Đàn bà đẹp của quê hương mình chừ ra răng ?(Về Nguyên Sa)-Liễu Trương

tạp bút

logo thi ca1

ĐÀN BÀ ĐẸP CỦA QUÊ HƯƠNG TA BÂY GIỜ RA LÀM SAO ?

lieutruong

Liễu Trương

Sống ở Pháp từ năm 1963.

Tiến sĩ Văn học đối chiếu, Đại học Paris III, Sorbonne Nouvelle.

(Đọc và viết)

Nguyên Sa

 

Tên tuổi của Nguyên Sa gắn liền với nền thi ca miền Nam, thời 54-75. Thơ Nguyên Sa không cầu kỳ, hoa mỹ ; với một ngôn ngữ bình dị, tác giả đã tạo nên một thế giới thơ đặc thù, một giọng thơ thân mật, nồng ấm. Tác giả dùng nhiều thể thơ : thơ lục bát, thơ 7 chữ, 8 chữ, thơ tự do, thơ văn xuôi ; đôi khi ông thoải mái tự cho mình tự do trong cách gieo vần, nhưng vẫn gây được cảm xúc nơi người đọc. Ở miền Nam mấy ai không biết bài thơ Áo lụa Hà Đông, áo lụa Hà Đông đã trở nên bất diệt trong cái nắng Sài Gòn. Thơ Nguyên Sa rất gần gũi với mọi người, đặc biệt ông làm rung động trái tim của những cô cậu học sinh, vì ông là nhà giáo, biết rõ học trò mình hơn ai hết. Những người con trai đang vùi đầu trong sách vở vẫn nghe văng vẳng :

                   Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc

                   Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường

                   Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương

                   Tôi thay mực cho vừa màu áo tím…  (Tuổi 13)

thiếu nữ saigon xưa

Và những cô gái mới lớn mơ màng trước những câu :

                   Không có anh lấy ai đưa em đi học về

                   Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học.  (Cần thiết)

Nhà thơ nào cũng ca ngợi tình yêu, than thở về tình yêu. Tình yêu trong thơ Nguyên Sa là thứ tình yêu nhẹ nhàng, trong sáng, được thiên nhiên làm tăng vẻ đẹp :

                   Có phải em mang trên áo bay

                   Hai phần gió thổi, một phần mây

                   Hay là em gói mây trong áo

                   Rồi thở cho làn áo trắng bay ?  (Tương tư)

 

                   Núi cũng như sông vẫn lạ lùng

                   Chiều toàn mây trắng, nhớ nhau chăng

                   Mây tìm chỗ em ngồi soi bóng

                   Anh lậy trời cho nước thật trong…  (Hải âm)

 

Nguyên Sa có thơ tình yêu, nhưng Nguyên Sa cũng có thơ chiến tranh, vì thế hệ trẻ của những năm 60 thế kỷ trước đâu chỉ có tình yêu mộng mơ, hoa bướm, những dấu hiệu của lo âu đã bắt đầu ló dạng :

                   Thế kỷ chúng tôi trót buồn trong mắt

                  Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư.  (Bây giờ)

Rồi chiến tranh bùng nổ khắp trời, làm cho con người đâm lo sợ, mất niềm tin :

                   thành phố trống rỗng

                   thành phố nào đầy chiến xa đại bác

                   đầy nón sắt đầy giây thép đầy mìn chôn

                   mà không trống vắng

                   đám đông nào buồn bã

                   mà không cô đơn,  (Nhìn em nhìn thành phố nhìn quê hương)

Trong bài Cắt tóc ăn Tết, phải cắt đi những sợi tóc gieo thảm họa chiến tranh :

Sợi đặt chông

Sợi gài mìn

Sợi bóp cò liên thanh

Sợi kéo xe đại bác

Cắt cho ta.

nguoi_yeu_cua_linh

Nhà thơ bị cuốn theo cơn lốc chiến tranh. Niềm đau đất nước mỗi ngày một đau (Bao giờ). Trước bao cảnh tàn phá, chết chóc, Nguyên Sa gửi gắm nỗi đau buồn của mình vào những bài thơ trong tập thơ Những năm sáu mươi. Theo Phạm Việt Tuyền (1), tập thơ này được nhà xuất bản Trình bày đưa lên Bộ Thông tin để xin phép xuất bản, nhưng bị giữ lại từ tháng 5-1970 đến tháng giêng 1971. Cuối cùng tác giả quyết định cho in ronéo 200 bản để tặng bạn bè.

