Đằng sau những lá bài(lần 2)-Truyện Đỗ Trường

thiếu nữ đọc sách

truyenngan3

ĐẰNG SAU NHỮNG LÁ BÀI

Đỗ Trường

Đỗ Trường

Tôi biết, và đọc hồi ký Đường Đi Không Đến của nhà văn Xuân Vũ vào khoảng đầu năm 1990, do Trung tá, bác sỹ Đặng Huy Lưu cựu Liên đoàn trưởng quân y vùng 4 Quân đội VNCH, cư ngụ tại Houston gửi tặng. Và cũng từ bác sỹ Đặng Huy Lưu, tôi có được số điện thoại của Xuân Vũ, một nhà văn tài năng, có số phận khá đặc biệt, mà tôi ngưỡng mộ. Khi chùm truyện ngắn Phượng Ơi! Đừng nở nữa, Lầm Lỡ và Ngã Ba Cuộc Đời của tôi được đăng trên nguyệt san Hương Quê (Houston), ông đã có lời ngợi khen, khích lệ…
Tưởng mới đây thôi, thế mà Xuân Vũ đã rời bỏ chúng ta, rời bỏ cõi tạm này tròn một con giáp. Thời gian gần đây, tôi đọc, và ngẫm nghĩ muốn viết về thơ văn cũng như chân dung ông. Nhưng không hiểu sao, những câu chuyện xã hội không đầu, không đuôi trước đây ông đã kể, như những thước phim chợt hiện về. Chuyện xảy ra, khi tôi chưa được sinh ra làm kiếp con người. Có những chuyện là thực và có cả chuyện chỉ là những giai thoại…
Biết là thế, và để tuyệt đối tôn trọng nhà văn đã khuất, kẻ hậu bối xin phép ráp lại những câu chuyện trên một cách trung thực nhất (có thể), với hơi hướng của truyện ngắn. Tuy nhiên, dù công lao, tội lỗi, hay đúng sai thế nào đi chăng nữa, người viết vẫn phải dùng những đại từ nhân xưng đúng với lễ giáo cho các nhân vật trong truyện, bởi họ đều thuộc thế hệ cha ông và đã ra người thiên cổ từ lâu…
********
Chưa đến giờ giới nghiêm, nhưng dường như thành phố đã chìm vào trong giấc ngủ. Chợt có những cơn gió bấc luồn qua ngõ nhỏ, bật ra âm thanh như tiếng hú gọi. Lơ lửng dưới khung cửa lá cờ đỏ ướt sũng, rũ xuống loang như vệt máu tươi hằn lên nền trời. Mưa mỏng dần, bay như những dải khăn trắng vắt qua con phố vắng.

Trường Sơn1

Với không gian, tiết trời này, lẽ nào Hà Nội có thể lập xuân? Vũ phân vân tự hỏi, rồi ngước nhìn những chiếc xe cam nhông phủ bạt kín mít đang lao nhanh về phía cầu Paul Doumer (Long Biên). Có thể, đây là những chuyến hàng cuối được đưa xuống Hải Phòng, rồi chở về miền Nam quê hương. Nơi vài tháng trước đây Vũ đã từ bỏ nó.
Từ khi cầm tờ giấy trưng dụng đi cải cách ruộng đất ở vùng duyên hải Nam Định, Thái Bình, cho mãi đến sau này, ngẫm nghĩ, Vũ càng ngấm và thấm, cũng như mến phục chí khí, tài năng ông bạn văn Trần Dần: “Tôi bước đi/ Không thấy phố/ Không thấy nhà/ Chỉ thấy mưa sa/ Trên màu cờ đỏ“
Dừng bước chân, lòng anh dường như gợn lên một cảm giác thất vọng, cô đơn trong cái không gian nặng nề, và trống vắng này. Đứng giữa thành phố, mà anh cứ nghĩ, đây không phải Hà Nội. Bởi nơi đây, dường như đã rụng mất “hồn người“ và vắng cả tiếng rao đêm của những Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng… Vậy là không chỉ thực tại, mà cả những trang sách của họ đã bị xé bỏ ngay trên mảnh đất đã sinh ra nó. Như một nhát dao cắt đứt cơn mộng du, Vũ đưa tay vuốt lại khuôn mặt nhòe trong mưa, loạng choạng bước tiếp…

Trường Sơn2

 

Đọc xong báo cáo của Đại sứ Hoàng Văn Hoan từ Peking gửi về, Chủ tịch Hồ Chí Minh ngước nhìn Tổng bí thư Trường Chinh, và hỏi:
– Ý kiến và kế hoạch của anh như thế nào?
– Như tôi cũng đã trình bày với các đồng chí cố vấn, đây là cuộc cải cách ruộng đất đợt cuối và quyết liệt nhất. Chương trình có thể thực thi, nhưng chắc chắn chúng ta sẽ gặp phải sự chống đối của dân chúng, nhất là giới trí thức và báo chí trong và ngoài nước. Theo kế hoạch, chúng tôi chỉ thị cho các cơ quan từ trung ương đến địa phương, chọn lựa người bổ xung cho công tác cải cách đợt này và đã đưa học tập, chỉnh huấn. Chương trình cụ thể, chúng ta sẽ bàn và thống nhất ở cuộc họp tới đây.
Dụi điếu thuốc đang cháy dở, Hồ Chí Minh bảo:
-Cái chính, chúng ta chọn người trong đội cải cách phải là thành phần bần cố, ít học, tuyệt đối trung thành. Đây là cuộc cải tạo đại qui mô, triệt bọn phú nông, tư sản tận gốc. Do vậy, chúng ta chỉ thị cho Bộ ngoại giao không được cấp chiếu khán cho bất kỳ nhà báo, hay tổ chức xã hội nào. Các đoàn ngoại giao trong thời kỳ này cũng ngừng đón tiếp. Một số nhà báo nước ngoài còn ở trong nước, cố gắng tạo ra một lý do nào đấy để trục xuất. Tất cả đều phải bất ngờ, không để bọn địa chủ, tư sản tẩu tán tài sản. Chúng ta phải cho đội cải cách học tập kinh nghiệm khuấy động quần chúng, gây cho họ lòng thù hận, nhất là thành phần vô học. Bởi họ là lực lượng nòng cốt đấu tố. Điều quan trọng nữa, cần ly gián tình cảm cha con, ông cháu địa chủ, tư sản, tạo ra mâu thuẫn gia đình. Nó rất có lợi cho ta khi đối phó với những tên ngoan cố cất giấu tài sản. Đây là ý kiến cũng như áp lực từ phía Trung Quốc.
Thấy Trường Chinh còn băn khoăn về sự phản kháng của dân chúng, truyền thông và nhân sỹ trí thức. Hồ Chí Minh rất tự tin và trấn an:
-Chúng ta cứ yên tâm triển khai công việc. Vấn đề này, thuộc trách nhiệm của chú Văn (Võ Nguyên Giáp) và chú Hoàn (Trần Quốc Hoàn).
Sau tết nguyên đán, dưới sự chủ tọa của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, hội nghị đã hoàn toàn nhất trí về kế hoạch, phương thức cải cách, đấu tố, cũng như nhân sự chỉ đạo. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến đề nghị Hồ Chủ Tịch làm Trưởng ban cho xứng với tầm vóc, mang ý nghĩa lớn lao này. Nhưng ông từ chối một cách khiêm nhường, với những lý do khó có thể nài ép.

