Tự truyện “cát thuỷ triều”- Trần Thị Lai Hồng

thiếu nữ đọc sách

truyenngan3

 

CÁT THỦY TRIỀU

tranthilaihong15 

Trần Thị Lai Hồng

cam ranh4

 

Một ngọn sóng dâng lên, tôi từ lòng biển theo con nước cuốn dạt vào bờ.

Tôi trong giải cát dài trắng tinh nằm dọc ven biển miền Trung Việt Nam, có cái tên rất nổi danh là Bãi Thủy Triều thuộc vịnh Cam Ranh, nơi sản xuất hàng triệu triệu tấn cát trắng mịn đặc biệt dùng chế tạo thủy tinh, phẩm chất tuyệt hảo.

Chẳng thế mà từ thời nhà Nguyễn dưới quyền cai trị của Pháp, họ từng xúc đoạt hàng triệu tấn chúng tôi mỗi năm chở về mẫu quốc để gây danh tiếng kỹ nghệ chế tạo thủy tinh và pha lê.

 

Lũ chúng tôi là những hạt cát từ lòng Thái Bình Dương dồn tấp vào vịnh Cam Ranh nổi tiếng là nơi trú đậu an toàn, tránh gió bão cho các loại tàu bè, một trong số rất ít cảng biển tự nhiên tốt nhất thế giới, đồng thời cũng có vị trí rất quan trọng về mặt quân sự. Nhiều nhà chiến lược phương Tây đã đánh giá Cam Ranh là một “pháo đài tự nhiên lý tưởng”,“một đồn phòng vệ của Thái Bình Dương.”
Vì vậy, ngay sau khi đánh chiếm Khánh Hòa (1886), thực dân Pháp đã chiếm đóng Cam Ranh và biến vùng đất này thành một đồn binh, một căn cứ hải quân cho các lực lượng của họ tại Đông Dương.

Cam Ranh 3

Vịnh Cam Ranh nhìn từ trên cao

Đi đường bộ từ Nha Trang về phía nam, qua khu rừng dừa xanh mát ngút ngàn, đến Cà Ná, rồi bát ngát mênh mông sóng vào huyện Cam Lâm, trải dài mở rộng bao quanh những cồn cát trắng trùng điệp: Vịnh Cam Ranh, một cảng nước sâu lý tưởng, một trong những hải cảng tốt vào bậc nhất thế giới, sau San Francisco (Hoa Kỳ) và Rio de Janeiro (Brazil). Cam Ranh có thể tiếp nhận các loại tàu có tải trọng từ 10 – 20 ngàn tấn ra vào dễ dàng. Thời Tây Sơn, vua Quang Trung đã cho đặt căn cứ thủy quân tại Cam Ranh, giao cho tướng Trần Quang Diệu trấn giữ. Năm 1886, khi đưa quân sang xâm lược nước ta, thực dân Pháp nhận ra tầm quan trọng của Cam Ranh, nên đã nhanh chóng chiếm lấy làm căn cứ hải quân.

cam ranh3

Lần đầu tiên Cam Ranh trở thành bến đậu của một hải đoàn quân sự vào năm 1905, đầu thế kỷ XX. Đó là các tàu thuộc Hạm đội Baltic Thái Bình Dương II của Đế chế Nga gồm 45 chiến hạm và nhiều tàu tiếp viện dưới quyền chỉ huy của đề đốc Rozhestvensky, ghé Cam Ranh lấy than, trước trận hải chiến eo biển Tsushima trong cuộc chiến Nga – Nhật.

cam ranh5

Trong thời gian hạm đội Nga lưu lại Cam Ranh vào tháng 4-1905, ba nhà chí sĩ yêu nước đất Quảng Nam là Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng, trên đường “Nam du” qua Khánh Hòa, đã vào vịnh xem tàu chiến. Chứng kiến tận mắt hạm đội khổng lồ của người Nga – một cường quốc Châu Âu thời đó – có thể đã gây những suy tư trong chí hướng cứu nước của các cụ.