Những năm sáu mươi gồm 29 bài thơ : Sân bắn, Nhìn em nhìn thành phố nhìn quê hương, Tắm, Đám tang Nguyễn Duy Diễn, Cắt tóc ăn Tết, Dặn vợ sắp cưới, Bao giờ, Xin lỗi về những lầm lẫn dĩ vãng, Vết sẹo, Nhìn thấy mình trong quân trường nhắn bạn, Cầu siêu cho Nguyễn Quan Đại chết ở Khe Sanh, Thằng Sỹ chết, Chào nhau, Tám phố Sài Gòn, Hỏi bạn, Building, Định mệnh chân dài, Lời năn nỉ, Hỏi thăm Sài Gòn, Giã từ khóa đàn anh, Chim, Vẽ, Nguyền rủa ngày, Ném đá, Hỏa châu và Huyền thoại, Chỗ nằm của ta, Lời dặn bản thân, Tóc, Điểm danh.

Sang Mỹ Nguyên Sa cho tái bản các bài thơ trên đây năm 1998, trong Thơ Nguyên Sa, tập hai, nhưng thiếu ba bài : Vẽ, Tóc và Điểm danh.

Những bài thơ trong Những năm sáu mươi được sáng tác vào thời kỳ đen tối ở miền Nam. Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị sát hại – nói theo phân tâm học : sau khi bầy con đã giết cha – miền Nam không còn lãnh tụ nữa, nền Đệ nhất Cộng Hòa đã chấm dứt. Những cuộc đảo chánh tranh giành quyền chức khiến cho chính quyền trở nên chông chênh, trong khi đó chiến tranh ngày càng khốc liệt. Người dân miền Nam còn nhớ những trận đánh kinh hồn : trận Bình Giã 1964, trận Đồng Xoài 1965, trận Khe Sanh 1968, và nói gì đến thảm họa Mậu thân 1968, mùa hè đỏ lửa 1972. Thơ của nhà giáo triết học Nguyên Sa cũng lao vào khói lửa. Trước hết bản thân ông sống qua trải nghiệm của một người lính. Rồi ông chứng kiến sự thác loạn trong xã hội, sự ra đi của bạn bè. Thơ Nguyên Sa nói lên niềm đau mất mát trong xã hội, mất mát về con người : những người phụ nữ đã làm đẹp cho quê hương, những người trai trẻ đang hăm hở xây dựng cuộc đời.

linhvnch

Trải nghiệm của một nhà thơ

Trước sự đe dọa của chiến tranh, nhà giáo Nguyên Sa từ giã ngôi trường của bình yên, của hạnh phúc giữa đám học trò, để cầm súng. Nhưng Nguyên Sa là một người lính chập chững, ngỡ ngàng trong sân bắn :

                   Bia lên ta thấy thân người

                   Thấy ta thấy địch thấy đời lãng du

                   Thấy tay dư thấy thân thừa

                   Thấy tai nghễnh ngãng mắt mù óc không.  (Sân bắn)

Nhà thơ phát hiện một điều : khí giới quá nặng và những đêm canh gác trong giá lạnh ngoài trời quá vất vả. Ông bỗng dưng cảm thương những người anh em cầm súng :

                   Anh em ta và quê hương ta

                   Vác những thỏi sắt nặng như thế

                   Từ bao nhiêu năm nay    (Xin lỗi về những nhầm lẫn dĩ vãng)

Ông gọi khí giới là thỏi sắt vì ông khinh thường khí giới, vì ông ghét chiến tranh,  không tin tưởng khí giới sẽ cứu được con người.

Và ông có mặc cảm tội lỗi đã không làm gì để giúp những người anh em

                   Để đạn đừng xuyên qua phổi

                   Để đạn đừng xuyên qua tim  (Xin lỗi…)

Kỷ luật quân trường gắt gao, nhà thơ đâm thèm những miếng ngon, đâm nhớ Sài Gòn :

                    Miếng Sài Gòn, ôi ngon

                    Miếng Sài Gòn, miếng Sài Gòn, mang cho tao mấy miếng…

(Nhìn thấy mình trong quân trường nhắn bạn)

Sài Gòn là thành phố của những phe nhóm ồn ào, của những trò hề, những thủ đoạn gây tổn thương cho xã hội. Nhưng Sài Gòn cũng là thành phố của không khí tự do, của tình thầy trò, tình bạn bè, của những sinh hoạt văn nghệ. Sài gòn lại là thế giới của người nữ sinh yêu kiều. Người nữ sinh bỗng được đồng hóa với Sài Gòn để gợi lên bao mộng ước :

gái saigon xưa

                   Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều

                   Cánh tay tà áo sát vòng eo

                   Có nghe đôi mắt vòng quanh áo

                   Năm ngón thơ buồn đứng ngó theo

                   …………………………………….