Trường Sơn3

Bước ra khỏi phòng họp, Tổng bí thư Trường Chinh quay lại dặn Vũ Tuân: Cuối tuần tới thằng Kỳ (Đặng Xuân Kỳ sau này là viện trưởng Mác- Lê nin) từ đơn vị về. Cậu và nó về quê đón ông cụ nhà mình lên đây nhé. Nếu cần, có thể mang theo đội bảo vệ, đề phòng bất chắc…
Tuy không mưa, nhưng nền trời xám ngoét. Đường đất vẫn nhẽo nhoẹt, bám vào bánh, cuốn chặt chắn bùn xe…nặng nề, ngúc ngắc làm cho Vũ gò lưng đạp. Thỉnh thoảng, anh phải xuống xe, bẻ cành tre bên đường để cạy đất. Gần trưa Vũ cũng tới được Xuân Trường. Đang loay hoay tìm đường vào làng Hành Thiện, anh chợt nghe tiếng động cơ với tiếng còi xe hơi cấp tập phía sau lưng. Vũ nhảy vội xuống xe, đứng nép vào mép đường. Chiếc xe hơi chòng chành, chồm lên thụt xuống những ổ trâu trên mặt đường. Vũ quay mặt, co người lại, nhưng đất bùn từ bánh xe vẫn văng đầy lên đầu và lưng áo. Chưa kịp văng ra một câu chửi tục, chiếc xe đã vọt lên, phả vào mặt anh mùi xăng dầu cháy khét lẹt…
Khi vào tới đầu làng, Vũ gặp lại chiếc xe hơi từ trong làng chạy ngược trở ra. Tìm gặp được người đội trưởng đội cải cách, Vũ thấy mặt hắn xanh như đít nhái, đang bần thần đứng tựa lưng trước cổng nhà. Sau nghe kể, Vũ mới biết đó là nhà của gia đình Tổng bí thư Trường Chinh. Vũ đưa cho cho hắn công văn của Ban cải cách. Hắn cầm, rồi đưa lại cho Vũ:
-Tôi mới qua lớp bình dân học vụ, có đọc cũng không hiểu hết. Ông đọc và giải thích giùm tôi.
Đọc và giải thích xong cho người đội trưởng, thấy cảnh bắt bớ đấu tố một cách dã man, Vũ chán nản, định quay ngay về Nam Định. Lên xe, đạp được mấy vòng, nghe tiếng gọi giật giọng làm Vũ giật mình. Định thần một lúc anh nhận ra Đông quê Phủ Lý, bộ đội thời Nam Tiến, đóng ở Quân khu 9, tập kết cùng ngày. Gặp Vũ, hắn mừng lắm, rỉ tai bảo, rất hối hận đã ra Bắc tập kết, dù đó là quê hương bản quán. Ngán đến tận cổ cái công việc chó chết này.
Vũ hỏi hắn, chiếc xe hơi vừa vào làng của ai, và làm gì? Hắn bảo: Trên xe chở Vũ Tuân và con trai của Tổng bí thư Trường Chinh… chuyện dài dòng lắm…Sáng nay vừa thủ được chai rượu gạo, gặp ông đúng người, đúng rượu, kiếm chỗ ngồi lai rai, tôi kể ông nghe….
Xe lao thẳng …và dừng trước cổng nhà họ Đặng. Ngôi nhà đang bị du kích và bà con bần cố nông vây chiếm. Nhảy xuống xe, Vũ Tuân la lớn:
-Cụ Bốn Đễ đâu? (tên cụ thân sinh ra ông Trường Chinh)
Một người trong đội cải cách lăm lăm tay súng, hất hàm hỏi lại:
-Ông là ai? Đến đây làm gì? Ông ta là địa chủ cường hào đại gian, đại ác đã bị đội và bà con bần cố bắt giam, sẽ mang ra đấu tố, trừng trị trong nay mai.
Vũ Tuân hỏi:
-Ai là đội trưởng ở đây?
Một người, từ trong đám đông bước ra, vỗ ngực:
-Tôi, ông cần gì, và từ đâu đến?
Vũ Tuân đưa cho người đội trưởng tờ giấy và bảo:
-Đây là chỉ thị của đồng chí Tổng bí thư Trường Chinh, chúng tôi có nhiệm vụ đưa cụ Bốn Đễ thân sinh ra đồng chí Tổng bí thư về Hà Nội.
Người đội trưởng cầm tờ giấy không thèm đọc:
-Lệnh liếc gì! Ở đây chỉ có lệnh của địa phương lệnh của đội cải cách. Chỉ biết rằng, ông ta là địa chủ cường hào, có nợ máu với nhân dân, trước sau cũng phải đền tội.
Nóng mặt, không chịu được, Đặng Xuân Kỳ nhảy xuống xe quát:
-Các ông giam ông tôi ở đâu? Các người chống lệnh hả?
Có mấy bần cố nông nhận ra Kỳ, hét to:
-À, nó là cháu đích tôn của địa chủ, bắt nhốt lại.
Đội cải cách ập đến định bắt Kỳ. Thấy không ổn, đội bảo vệ lãnh tụ nhảy xuống xe, rút súng, kéo chốt an toàn, quát lớn:
-Các người bỏ súng xuống!
Rất nhanh chóng, các ông đội, mấy bà dân quân du kích đã bị đội bảo vệ lãnh tụ tước đoạt vũ khí. Một họng súng đen ngòm dí thẳng vào đầu người đội trưởng, bắt dẫn đến nơi giam cụ Bốn Đễ.