Ông Huỳnh Thúc Kháng thuật lại trong hồi ký: “Khi đi ngang qua Nha Trang, chúng tôi đã nghe nói có hải đoàn Nga đang dừng ở Cam Ranh. Chúng tôi quyết định đóng giả thương nhân, mua trứng gà, các loại rau, trái cây, thuê thuyền cá và sẽ leo lên một con tàu. Và chúng tôi đã làm được điều đó!” Ai trong số họ đã khởi xướng chuyến thăm này? Hẳn phải là cụ Phan Châu Trinh.

Với phương châm “không vào hang cọp, sao bắt được cọp” với kỳ vọng một sự cải cách triệt để ở Việt Nam, cụ Phan Châu Trinh luôn nỗ lực làm quen với đời sống của các nước tiên tiến, sang Nhật Bản quan sát những thay đổi của đất nước này sau cuộc cách mạng Minh Trị, và từng qua Pháp tìm hiểu nền văn minh công nghiệp. Vì vậy, rất có thể chính cụ đã đề nghị thăm tàu ​​tuần dương Nga để có sự hình dung ban đầu, về quốc gia này.

Cam Ranh1

Vịnh Cam Ranh chiến lược trên Biển Đông

Cát Thủy Triều chúng tôi có đến 98% thủy tinh, là nguyên liệu quý cung cấp cho các nhà máy hóa chất cao cấp và công nghiệp thủy tinh, pha lê, chứa Silicát là điôxít silic (SiO2) trong dạng đa tinh thể như cát và cũng là thành phần hóa học của thạch anh. Khi được nung nóng trên 2 ngàn độ trong lò hồ quang sẽ chảy thành pha lê – và thủy tinh – chế biến thành nhiều loại gia dụng từ cốc tách, đèn chùm…kính xây nhà, giây cáp, màn hình computer, những con chip điện tử linh hoạt.

Thủy tinh, còn được gọi là kính hay kiếng, là một chất rắn vô định hình đồng nhất, có gốc silicát, thường được pha trộn thêm các tạp chất và màu sắc để có tính chất theo ý muốn.

Trong dạng thuần khiết và ở điều kiện bình thường, thủy tinh là một chất trong suốt, tương đối cứng, khó mài mòn, nhưng rất dễ gãy hay vỡ thành các mảnh nhọn và sắc.

Thủy tinh được sử dụng rộng rãi trong xây dựng, làm đồ chứa (chai, lọ, cốc, chén, ly, tách v.v) hay vật liệu trang trí.

 

Pha lê là một dạng thủy tinh silicat kali có trộn thêm một lượng ôxít chì II (PbO) và có thể là cả ôxít bari (BaO) khi sản xuất. Ôxít chì được thêm vào thủy tinh nóng chảy làm cho thủy tinh có chiết suất cao hơn và như vậy độ tán sắc ánh sáng cũng cao hơn so với thủy tinh thông thường, nghĩa là lấp lánh hơn. Sự có mặt của chì cũng làm cho thủy tinh mềm và dễ cắt hơn.

Bản đồ chi tiết Vịnh Cam Ranh cuối tỉnh Khánh Hòa

Cam ranh8

Vịnh Cam Ranh chụp từ vệ tinh

 

Tôi cùng cùng hàng triệu triệu lũ cát từ lòng Thái Bình Dương đùn dạt vào bờ Thủy Triều vịnh Cam Ranh, bị xe xáng xúc dồn dập ào ào đổ vào miệng mấy chiếc tàu hàng nặng nề vượt sóng qua biển Nam Hải, xuống eo Mã Lai, vòng sang Ấn Độ Dương ngược lên Hồng Hải, xuyên kênh đào Suez vào Địa Trung Hải để đáp bến Marseille của Pháp. Từ đó, lũ cát lưu vong chúng tôi phiêu bạt lên tàu hỏa ì ạch xục xịch đến khu kỹ nghệ Lyon, đưa vào nhà máy, sàng lọc, nhào trộn, rồi chui vào lò hồ quang cả 2 ngàn độ, đun chảy thành thủy tinh và pha lê nóng bỏng trôi vào những chiếc khuôn lớn nhỏ, biến thành muôn hình vạn trạng.