                   Sài Gòn tối đi học một mình

                   Cột đèn theo gót bóng lung linh

                   Mặt trăng theo ánh đèn : trăng sáng

                   Đôi mắt trông vời theo ánh trăng….  (Tám phố Sài Gòn)

Nhưng rồi nhà thơ chóng vượt khỏi những cảm nghĩ riêng tư để nhìn bao mất mát chung quanh mình. Những giá trị đạo đức đã bị lu mờ vì sự xuất hiện của những tên hề thời đại làm cho xã hội bị suy thoái, phải ném đá :

                   Thằng cực tả khôi hài

                   Thằng hữu khuynh lố bịch

                   Thằng văn nghệ phe nhóm

                   Thằng trốn lính đê hèn

                   Thằng chính trị hoạt đầu

                   Thằng chủ bại tham tiền

                   Thằng diều hâu bần tiện…  (Ném đá)

Lại có Những thằng xẻo thịt non sông, những thằng băm vằm tổ quốc (Cắt tóc ăn Tết), và Những đứa sát nhân, vu oan giá họa/ Những đứa chụp mũ, chụp mũ, chụp mũ (Bao giờ). Trong một xã hội như thế, thân phận người phụ nữ ra sao ?

Người phụ nữ trong thời chiến

volinh

Thuở xưa, trong khi người chồng xông pha nơi trận mạc thì người thiếu phụ Nam Xương, cũng như người chinh phụ của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm, ở nhà thương nhớ chồng, chỉ mong sao người chồng chóng trở về đoàn tụ với gia đình. Người phụ nữ ở miền Nam của thế kỷ 20 không được cái may mắn sống một nơi bình yên để thương nhớ chồng. Có những người phụ nữ ngày ngày phải lăn lộn ngoài đời vì kế sinh nhai, và chẳng may bị chiến tranh xô đẩy xuống vực thẳm, làm mất phẩm giá của một người nữ. Nguyên Sa đau xót thăm hỏi :

                   Em gái bán bar, mạnh giỏi không em cưng

                   Những thằng đạo đức giả còn sỉ vả các em không 

                   Kệ chúng

                   Chúng nói cho yên tâm

                   Thằng Smith hồi này có hay say rượu không

                   Những ngày say rượu nó còn đánh em không

                   Ban đêm những chòm lông đầy ngực nó chạm vào tay

                   Em còn sợ hãi không

                   Ráng nghe cưng

                   Nó trả tiền, nó trả tiền, nó trả tiền

                   Khi nào cực quá chịu hết nổi

                   Khi nào rầu quá chịu hết nổi

                   Em hãy đọc một ngàn lần câu thơ chua xót đó

                   Như anh.    (Hỏi thăm Sài Gòn)

Ở thành phố có những người phụ nữ ngụp lặn trong cảnh đời lao đao như vậy, còn ở thôn quê nơi bom đạn vang dội ngày đêm, nơi khói lửa mịt mù, có còn bóng dáng người phụ nữ không ? Trong bài thơ Hỏi bạn, nhà thơ Nguyên Sa biến một nơi ở miền Hậu Giang thành mảnh đất huyền thoại của quê hương, vì nơi đó có những người phụ nữ đẹp nhất Việt Nam, và tác giả lo lắng hỏi :

                   Đàn bà đẹp của quê hương ta bây giờ ra làm sao

                   Máy bay B năm mươi hai đã bay qua đấy chưa 

                   Con đường khấp khểnh đã bị gài mìn và đắp ụ chưa

                   Thu thuế ban đêm đã bắt đầu khai diễn chưa

                   Đồ hộp phế thải đã bắt đầu bày bán chưa

                   Người Mỹ đã đi qua đó chưa

                   Cộng sản đã đi qua đó chưa

                   Giữa tất cả những cái xấu xa đó

                   Đàn bà đẹp của quê hương ta ra làm sao ?

linh_nga

Sự lo lắng thể hiện qua những câu hỏi dồn dập. Chiến tranh biểu tượng cho cái xấu xa và phụ nữ biểu tượng cho cái đẹp. Cái đẹp của người phụ nữ cũng là cái đẹp của quê hương. Cái xấu xa đã giết cái đẹp. Câu : Đàn bà đẹp của quê hương ta ra làm sao ? là một leitmotiv nhắc nhở sự lo âu về một mất mát. Và sự mất mát to lớn cuối cùng, vô phương cứu chửa là cái chết.