Trường Sơn4

Nơi ông bị giam là cái chuồng lợn thấp lè tè, thối hoắc. Ông bị trói chẳng khác nào con lợn chuẩn bị mang ra cân móc hàm, để chọc tiết. Cả đêm ông không hề chợp mắt. Nghĩ uất ức lên tận cổ, người ông xọp hẳn đi. Khi nghe tiếng chân người, tiếng súng đạn lạch cạch, ông sợ mặt cắt không ra giọt máu. Nhận ra Kỳ, ông thở phào, nhưng tay chân vẫn còn run rẩy.
Sau khi đưa cụ Bốn Đễ lên xe, Vũ Tuân còn dặn người đội trưởng:
-Nhà của Tổng bí thư, không ai được phép vào xâm chiếm, và sử dụng. Các anh phải có nhiệm vụ trông coi.
Người đội trưởng run lên bần bật, vâng dạ, chẳng khác gì hình ảnh địa chủ, phú nông, vừa bị hắn mang ra đấu tố, xử bắn …
Cuộc cải cách ruộng đất đến đỉnh điểm khốc liệt, Vũ lăn quay ra ốm. Nằm mãi bệnh tình không thuyên giảm, buộc ban cải cách phải trả Vũ về Hà Nội. Với triệu chứng nóng lạnh bất thường, cũng như khi tỉnh lúc mê, anh được nhiều bác sỹ đầu ngành thăm khám. Điều kỳ lạ, họ không thể tìm ra nguyên nhân chính của căn bệnh để có phương án điều trị. Người của Ủy ban thống nhất nhiều lần đến thăm dò, hỏi han. Có kẻ độc mồm còn cho rằng, Vũ bị bệnh tâm lý, diễn biến tư tưởng. Nhưng có người lại bảo, hắn là nhà văn, nếu như diễn biến thì nó phải thể hiện trên trang viết. Chứ có bằng chứng quái nào đâu!
Chủ nhật, Vũ nằm đọc sách, chợt có bước chân đi lại gần cửa phòng. Định kéo chăn trùm đầu, nhưng Vũ nghe tiếng vọng vào: Ốm đau thế nào, tôi đến thăm ông đây. Nghe như tiếng Nguyễn Tuân, Vũ bật dậy. Cửa mở, Nguyễn Tuân vồn vã, ốm đau nằm mãi cũng nhược người, đi ra ngoài một chút cho thoáng. Bất chợt, Nguyễn Tuân ghé tai Vũ, bảo: Ông “diễn“ giỏi lắm.
Với Vũ, Nguyễn Tuân không chỉ là người thày, người anh lớn mà còn là người bạn tri kỷ, nhất là những năm tháng đầu sống trên đất Bắc.
Thấy Vũ lưỡng lự, Nguyễn Tuân giục, khoác áo ấm vào, ở Nhà Hát Lớn đang mittinh, nghe nói, hôm nay các bố ấy công khai nhận lỗi trong cải cách ruộng đất.
Vũ và Nguyễn Tuân tới nơi, trên sân khấu Đại tướng Võ Nguyên Giáp quần áo một màu trắng toát, vẫn cái khí thế của người đang say chiến thắng Điện Biên năm nào. Tuy thay mặt chủ tịch Hồ Chí Minh nhận lỗi, nhưng ông vẫn cười đùa, cợt nhả trước nỗi oan và cái chết của mấy trăm ngàn người. Thái độ, bộ điệu đó làm cho Vũ cảm thấy khó chịu. Nguyễn Tuân nhịn không nổi, chửi một câu thật tục, rồi kéo Vũ ra về.
Đêm đã về khuya, Nguyễn Tuân và Vũ quay lại khu vực Hồ Bảy Mẫu, chui vào quán rượu nằm lắt léo trong một con ngõ nhỏ, thuộc phố Nguyễn Đình Chiểu. Nơi đây, có khá nhiều đoàn người đến từ các tỉnh. Họ nằm la liệt nơi hè phố, yêu cầu được gặp đích danh Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ của ông để kiện cáo, phản đối cải cách ruộng đất. Vũ ngồi lặng im nhìn những người nông dân chất phác hiền lành đã bị đẩy đến đường cùng. Và họ là hình ảnh của những người nông dân quê Vũ sau này chăng? Nếu Việt Nam thống nhất, như lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ý nghĩ liên tưởng bất chợt ấy, làm cho Vũ không khỏi rùng mình, kinh hãi.
Nhìn khuôn mặt bất thần của Vũ, Nguyễn Tuân bảo, sắp tới chắc có nhiều biến động. Tổng tuyển cử không thành. Sẽ có một cuộc chiến. Con đường về Nam sẽ mở ra cho ông. Từ bây giờ ông hãy ngừng “diễn“, viết lách trở lại, để có chân trong hội nhà văn…và chờ thời…
Ngọn đèn hoa kỳ trước mặt phập phù dường như dầu đã cạn. Người đánh cá đêm đã tu cạn cút rượu, vác dậm đi ra phía hồ. Vũ và Nguyễn Tuân cũng đứng dậy với những bước chân loạng choạng trong đêm.
Có chân trong hội nhà văn, là bước đầu Vũ đã lấy lại được lòng tin của Đảng, của Ủy ban thống nhất. Có lẽ, chưa khi nào Vũ theo dõi sát thời sự chính trị, nhất là tình hình miền Nam như lúc này. Tuy nhân sự đại hội Đảng lao động lần thứ 3 đúng như dự đoán của giới vỉa hè, nhưng Lê Duẩn được chọn làm Bí thư thứ nhất vẫn làm Vũ bất ngờ. Bởi hình ảnh, bí thư xứ ủy Ba Duẩn vạch chim đứng đái, rồi vảy phành phành dưới gốc dừa, ngay trước mặt chị em, trong đại hội phụ nữ Nam Bộ, in hằn trong tâm trí non nớt ngày đầu đến với Cộng sản của Vũ. Và với nhân cách, học thức ấy, bây giờ không dừng lại riêng cho một bí thư xứ ủy Lê Duẩn, mà cho toàn Đảng lao động.