 

Lũ chúng tôi trở thành những bộ cắm nến trang trọng kiểu cách, cái cầu kỳ cái đơn giản; những chiếc lọ cắm hoa lịch sự đủ cỡ dài ngắn, tròn bầu, thuôn dẹp; những chiếc bình nước cao sang eo thon nét lượn; những bình hũ đựng rượu hay nước uống thanh lịch; những bộ ly rượu lớn nhỏ kiểu cọ… Chúng tôi có khi còn được pha màu rất thanh nhã mà cũng thật kiêu sang, và có khi còn được chạm trổ hoa lá cành hay khắc hình chim muông thú vật thật khéo léo.

Riêng tôi trở thành một cốc đựng rượu vang, cùng với các bạn khác đóng thành một bộ bốn chiếc, hình dạng thon gọn vừa tầm lòng tay, dù đó là một bàn tay phàm phu thô bạo, hay bàn tay dịu dàng óng chuốt của một nữ nhân qúy phái.

Từ Pháp, lũ chúng tôi lại phiêu bạt bốn phương du nhập qua nước Cờ Hoa, lênh đênh băng Đại Tây Dương vào hải cảng Nữu Ước.

Nước Mỹ

Khi tàu đi qua pho tượng Nữ thần Tự Do, bà mỉm cười giơ cao bó đuốc chào đón và hỏi thăm về quê hương của bà. Bà tưởng quê chúng tôi là nước Pháp, nhưng khi nghe tôi trả lời bằng tiếng Việt, bà dịu dàng cho chúng tôi biết ngọn đuốc Tự Do từng định hướng cho không biết bao nhiêu làn sóng người tỵ nạn từ Đông Âu tràn sang, nhưng không đủ rọi sang phía Tây nước Mỹ, nên bà không tài nào soi đường dẫn lối được cho người tỵ nạn Đông Nam Á tìm thấy lối đi thẳng tới thế giới Tự Do. Vì vậy họ phải bôn ba vượt biển ba chìm bảy nổi chín lênh đênh, băng rừng trèo đèo lội suối, qua không biết bao nhiêu cửa ải cửa ngục, tốn không biết bao nhiêu nước mắt và xương máu, của cải… mới thấy được ánh sáng Tự Do.

Lâu nay bị vùi dập, thiêu đốt, trui luyện, tôi đau cơn đau đổi đời không còn tâm trí nghĩ về dĩ vãng, nay nghe nhắc về quê hương, tôi nhớ những giọng cười vô tư của lũ trẻ mùa hè ra biển đùa sóng tắm nắng. Những lời tình tự yêu thương gái trai hẹn hò trên bãi vắng. Những câu hò khoan nhặt của bạn chài niên tráng. Rồi những đêm trăng đổ vàng trên sóng nước. Những bình minh điểm hồng long lanh ngũ sắc. Những trưa nắng trắng oi nồng tôi ngủ vùi trong võng sóng hòa điệu ru dào dạt. Những hoàng hôn rực lửa. Những cơn biển động cuồng nộ. Những trận cuồng phong. Những ngọn sóng thần.

cam ranh2

Tôi nhớ luôn đến đàn dã tràng hoài công xe cát, lũ sò huyết ngốc nghếch trên bãi Ba Ngòi phơi mình cạnh bọn…bà tiên dị hợm – nhưng rất được đám dân làng nhậu mê mệt. Nhớ bầy ghẹ tên nào cũng chắc nịch, những chị ghẹ mọng ứ gạch ì ạch chạy không kịp với đám đàn bà trẻ con nhanh chân lẹ tay đuổi bắt xâu chúng lại thành chùm đem ra chợ.

 

Tôi chợt nghĩ đến những bạn chài kéo lưới làm nghề cũng đã trải bao gian truân. Máu họ thấm vào chúng tôi khi bị đám bạch chủng và bọn quỷ đỏ tước đoạt quyền hành nghề và họ cũng vượt biển tìm đường thoát thân. Nước mắt họ đã vơi đầy trên chúng tôi khi xao xác những mảnh thuyền vỡ tan tác trôi dạt vào bờ cùng những dấu vết thân nhân bạc phận của họ.