Người trai trẻ trong thời chiến

Nguyên Sa khóc cho cái chết của bạn bè nơi chiến trường, khóc cho những người bỏ dỡ tuổi thanh xuân và đau cái đau của người còn sống. Khi nói đến bạn bè đã nằm xuống, Nguyên Sa gọi đích danh họ : Nguyễn Duy Diễn, Sỹ, Nguyễn Quan Đại. Mỗi cái chết của bạn là một sự thương tiếc được che giấu bằng mỉa mai, tức giận hay chấp nhận và tự trách.

Với Nguyễn Duy Diễn thì người bạn khỏe quá : đã trút hết gánh nặng của thân xác, không còn gì ràng buộc nữa, Nguyễn Duy Diễn đã thoát khỏi cuộc đời, nhẹ nhàng biết bao !

Còn Sỹ, tại sao không chờ những hứa hẹn hòa bình của các lãnh tụ trên thế giới ?  Và Sỹ nằm ngay đơ ra đó vì một viên đạn đã xuyên qua tim.

Về phần Nguyễn Quan Đại thì nhà thơ xin bạn hãy xóa bỏ ký ức, ký ức chứa đựng kỷ niệm hạnh phúc với người yêu, nhưng ký ức cũng chứa đựng kỷ niệm gian lao của đời lính :

                   Anh em trong đơn vị nói với anh hãy quên những đêm sình lầy

                   Hãy quên những ngày hành quân mưa tối mắt

                   Hãy quên những suốt dù thênh thang bọc gió

                   Hãy quên lớp khói mầu từ bãi đáp bay lên

                   Hãy quên điểm đứng, hãy quên địa bàn, hãy quên tọa độ…

                                               (Cầu siêu cho Nguyễn Quan Đại chết ở Khe Sanh)

Gọi đích danh những người bạn xấu số và nơi chốn của tử thần như Khe Sanh, là làm cho sự mất mát trở nên cụ thể, có trọng lượng và khó quên.

Nhưng đâu chỉ có những người bạn thân thiết ra đi. Biết bao người trai trẻ đã hy sinh tính mạng. Nhà thơ nhắc từng hoàn cảnh :

                   Những anh em chết ở bờ ở bụi

                   Những anh em chết ở đồng vắng chết trong rừng sâu

                   ……………………………………………………….

                   Những anh em có vợ mới cưới chăn gối còn thơm

                   Cũng chết

                   Những anh em có viết thư tình nét chữ còn run

                   Cũng chết

                   Những anh em con cái còn nhỏ hơn con cái ta

                  Cũng chết

                 Những anh em mẹ già còn già yếu hơn mẹ ta

                 Cũng chết.              (Xin lỗi về những nhầm lẫn dĩ vãng)

Hai từ Cũng chết lặp lại đều đều như tiếng nấc thổn thức trước sự mất mát đột ngột, phũ phàng. Cũng chết là một leitmotiv nhắc đi nhắc lại rằng chiến tranh tàn ác, không tha một ai.

Còn nỗi đau buồn của người còn sống nói sao cho xiết :

Cái vụ tử tuất của thằng Hai con dượng Sáu

                   Để con về sẵn dịp con lo

                   Thôi dượng đừng khóc nữa

                   Dượng khóc làm ông ngoại cũng khóc

                   Dượng biểu tại ngoại khóc làm dượng khóc

                   Ngoại biểu tại dượng khóc làm ngoại khóc

                   Thiệt ra tại con

                   Tại con về không có thằng Hai.   (Hỏi thăm Sài Gòn)

Khổ thơ kết thúc bất ngờ : Tại con về không có thằng Hai ; câu thơ nhấn mạnh mặc cảm tội lỗi của người sống sót đối với gia đình người chết. Động từ « khóc » lặp lại nhiều lần khiến nhịp thơ tạo một vòng xoáy gợi nỗi đau xoáy sâu vào lòng người.

saigon xưa

Đáng chú ý là trọn bài thơ Hỏi thăm Sài Gòn cho thấy nhiều hình thức đau khổ do chiến tranh gây ra. Phần đầu nhà thơ nói với nữ sinh về những người con trai nay vắng mặt dưới mái trường :

                   Nhớ ngày tụi nó chọi phấn

                   Tụi nó viết thơ nói bậy bạ

                   Bỏ qua đi em gái

                   Đừng phiền tụi nó

                   Tội nghiệp tụi nó

                   Nghe em.