Trường Sơn5

Cũng từ đây Vũ hiểu rõ hơn câu tục ngữ: “ Thả con săn sắt, bắt con cá rô“ với ý đồ thâm nho của chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc Trường Chinh không làm Tổng bí thư là sự mất mát lớn cho Hồ Chí Minh và đảng của ông. Bởi Trường Chinh là người có học nhất và cũng là một lý thuyết gia số một của Đảng CS. Và với quyết tâm, dù đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải thống nhất đất nước, đưa Lê Duẩn lên Bí thư là một sách lược của ông. Bởi tiếng nói của Lê Duẩn với đảng viên và dân chúng miền Nam có giá trị hơn ai hết trong cái Bộ chính trị của đảng ở giai đoạn đó.
Lúc đầu, không riêng Vũ, mà chắc chắn còn có nhiều người vẫn không hiểu, vì sao Chủ Tịch Hồ Chí Minh từ chối (không) làm Trưởng ban cải cách ruộng đất. Một cuộc cách mạng long trời lở đất, công bình và tốt đẹp đến như vậy. Khi trực tiếp tham gia cải cách, và sau đó gặp phải sự chống đối, dưới mọi hình thức của đủ các tầng lớp trong xã hội, anh mới nhận ra. Cuộc cách mạng ấy chỉ đến khi đạt được mục đích, thì đảng mới dừng lại và nhận ra sai lầm. Điều tất nhiên, lỗi lầm phải có người gánh chịu. Mà sai lầm, hạ bệ đó chắc chắn thuộc về những Trưởng ban Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, Hồ Viết Thắng. Chứ trách nhiệm ấy, làm sao lại quàng vào cổ Chủ tịch Hồ Chí Minh được? Tuy nhiên, Cụ Chủ Tịch cũng nhờ Võ Đại Tướng xin lỗi tới con dân của mình, với những giọt nước mắt khó có ai biết, đó là nước mắt cảm thông, ân hận hay những gì trong đó. Vậy mà kỳ lạ, chỉ với động tác ấy, con dân đất Việt lại vẫn yêu Cụ như xưa. Nước mắt đa năng, nhiều dạng, người xưa nói, quả thật chẳng sai tẹo nào. Lưu bị khóc được Khổng Minh, chiếm và giữ được cả đất Kinh Châu. Để rung cây dọa khỉ, Tào Tháo giả mê đâm chết kẻ hầu rồi khóc. Cụ Hồ khóc không chỉ đảng hóa, nhà nước hóa được đất đai, mà còn làm cho dân chúng quên đi bao cái chết đắng cay, vô tội trong cải cách. Càng ngẫm nghĩ, Vũ càng thấy cụ tài, tài hơn cả Lưu Bị và Tào Tháo cộng lại.
Về đến nhà, chưa kịp cới áo khoác, Vũ thấy người của Ban thống nhất tất tưởi đạp xe đến, bảo, các đồng chí lãnh đạo Ban mời anh ra gấp. Vũ hơi chột dạ, bởi ban này, ngoài công việc chuyên môn, hoặc đón tiếp cán bộ, học sinh miền Nam, còn có nhiều tai mắt trong lãnh vực văn hóa tư tưởng như cơ quan an ninh vậy. Đến nơi, Vũ được biết: Có đoàn cán bộ cao cấp của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam ra Bắc, ngày mốt sẽ được bác Hồ đón tiếp tại phủ chủ tịch. Ban cần một nhà văn, nhà báo người Nam Bộ đi cùng đoàn để viết một bài cho ra tấm ra miếng.
Ủy Ban đã chọn nhà văn Xuân Vũ, đây là một vinh dự lớn, ý anh thế nào? Ông phó bí thư Đảng ủy hỏi Vũ như vậy.
Đây là một tin vui, bởi anh có cơ hội được tiếp xúc cán bộ mặt trận. Biết đâu họ sẽ xin đích danh, thời gian và con đường trở về Nam của anh sẽ được rút ngắn lại.
Quả thực, sau khi cùng đoàn thăm phủ chủ tịch và khu nhà sàn nơi ở của Hồ Chủ Tịch, Vũ đã viết một ký sự gây tiếng vang khá mạnh. Kỹ tính như Nguyễn Tuân phải khen về mặt nghệ thuật sử dụng con chữ. Khó tính như an ninh văn hóa tư tưởng cũng phải hài lòng về nội dung. Và đúng như dự đoán, bài ký này đã góp phần không nhỏ đến quyết định cho Vũ trở về Nam.
Bữa rượu chay hôm tiễn Vũ về Nam, ông bạn nhạc sỹ già véo tai bảo: Ở giữa Thủ đô đất chật người đông, mọc lên một nhà sàn gỗ với những vườn cây ao cá, rộng đến mấy ngàn mét vuông, bao nhiêu người phục vụ chăm sóc, thế mà mày nịnh đầm ca ngợi đơn sơ, giản dị. Mày có biết, đó là thú chơi thâm nho của kẻ làm chính trị hay không? Với tao, bài ký của mày chẳng có giá trị con mẹ gì cả. Vào tới đó rồi tìm cách bẻ bút đi nhé.
Vũ lặng người, nốc cạn ly rượu nóng rát họng:
-Nhưng đó là cách duy nhất để cho em về lại quê hương, về với Quốc Gia Dân Tộc.
Đức quốc ngày 14-6-2016
Đỗ Trường

Image may contain: 1 person, text

Đọc thêm

Xuân Vũ,

‘KẺ SỐNG SÓT’  Từ  ‘ĐƯỜNG ĐI KHÔNG ĐẾN’

Nguyễn Mạnh Trinh

:::Nguyễn Mạnh Trinh:::

Xuân Vũ (1930-2004) là một nhà văn mà các tác phẩm cả về lượng lẫn phẩm đều nổi trội. Ông viết nhiều thể loại, từ những hồi ký đến truyện dài, từ những truyện phong tục đồng quê của Nam Bộ thời xa xưa đến những truyện theo sát thời sự từ thuở kháng chiến chống Pháp đến lúc vượt Trường Sơn vào Nam. Ông là nhà văn đoạt giải văn học năm 1973 với truyện ký “Đường Đi Không Đến” mô tả những bước gập ghềnh của người cán binh Việt Cộng trên con đường thiên lý trải dài những máu xương chồng chất.