 

Bao hình ảnh cũ lần lượt hiện ra cùng bao kỷ niệm về quê hương xa xôi làm tôi quên nỗi nhọc nhằn va chạm khi bị di chuyển từ cảng Nữu Ước lên xe vận tải chở sang phía Tây nước Mỹ. Tôi mừng thầm khi nghĩ rằng chuyến viễn du vậy mà sắp nối trọn vòng: đến bên này bờ Thái Bình Dương, chỉ còn cách quê tôi một vùng nước mặn mênh mông bát ngát vô tận…

 

Người ta đem lũ chúng tôi bày trong khu bán bát đĩa ly tách nơi thị tứ, ngay trung tâm thành phố Seattle, nơi được mệnh danh là Đô thị Ngọc Bích, tiểu bang Washington Tây Bắc xứ Cờ Hoa. Rồi một hôm chúng tôi được trang trọng về với chủ mới.

Tôi hớn hở, vì chủ mới là một đôi vợ chồng già người Việt tỵ nạn.

Từ đó, trong tủ kính, tôi nghe hai ông bà ngày ngày nhắc bao kỷ niệm quê hương. Họ là những người đi và sống nhiều, nên tôi được nghe nhắc lại không biết bao nhiêu là đường xưa lối cũ, từ:

                   Hà Nội băm sáu phố phường

          Hàng Mật Hàng Đường Hàng Muối trắng tinh…

Rồi những con đường mang tên Hàng Bạc Hàng Bát Hàng Buồm Hàng Cỏ Hàng Đào Hàng Đồng Hàng Gai Hàng Khay Hàng Lọng Hàng Mã Hàng Ngang… Và vô số những món ăn như hũ mắm tôm nặng mùi nhưng làm dậy khẩu vị cho những bát bún ốc bún thang bún riêu, những nồi giả cầy, nồi ba-ba chuối hột…, như giọt cà cuống chết đến đít cũng còn cố tăng hương vị cho những đĩa bánh cuốn Thanh Trì mỏng dánh kèm miếng đậu phụ rán dòn, hay những miếng bún chả thơm ngậy dầm mình trong bát nước mắm pha có những miếng nõn cải, su hào, cà rốt… Rồi cá thu kho nước chè, chả cá thìa là, bún bung bún mọc, canh bánh đa, canh rau rút, rau đay cà pháo…vv và vv…

đồ gốm dát vàng

Từ miền Bắc, họ lại nhắc đến Sơn La Lai Châu Yên Báy, Vịnh Hạ Long, Đảo Cát Bà, Hải Phòng với Đồ Sơn Sầm Sơn… và không quên tắc lưỡi nhớ hương vị mắm rươi hay trứng đúc rươi.

 

Khi kỷ niệm cũ trôi về cố đô Huế trầm lặng có những mùa mưa dầm thúi đất, tôi nghe bà vợ khe khẽ ngâm:

                  Gió đưa cành trúc la đà

         Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương

Và nhớ lại có người từng tưởng Huế có món canh gà đặc biệt của huyện Thọ Xương!!! Có khi nhắc Tản Đà:

                  Đường vô xứ Huế quanh quanh 
Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ
Yêu em, anh cứ anh vô!
Kệ chuông nhà Hồ, mặc phá Tam Giang

Và trong Chiều Trên Phá Tam Giang của Tô Thùy Yên:

                  Chiều trên phá Tam Giang

                  Anh sực nhớ em

                  Nhớ bất tận…

Hay Bùi Giáng:

                  Dạ thưa xứ Huế bây giờ

           Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương…

Sông Hương! Thường các thi nhân ca tụng con sông này hiền dịu uốn lượn không sóng gió, nhưng dưới mắt Cao Bá Quát thì:

             Trường giang như kiếm lập thanh thiên

    (Con sông dài như lưỡi gươm dựng giữa trời xanh)