Phần giữa là thân phận cô gái bán bar và phần kế tiếp là Thằng Hai tử trận.

Rốt cuộc chỉ còn lại tình thương. Tình thương của nhà giáo đối với những đứa học trò tinh nghịch của mình nay đã bị đẩy vào khói lửa chiến tranh : Hồi này tụi nó bị đi cả / Tội nghiệp những con ngựa hoang chạy trên cánh đồng tuổi trẻ. Tình thương đối với những người anh em đang cầm súng, tình thương đối với những người anh em đã nằm xuống. Và rồi cuối cùng tình thương sẽ thắng hận thù. Chờ ngày chiến tranh chấm dứt để :

Chúng ta nắm chặt thứ vũ khí mới là tình yêu, là hy vọng, là cánh tay đồng bào ta bè bạn ta và anh em ta

Thứ vũ khí không thể nào hoen rỉ.  (Vết sẹo)

Thơ chiến tranh của Nguyên Sa không hướng về những trăn trở siêu hình trước cái chết, như thơ Tô Thùy Yên trong bài Chiều trên Phá Tam Giang. Thơ chiến tranh của Nguyên Sa nhìn cái chết của con người từ góc độ xã hội – xã hội tức gia đình, bạn bè quen biết, anh em đồng đội, học trò, v.v… – xã hội khốn khổ khi phải vĩnh viễn mất những đứa con thân yêu mà không gì thay thế được. Chiến tranh là một hung thần cướp giựt sự sống của con người.

Tập thơ Những năm sáu mươi của Nguyên Sa phản ánh một miền Nam khốn khổ vì chiến tranh, con người chao đảo giữa cái sống và cái chết, và đưa đến một câu hỏi cơ bản : nguyên do nào khiến sự sống của con người không được xem như một điều tối quan trọng ? Lời đáp phải đến từ những suy nghĩ lịch sử, chính trị và đạo đức.

(1)  Phạm Việt Tuyền, Đọc « Những năm sáu mươi » của Nguyên Sa, một tập thơ bị kiểm duyệt, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (Sài Gòn), Tập I, 1-5, từ tháng 3-1971 đến tháng 7-1971

 

Thơ chiến tranh của Nguyên Sa :

                                                                          Hỏi Bạn

Tạp chí Tiếng Nói, trang mười tám, số hai, một nhà thơ nói ở Hậu Giang, phía bên kia Châu Thành   Long Xuyên, trên con đường khấp khểnh đi về quận Chợ Mới, đó là nơi phụ nữ đẹp nhất Việt Nam,

Ta chợt nhớ một lần một anh bộ trưởng ngu ngơ ký sự vụ lệnh đổi ta về đó

Ta lấy làm ức không đi

 

Bây giờ nghĩ lại ta biết là ta lầm

Ta biết rằng đó là nơi ta phải tới

Đó chính là nơi ta phải sinh ra

Đó chính là nơi con cái ta nên sinh ra

Đó chính là nơi ta phải sống

Đó chính là nơi ta làm thơ

Đó chính là quê hương ta

Và ta lấy làm tiếc.

baba2

 

Lấy làm tiếc và rất lấy làm tiếc

Lấy làm tiếc và lấy làm lo ngại

Tình hình miệt ấy bây giờ ra làm sao

Mặt trận miệt ấy bây giờ ra làm sao

Bom đạn miệt ấy bây giờ ra làm sao

Ngày đại bác bây giờ ra làm sao

Đêm công đồn bây giờ ra làm sao

Giữa tất cả những cái xấu xa đó

Đàn bà đẹp của quê hương ta ra làm sao ?

 

Đàn bà đẹp của quê hương ta bây giờ ra làm sao

Máy bay B năm mươi hai đã bay qua đấy chưa

Con đường khấp khểnh đã bị gài mìn và đắp ụ chưa

Thu thuế ban đêm đã bắt đầu khai diễn chưa

Đồ hộp phế thải đã bắt đầu bày bán chưa

Người Mỹ đã đi qua đó chưa

Cộng sản đã đi qua đó chưa

Giữa tất cả những cái xấu xa đó

Đàn bà đẹp của quê hương ta ra làm sao ?

aobaba

                               Nguyên Sa

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s