Cuộc đời của Nhà văn Xuân Vũ kể ra cũng khá đặc biệt. Ông tên thật là Bùi Quang Triết và sinh vào năm 1930, năm mà phong trào những người yêu nước của Việt Nam Quốc Dân Đảng nổi lên võ trang chống lại chính quyền thực dân Pháp. Nguyễn Thái Học và 13 liệt sĩ tử tiết đã làm gương sáng để thanh niên Việt Nam noi theo. Đến năm 1945 khi tiếng súng chống Pháp ở Nam Bộ bắt đầu nổ thì Xuân Vũ mới 15 tuổi đã tham gia phong trào kháng chiến và có lúc làm phóng viên của tờ báo “Tiếng Súng Kháng Địch” của sở Văn hóa Thông Tin Nam Bộ. Năm 1955, Xuân Vũ tập kết ra Bắc rồi lại trở về Nam năm 1963 để tham gia cuộc xâm lược miền Nam theo sách lược của Cộng sản quốc tế. Nhìn thấy chân tướng của cuộc chiến, ông ra chiêu hồi năm 1971 và viết truyện ký “Đường Đi Không Đến” cũng như hoạt động mạnh mẽ trong chức vụ phó giám đốc Nha Chiêu hồi của chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Xuân Vũ sinh trưởng tại quận Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, nơi mà Việt Cộng gọi là “quê hương đồng khởi” và là nơi nà đội quân tóc dài của Nguyễn Thị Định tạo ra những chiến công “tưởng tượng“ và chính Xuân Vũ đã được chỉ định về nơi này để viết về một phụ nữ ít học tầm thường trở thành một nhân vật đầy tính tuyên truyền như một huyền thoại không có trong thực tế. Một điều chắc chắn Xuân Vũ rất yêu quê hương của mình. Có lần ông đã làm một bài thơ, để nhớ về quê hương cũ đã xa ngàn trùng và chẳng thể nào trở về ghé thăm được :

“Có nghĩa gì hai tiếng : Mỏ Cày
như đời thở nhẹ, lá me bay
đâu biết tuổi thơ.. lai bất vãng
mà dạ bâng khuâng nhớ tiếc hoài.
Hỡi ơi tóc liễu muôn năm cũ
Sao còn quấn chặt mảnh hồn tôi
trường xưa gạch ngói rêu phong vũ
Giữa bụi trần gian vẫn chói ngời
Mỏ Cày yêu dấu của riêng tôi
Tuy gần mà lại hóa xa xôi
Xa xôi vẫn hẹn ngày tao ngộ
Anh, Mỏ cày, Em, …ở một nơi
Có ai trở lại thời xa vắng
Xin hốt giùm tôi nhúm cát nâu
Bên gốc điệp già mình trốn nắng
Má em anh đặt chiếc hôn đầu”

Thơ bình thường nhưng được cái chân thật, chứa chất một tấm lòng đối với quê hương. Bao giờ, cái tâm của người Nam Bộ cũng rõ rệt trong từng câu chuyện kể, trong từng câu thơ viết. Từ hồi ký đến tiểu thuyết, từ truyện dài đến truyện ngắn, cái phong cách bộc trực cũng như những ý nghĩ có khi chua chát có lúc châm biếm đã làm cho ông thành người viết truyện có duyên và lôi cuốn độc giả. Những nhân vật của ông, có nét đặc thù của người Nam Bộ và trong hoàn cảnh của một cuộc chiến tranh tương tàn đã sống thực trong tác phẩm và chuyên chở được những nỗi niềm của người cầm bút luôn ưu tư vì vận mệnh của đất nước. Ông đã xuất bản chừng hơn 50 cuốn sách mà trong đó phân loại ngọn ngành ra ở nhiều thể loại. Như bộ Đường Đi Không Đến gồm 3 quyển “Xương Trắng Trường Sơn”, ”Mạng Người Lá Rụng”, ”Đến Mà Không Đến”. Như bộ “2000 ngày đêm trấn thủ Củ Chi” gồm 5 cuốn. Như bộ “Văn nghệ sĩ miền Bắc như tôi biết “ gồm 3cuốn. Rồi “Kẻ Sống sót”, truyện dài. “Nửa thế kỷ Phạm Duy “, khảo luận. Những bộ truyện dài, truyện ngắn về đồng quê miền Nam lại có phong vị riêng, vẽ lại một thời kỳ đã qua như “Những Độ Gà Nòi”, “Vàng Mơ Bông Lúa”, “Thầy Tư Cóc”, “Gánh Bầu Rập”, “Tấm Lụa Đào”, “Dây bầu Năm Ngọn”…

Tác phẩm mà Xuân Vũ viết đầu tiên khi về hồi chánh là một hồi ký ”Đường Đi Không Đến“. Là người đã tập kết sau khi tham gia kháng chiến ở miền Nam, ông đã hiểu rõ hết những nét phi nhân của chế độ xã hội chủ nghĩa, đã thấy được những dối trá của một chủ nghĩa đấu tranh giai cấp, hô hào bỏ đi một xã hôi bóc lột nhưng lại thiết lập một chế độ khác bóc lột và đàn áp gấp bội. Đường Đi Không Đến và những cuốn tiếp theo như Mạng Người Lá Rụng, Xương Trắng Trường Sơn, Đến Mà Không Đến,.. đều có không gian của con đường Trường Sơn, con đường được xây đắp bằng thân xác hàng triệu sinh linh và cuồng vọng xâm lăng của những người lãnh đạo chế độ miền bắc. Ở đó, có những mẫu nhân vật bị đẩy vào một cuộc viễn hành không mong muốn, với cái khải hoàn môn lơ lửng đằng trước nhưng không bao giờ đến được. Ở đó, họ sống và vì khả năng sinh tồn nên nhiều khi những chuyện đạo đức, những lẽ phải trái thường tình được coi là chuyện xa vời không thực tế. Ở đó, họ chỉ cần miếng ăn và nghỉ ngơi trên con đường trường chinh gian khổ. Để đạt mục đích ấy, họ hành xử theo bản năng và thấp thoáng đâu đó, cái hình dạng thú vật tỏ hiện. Những chiêu bài nói để mà nói là những lớp sơn che phủ thực tại đầy bóng tối mà chế độ đã xử dụng để thúc đẩy cả một thế hệ xông tới như hình ảnh bó cỏ non che trước bờm ngựa bị che mắt hai bên để chỉ nhìn về trước mặt và gắng lao về trước theo một lối đi dành sẵn.

Trong Thay Lời Tựa của cuốn hồi ký này, Xuân Vũ đã kể lại chuyện thuở bé mình đi học, thấy con ngựa gầy kéo xe dù mang nặng trên vai hành khách trên xe nhưng vẫn rướn tới để đớp lấy bó cỏ non phất phơ trước mặt và không bao giờ ngoạm đến. Một hình ảnh liên tưởng đến những người vượt Trường Sơn. Đoạn kết của hồi ký này cũng mang hình ảnh con ngựa gầy bị gục chết khi cố gằng kéo chiếc xe năng và lên dốc. Nó nằm chết, miệng sùi bọt và bó cỏ non vẫn còn chỏng chơ bên cạnh. Hình ảnh ấy đã ám ảnh Xuân Vũ trên Đường Đi Không Đến :

“… Lạ thật những chuyện mới xảy ra hôm qua thì tôi cứ thấy nó mờ mịt xa xưa như hàng chục năm qua của những việc cách đây mấy mươi năm thì tôi lại cứ tưởng như mới xảy ra ngày hôm qua.