Nhắc đến Cao Bá Quát:

            Văn như Siêu – Quát vô Tiền Hán

    (Văn của Siêu – Quát vượt cả danh nho đời Tiền Hán)

            Thi đáo Tùng – Tuy thất thạnh Đường

    (Thơ đến ông Tùng ông Tuy hơn cả đời Thịnh Đường)

(Văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát thời Tiền Hán phải thua
Thơ như Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương thời Thịnh Đường còn kém
)

đồ thuỷ tinh

Những chuyện về quê hương nhắc kể lại không biết bao nhiêu cho hết.Trí óc của tôi quá nhỏ bé dù trong suốt – như pha lê – nhưng không thể ghi nhớ hết những gì được nghe. Tôi đắm chìm, ngụp lặn trong hạnh phúc sống cạnh những người cùng quê hương, cùng cảm nghĩ, xúc động. Tấm lòng nhỏ bé của tôi cũng ao ước theo những ước ao của họ, nhất là khi ông già nói đến một “xị” đế. Tôi cũng ước ao được chất “xị” trong suốt đó thấm tràn lòng, như ông già ao ước chất đế thấm mềm môi.

Cho đến một ngày.

Ngày ấy, một ngày trọng đại của dân chúng nước Cờ Hoa: ngày lễ Độc Lập 4 tháng 7.

july 4

Ngày ấy, một ngày đánh dấu cuộc đổi đời lần thứ hai của chúng tôi, thoát kiếp pha lê tinh lọc để trở về làm hạt cát tiền định.

Ông già trong nỗi buồn lưu vong đã hơi quá chén, và một phút nổi giận đem chúng tôi xuống bàn, dang tay ném cả lũ chúng tôi vào mặt bà vợ. Bà già nghiêng mình tránh. Chúng tôi rơi ngay trên chiếc lưng gầy. Những đốt sống gầy chạm mạnh vào lòng chúng tôi vốn rất mong manh. Chúng tôi vỡ vụn. Mảnh vỡ sướt trên lưng gầy, cắt làn da mỏng. Mồ hôi rịn trên vầng trán nhăn tít của ông già. Máu rịn trên lưng bà vợ. Nước mắt bà nhỏ giọt trên thân tôi…

Ôi ! Tôi nhớ những giọt mồ hôi, những giọt máu, những giọt nước mắt xa xưa…

Trong phút chốc, tôi nghe rõ tiếng cười trẻ thơ reo vui trong nắng, lời tự tình trong gió mặn, tiếng hò khoan nhặt thấm mùi biển khơi. Tôi thấy lại những đêm trăng vàng, những bình minh hồng, những trưa nắng trắng, những chiều xanh thẳm, những hoàng hôn rực lửa, những cơn biển động cuồng nộ, những trận cuồng phong, những ngọn sóng thần.

Giờ này cả lũ chúng tôi nằm yên trên bãi vắng xám xịt dơ dáy của bờ Long Beach sau chuyến phiêu lưu cuối cùng từ thùng rác ra xe rác đến bãi rác.

Tuy nhiên, lòng tôi thật an nhiên, thật thanh thản.

Tôi ở đây, ngay bên bở Thái Bình Dương. Tôi chờ đợi, không phải một trận cuồng phong, một cơn biển động, một ngọn sóng thần, mà chỉ chờ một làn sóng nhẹ khi thủy triều lên, êm ái nâng niu ôm cuốn tôi xuống lòng đại dương.

Tôi sẽ trở về nằm trong vòng tay êm ả của biển Thái Bình. Tôi sẽ ngủ giấc thiên thu trong lòng mẹ, vì dù bên này hay bên kia bờ, mẹ lúc nào cũng mở rộng vòng tay ôm cả giải đất hiền hòa quê hương tôi, luôn sẵn sàng nâng niu che chở bằng tình thương bao la độ lượng. Trong vòng tay mẹ, tôi sẽ quên hết mọi phiền muộn, mọi đau đớn đổi đời…

Thân cát, tôi trở về cùng cát bụi.

Trần Thị Lai Hồng

gio-o

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s