7 của Mỹ ở ngoài khơi.

Ba ngày sau khi Sài Gòn giải phóng, đài BBC loan tin cả 2 viên tướng Tư lệnh Vùng 4 đều đã tự sát, chết tại BTL vùng. Chuẩn tướng, Tư lệnh phó Lê Văn Hưng đã tự sát trước mặt vợ con và nhiều thuộc cấp chiều tối 30-4-1975. Đến viếng và an ủi vợ con tướng Hưng vào tối hôm ấy, tướng Nam lộ chút hoang mang. Còn tình tiết tướng Nam “tự sát”, BBC dẫn từ một cấp dưới của ông ta xác định điều này. Trong hồi ký sau này của một người xưng trung úy, Lê Văn Danh – một trong những thuộc cấp có mặt bên “chủ tướng” Nam vào đêm 30-4-1975, có đoạn tả lại khá tỉ mỉ khoảnh khắc tướng Nam tự sát. Tướng Nam gần như thức trắng đêm 30-4-1975 và rít thuốc lá liên tục.

Đến sáng 1-5-1975, khi trinh sát của ta vào thì phát hiện tướng Nam đã tự kết liễu mạng sống của mình bằng khẩu súng ngắn. Nhiều người cho rằng, trong tình huống không còn máy bay để di tản, tướng Nam chọn cách tự sát là do ông ta sợ bị trừng trị (?). Điều đó không ai kết luận đúng sai. Có nhân chứng kể lại, trước khi tự sát, tướng Nam đã nói với một số thuộc cấp: “Các em hạ vũ khí đi, đừng đổ máu vô ích nữa. Họ (quân Giải phóng) là người chiến thắng sẽ không đối xử tệ bạc với chúng ta đâu”. 

Một số ý kiến khác thì cho rằng có thể trước khi tự sát, ông ta đã nghĩ đến tình huống sẽ bị những “chiến hữu” và người thân của họ trả thù vì đã nghe theo những toan tính điên cuồng, đặc biệt là “nhật lệnh” tử thủ của ông ta, chống trả lại quân Giải phóng, mà họ và người thân của họ đã phải trả giá thích đáng. Thực tế ngày 30-4-1975, chấp hành theo tuyên bố của chính quyền Cách mạng, nhiều người của chính quyền Sài Gòn đã nhận được đối xử khoan dung…(!!)

Thái Bình
 

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s