Tôi cũng không muốn phân biệt cái đã qua và cái hiện tại. Mà tôi cũng không dám nghĩ tới ngày mai. Ngày mai của tôi ư? Trên đường Trường Sơn này hay ở đâu mà con đường này dẫn đến, dù trái đất có xoay dù trời mưa hay trời nắng thì cái ngày mai đó cũng chỉ là sự lập lại của ngày nay và ngày hôm qua.

Tôi nghếch đầu lên mép võng, giương mắt cố nhìn ra ngoài. Trời mưa đen đặc thấy gì đâu!

Ôi chao, con đường với những chặng đường… Ở phía sau lưng tôi, cái mộ bia của anh binh sĩ bên cạnh hai bàn chân thòi ra mô đất và cái bộ xương trong hốc đá, lẫn lộn với chiếc xe chỏng gọng với hai bánh quay tít và bốn vó con ngựa chòi đạp trong không khí. Còn phía trước mặt tôi thì chỉ là… Và…”

Viết hồi ký kể lại những kinh nghiệm sống của mình, Xuân Vũ còn mang cái tâm sự ê chề của những người tập kết, bị chế độ nghi ngờ dùng đủ mọi cách để xử dụng như múi chanh bị vắt sạch nước và vứt bỏ đi một cách không thương tiếc …

Năm 1989 qua sự giới thiệu của anh Đỗ Đình Tuân nhà xuất bản Văn Khoa, anh Xuân Vũ muốn tôi viết vài dòng về tiểu thuyết “Kẻ Sống Sót“ của anh sắp xuất bản. Qua vài lần điện thoại, với giọng nói rặc Nam Bộ, tôi thấy được cái tâm của anh khi nói về chuyện ông đã gặp và sống với những nhà văn miền Bắc khi đi tập kết và ông hiểu rõ nỗi khổ tâm của họ. Cái lối nói chuyện lúc bông đùa nửa thật nửa giỡn nhưng sâu sắc và lôi cuốn khiến tôi viết vài hàng tâm cảm của mình trong bài giới thiệu:

“…Viết bằng ký ức. Đốt lửa nội tâm bằng chính chất liệu sống chắc phải khác lạ hơn cách viết bằng chất liệu vụn vặt thu lượm được, chắc chắn như thế trong trường hợp của cây bút Xuân Vũ. Tháng ngày trôi qua, để ký ức men ủ, để ngọn lửa của trái tim bỏng cháy trui luyện, để giấc mơ làm người chân thật cứ hoài hoài mộng mị hàng đêm. Những cây cỏ, đá sỏi Trường Sơn chắc cũng có hồn phách và tiếng nói ấy sẽ sống sót rất lâu trong lịch sử loài người. Khung cảnh hoang vu của rừng núi Tây nguyên trầm mặc có chiều sâu của một trận chiến khốc liệt. Trận đấu mất còn sống mái giữa người với người, với trời đất, với tật bệnh. Câu chuyện đầy những cái chết tức tười, của thân xác bị vùi dập dưới nấm mộ sơ sài, của kiếp người bị đẩy xô vào những cảnh ngộ bi thương không lối thoát. Hiện thực tự nó đã có những nét khốc liệt mà trí tường tượng không với đến, lại càng có sức sống và sự lôi kéo thuyết phục hơn. Ở trường hợp kẻ sống sót, điểm đặc sắc và là nét son rực rỡ nổi bật là sự thực được nhà văn nhớ lại và diễn tả bằng trí nhớ dài lâu. Hư cấu, đóng vai trò phụ, đôi khi là bước đi quẩn quanh trong tưởng tượng của loài người. Thực tế đã làm văn chương có sức sống và những dòng chữ đã vượt qua biên giới của mình để thành thông điệp gửi theo nhiều ý tưởng. Của kinh nghiệm riêng đời viết thành chât liệu của nhiều người…”

Tiểu thuyết “Kẻ Sống Sót” là câu chuyện của một người phi công Mỹ bị bắt và giam cầm trong một cái cũi và bị hành hạ đầy ải như một con vật. Truyện có nét hiện thực của một cuộc chiến khốc liệt và tàn bạo. Phần nổi bật và cũng là dụng ý của tác giả là làm rõ nét hơn những chân dung chiến tranh, rất người nhưng cũng nhiếu lúc rất “thú vật”. Khi ngôn ngữ tuyên truyền để lừa đảo làm thành những chiêu bài tốt đẹp, khi con người đã xử dụng những “kỹ thuật “ rất tinh vi để hành hạ nhau đã tạo những nét bi để có những nét hài, những lời nói chua chát, những nụ cười châm biếm, của những con người vượt Trường Sơn, sống gần với bản năng để sinh tồn.

Đọc văn Xuân Vũ, tôi có cảm giác như nghe kể chuyện từ một ông già Ba Tri của đất Nam Bộ với cái nghĩa gần nhất là “đâm những thằng gian bút chẳng tà”. Ông viết với tâm cảm dồn nén đau thương, từ dằn vặt quá khứ, của những suy nghĩ và hồi ức, thương người thương chính mình. Câu hỏi mà bất cứ người Việt Nam nào cũng có. Tại sao dân tộc chúng ta lại cứ bị trầm luân đắm chìm vào đau thương như vậy? Những cái chết thản nhiên hàng ngày, những thân xác phơi hoang đồng nội, những cái sống lây lất của những con người bị lừa gạt hoặc dồn đẩy vào con đường thiên lý mịt mù phục vụ cho mưu đồ cuồng ngạo của những lãnh tụ đỏ. Với suy nghĩ và tâm thức của “ông già Ba Tri”, ý tưởng như nồng nàn hơn và ngôn ngữ như bàng bạc cay đắng hơn. Của cả một thế hệ bị dẫn dắt lầm lạc vào con đường vào Nam cứu nước theo ý đồ của Công sản quốc tế.

Cuộc đời Xuân Vũ cũng trôi nổi theo cuộc chiến. Lúc thiếu thời, tham gia kháng chiến chống Pháp. Lớn hơn một chút, đi tập kết ra Bắc và cám cảnh cái thân phận của “con nuôi” chế độ. Trong thời gian ấy, ông gặp các nhà văn “con đẻ” của chế độ, có người theo thời có người phản kháng. Thời gian ấy đã giúp ông có đủ chất liệu để viết ”Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc Như Tôi Biết” Một bộ sách ba cuốn phác họa rất nhiều chân dung độc đáo của một người viết với những ký ức không phai. Nguyễn Tuân, Văn Cao, Hoàng Cầm, Xuân Diệu, Hoàng Lập Ngôn, Kim Lân, Nguyễn Bính, Ngân Giang, Nguyễn Xuân Khoát, của cuốn thứ nhất. Phan Khôi, Phùng Quán, Trần Dần, Chế Lan Viên, Quang Dũng, Hữu Loan, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Vũ Anh Khanh, Lê Đạt,.. của cuốn thứ hai. Và Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Tố Hữu, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyên Hồng, Lưu Hữu Phước, Phùng Cung,.. của cuốn thứ ba.

Bộ hồi ký của Xuân Vũ ghi lại một thực trạng của nền văn học được mệnh danh là “hiện thực xã hội chủ nghĩa” với những dẫn chứng sống động, những giai thoại có một không hai mà những ai không sống trong chế độ đỏ tưởng tượng nổi. Nó phác họa lại những bi kịch của những người trí thức bị coi là con ghẻ trong một chế độ mà văn nghệ sĩ trước tiên là nhiệm vụ phục vụ cho chế độ, cho mục đích tuyên truyền tối hậu của chính trị. Từ hoàn cảnh mỗi người, những bi kịch có khác nhưng đều giống nhau ở một điểm là tất cả đều là nạn nhân của chế độ, từ những văn nô theo thời viết theo chỉ thị của tuyên huấn đến những người chân trong chân ngoài của vòng kiềm tỏa. Tất cả bị xiết chặt trong guồng máy chuyên chính và giống như Nguyễn Văn Linh tổng bí thư đảng có lần đã nói văn nghệ sĩ bị trói từ nhiều năm nay cởi trói. Nhưng, cởi rồi lại trói, cũng chính từ Nguyễn Văn Linh bởi vì nhu cầu chính trị cần tạo một ấn tượng cho phong trào đổi mới.

Có những tiếng nói, có lúc như của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, có lúc trong những câu chuyện, những giai thoại, để nói lên cái tâm tư khao khát của người nghệ sĩ là tự do tư tưởng trong sáng tác. Nhưng, làm sao được khi cái vòng kim cô của chủ nghĩa Cộng sản siết chặt. Để Nguyễn Tuân phải than : ”Văn học của ta vừa nhạt lại vừa nhẽo..” Và biết bao nhiêu nhà phê bình nhận địng rằng suốt bao nhiêu năm, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa chỉ là những cái “phi văn học, không có tính văn học“ của Trần Văn Giàu…

Xuân Vũ qua những chân dung kể trên đã phác họa lại chân thực một nền văn học mà trong đó người cầm bút lúc nào cũng viết với cái án văn tự luôn đe dọa. Mà án văn tự như vụ Nhân văn Giai Phẩm không văn tự, không án lệnh, nhưng chỉ là những thủ đoạn ngấm ngầm mà độc hại gấp trăm lần những tù có án. Người chịu đựng không phải riêng một mình mà cả những người trong gia quyến, trong thân tộc thậm chí cả những người liên quan nữa. Một vụ án kéo dài suốt mấy chục năm, cho đến bây giờ vẫn còn ảnh hưởng. Như năm nay, tập thơ Trần Dần bị cấm, mặc dù ông đã được trao giải văn học khi đã qua đời. Hay những lệnh ngầm khiến những nhà văn bị ghi tên trong sổ đen bị gạt ra ngoài luồng và khó có cơ hội góp mặt vào một nền văn học chính thống.

Xuân Vũ đã viết: ”.. Viết văn đối với tôi, là một việc khó khăn, cao quý, gian khổ và đau khổ. Lắm khi còn đầy đe dọa. Nhưg nếu chết đi mà còn được tái sinh theo thuyết luân hồi của nhà Phật thì tôi xin được tiếp tục cầm bút để viết nốt những gì còn bỏ dở ở kiếp này. Ôi, cây bút gầy gò nhỏ bé! Nhưng nếu không có nó thì loài người chỉ là một lũ người câm..”

Một bộ hồi ký gồm 5 cuốn mà Xuân Vũ viết qua ký ức của Dương Đình Lôi ”2000 Ngày Đêm trấn Thủ Củ Chi” cũng là một chứng tích của một cuộc chiến mà những chiến công tưởng tượng và những anh hùng là người có tên có tuổi thực nhưng được thổi phồng với những việc làm mà óc tưởng tượng cũng phải khó khăn lắm để sáng tạo ra. Xuân Vũ viết để những huyền thoại như “Củ Chi Đất Thép Thành Đồng” hay “địa đạo Củ Chi dài cả gần 200 dặm sâu dưới lòng đất”. Ở đó, có những nhân vật “ông“ tướng Ba Đình, “ông” thiếu tá sọc dưa Năm Thuận, hay ông chính ủy quân khu Võ Văn Kiệt tức đồng chí Sáu Dân với hành động dâm ô sàm sỡ đã cưỡng hiếp cô liên lạc viên xinh đẹp nội thành tên Lệ. Trong một cuộc sống mà mọi người phải đóng kịch với nhau, phải nói những điều mà mình không tin hoặc không muốn và làm những việc mà mình thấy không phải, con người trong xã hội ấy đã trở thành những biểu tượng đầy chất hỉ nộ ái ố để thành một vở tuồng vừa bi vừa hài, của những cảnh chó nhảy bàn độc, của những tư tưởng ngu dốt lại dẫn đạo và chỉ lối những người có hiểu biết hơn. Xuân Vũ, qua lời Dương Đình Lôi, đã xé toang tấm màn bí mật, để sự thực trần truồng hiện ra dưới ánh mặt trời. Cái mặt trái gớm ghiếc của cuộc chiến và những sâu bọ đắc thời tha hồ tung hoành trong thời buổi hỗn quân hỗn quan. Ông viết với sự hiểu biết rành rọt về một vùng mình đã ở, đã sống nên chất chân thực đã tao cảm giác cho sự lôi cuốn độc giả. Những chi tiết đã mở ra cả một thời thế mà cuộc chiến tạo ra những mảnh đời đặc biệt, những cuộc sống đặc biệt.

Trong lá thư gửi cho người tình đã xa, Dương Đình Lôi thổ lộ tâm can:

“…Chúng ta hãy cùng nhau cúi hôn mảnh đất Củ Chi đau khổ của chúng ta hiện nay đang nhục nhã vì bị bon CS đem ra làm trò bịp thế gian.

Cộng Sản nghĩa là đại bịp. Chúng bịp nhân dân, bịp thế giới và bịp chính mình. Anh tự muốn ngưng bút ở đây nhưng thấy còn nhiều sự thực bị bưng bít nên viết tiếp. Hai ngàn trang sách mà anh viết ra đây sẽ vạch trần bộ mặt láo toét kinh hoàng của bọn CS Hà Nội mà cả anh lẫn em đều là nạn nhân. Anh muốn nhắc chúng nó rằng thời kỳ Mỹ đóng chốt ở Đồng Dù, Củ Chi chỉ là một bãi tha ma không một bóng người thấp thoáng, không một gốc cây còn đứng nguyên, không một tiếng có sủa gà gáy. Tất cả các cấp ủy đều chết, bị bắt, hồi chánh hoặc ngưng hoạt động. Ông Út Một Sơn bí thư đầu tiên Củ Chi bị pháo Đồng Dù bắn lấp hầm chết ở bàu Lách Nhuận Đức năm 1966. Chắc em còn nhớ chớ ? Nếu địa đạo Củ Chi nối liền thôn xã (theo ông tác giả ngốc này mô tả thì nó chỉ kém đường xe điện ngầm ở Mạc Tư Khoa chút thôi) thì sao quận Củ Chi bị cắt ra làm hai Nam Chi Bắc Chi? Là vì cán bộ không đi qua lại giữa hai phần đất này. Người ở đâu nằm chết ở đó. Mỗi sáng lóng ngóng chờ “chụp dù“, “nhảy Đò”, “xe tăng càn” để lủi. Nhưng cũng không có đất mà lủi. Chỉ còn một cách độc nhất là làm hầm. Mỗi ông bà có một cái hầm bí mật (nên nhớ hầm bí mật chỉ là cái hang ếch chứ không phải địa đạo và không có hầm bí mật nào ăn thông ra địa đạo cả). Sự sợ hãi chết chóc làm tê liệt mọi ý chí. Cán bộ chỉ mong bị bắt sống cho khỏe thân. Cho nên họ ngồi trên miệng hầm ngụy trang với một vài cành lá sơ sài như những người câu tôm câu cá ở bờ sông vậy. Do đó có danh từ “ngồi thum”. Nhưng ngồi thum trong căn cứ cũng không an toàn vì bị máy bay trực thăng cá rô hay quart hoặc bị ăn pháo bầy dọn bãi trước khi Mỹ đổ chụp. Nên các bà Năm Dang, Hai Xót, khu ủy, quận ủy mới ra tá túc ở ấp chiến lược để “chạy lan” như chuột mất hang. Chạy lan có ngày cũng chết như trường hợp của cô Tư Bé quận đội phó bị lính Mỹ bắn chết ở Đồng Dù hay ông Tám Châu bí thư quận ủy bị pháo bắn mất đầu ở Bố Heo..”

Đọc “2000 ngày đêm trấn thủ Củ Chi”, độc giả như thấy hiện ra một cuộc sống mà sự khốc liệt của chiến tranh đã tàn phá cả người, cảnh và trong môi trường ấy, con người đã ở trong những ngõ đường cùng không lối thoát. Huyền thoại Củ Chi Thành Đồng đã tan tành khi đọc những trang sách mà nét chân thực cũng như tâm tình của người cán binh Cộng Sản được phô bày rõ nét. Sự hấp dẫn đã có từng trang, từng dòng. Chiến tranh đã phác họa trong cái dụng ý tố cáo sự lừa dối tuyên truyền của chế độ đỏ…

Xuân Vũ, dưới bút hiệu Lê Mỹ Hương đã viết những truyện ngắn, truyện dài kể lại đời sống, phong tục của người miền Nam thuở xa xưa khi mà Pháp còn cai trị dân ta. Ông vẽ ra những bức tranh ở nơi thôn dã, với nét sinh động của những người dân Nam Bộ. Những tiểu thuyết như Những Độ Gà Nòi, Thầy Tư Cóc, Trăng Kia Chưa Xế, Vàng Mơ Bông lúa,… vẽ ra một thời kỳ đã qua trong lịch sử và không bao giờ trở lại nữa. Ông đích danh là một nhà văn “miệt vườn” như những người cầm bút cùng chung đề tài mà tiêu biểu là Hồ Trường An, Xuân Tước, Ngô Nguyên Dũng, Nguyễn Tấn Hưng… Có lần nhà văn Xuân vũ đã tâm sự rằng những truyện đồng quê như vậy bắt nguồn từ những câu chuyện kể của mẹ ông, về những cuộc đất ở Bến Tre như Mỏ Cày, Giồng Trôm,.. Nhiều nhân vật của ông có thực ngoài đời và những câu chuyện mà ông viết đã xảy ra và được kể lại từ nhiều người. Có những nét dục tính của những người quê kiểng cũng như cũng có những phong tục đầy vẻ mê tín dị đoan. Cũng như phản ảnh lại một thời kỳ mà điền chủ sống như ông vua trong vùng và tá điền chỉ là những thần dân bị bóc lột, bị đé nén.

Tác giả Lê Tùng Minh đã có lần hỏi nhà văn Xuân Vũ: ”Quyển tiểu thuyết “Xóm Cái Bần” của ông có phải là viết về xóm Cái Bần mà ông đang kể đó không?”

Ông đã trả lời ”Đúng, cái xóm đó! Ông có biết không, quê ngoại đối với tôi là một bài thơ dài, một thiên hồi ký vô tận, không tài nào viết ra nổi! Tôi chết tôi vẫn còn mang theo những hình tượng đẹp đẽ về một miền quê nơi tôi cất lên tiếng khóc chào đời trong một ngôi nhà xưa u tịch. Đối với tôi không một mảnh đất nào đẹp bằng Quê Ngoại.. Đó là một mảnh trời riêng của tôi, mà không thể tìm đâu ra mảnh trời riêng ấy trên cõi đời này!!

Xuân Vũ từ trần ngày 1 tháng 1 năm 2004. Với một gia tài văn chương đồ sộ gần 50 tác phẩm, chắc chắn những người ghi chép văn học sử không thể quên ông. Bây giờ, ông đã đến nơi chốn vĩnh hằng chứ không phải cứ xoay vòng mãi từ Đường Đi Không Đến và Đến Mà Không Đến. Có thể ông đã trở về Quê Ngoại của ông, nơi mà ông gửi cả tấm lòng khi còn thuở sinh tiền cầm bút…

Nguyễn Mạnh Trinh

07-05-2008

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s