Sơn Trà ký sự-Hoàng Hải Vân/Phạm Thu Hương

logo viết2

Sơn Trà ký sự –

 Chuyện về ông ‘thần rừng’

            MTG – 


Hệ sinh thái tại Sơn Trà đang bị xâm hại khiến cộng đồng xã hội hết sức bức xúc. Ảnh loài Voọc chà vá chân nâu quý hiếm tại Sơn Trà – Ảnh: Lê Tuấn

   “Nếu có sự kết hợp hài hòa nhất giữa tự nhiên và xã hội thì sự kết hợp đó chính là Hoàng Đình Bá” (giáo sư Trần Quốc Vượng). Và khi nhắc đến Sơn Trà, không thể không nhắc đến ông thần rừng này.

Lần đầu tiên tôi đặt chân đến Sơn Trà là vào năm 1978, lúc tôi đang là bộ đội, khi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra và cả nước đang chuẩn bị chống quân Trung Quốc xâm lược ở biên giới phía Bắc. Toàn đại đội của tôi được lệnh vào Sơn Trà bằng tàu quân sự qua đường biển, nói là để “truy quét tàn quân địch” nhưng thực chất có lẽ là tham gia làm tiền trạm cho cấp trên kiểm soát một vị trí chiến lược nhằm chuẩn bị bố trí phòng thủ nếu chiến tranh diễn ra trên toàn quốc.

 Voọc ở Sơn Trà, loài linh trưởng cần đươc bảo vệ

Chúng tôi ở đây suốt 1 tuần lễ, ngày hành quân trong rừng, tối ngủ trong rừng. Chẳng thấy “địch” ở đâu, chỉ thấy thiên nhiên vô cùng hùng vĩ. Lúc đó Sơn Trà vẫn là rừng nguyên sinh, những nơi chúng tôi đến chưa từng có dấu vết của con người. Vị trí đóng quân ban đêm tôi cũng không biết là ở đâu, chỉ biết là có hôm thiếu thuốc lá, anh em thèm thuốc cử người lén xuống Thọ Quang mua thuốc, đi từ chạng vạng ngày hôm trước mãi đến sáng hôm sau mới về lại tới nơi. Sơn Trà là thực thể thiên nhiên viên mãn, vẻ đẹp của nó chỉ có thể chiêm ngưỡng từ xa, đi trong đó như chúng tôi, dù bất khả kháng, nhưng cũng đã là sự thô lỗ bất kính rồi, huống hồ là “băm nát” nó. Vì lẽ đó mà trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ về rừng cấm quốc gia, cả việc “gây tiếng ồn” cũng bị cấm.

Lần thứ hai tôi đến Sơn Trà và ngủ đêm trong rừng rậm cùng với ông “thần rừng” Hoàng Đình Bá vào 28 năm trước, khi tôi viết một bút ký dài “Rừng vẫn chưa xanh lá” về cuộc đời ông cùng số phận điêu linh của những cánh rừng, đăng trên tạp chí Đất Quảng vào năm 1989. Đó là nhà khoa học nguyên Trưởng ty Lâm nghiệp Quảng Nam Đà Nẵng, người mà Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công sinh thời gọi là con chim đầu đàn về lâm sinh không chỉ của Việt Nam mà của cả Đông Nam Á, đã bị cách chức và khai trừ ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam 12 năm trước đó, sau khi ngành lâm nghiệp tỉnh này, dưới sự điều khiển của ông, đã căn bản phủ xanh toàn bộ đất trống đồi núi trọc chỉ hơn 2 năm sau giải phóng. Ông bị kết tội là “tù binh của giai cấp tư sản”, do ông đã tận dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế để khôi phục và bảo vệ rừng, gắn việc khôi phục và bảo vệ rừng với lợi ích chính đáng của người dân.

Ông “thần rừng” Hoàng Đình Bá

Cái tội tày đình của ông Bá chính là cái công lừng lẫy của ông đối với quê hương tôi. Chính vì vậy mà ông Võ Chí Công từng nhắc đi nhắc lại với lãnh đạo Quảng Nam Đà Nẵng phải khôi phục lại toàn bộ vị trí công tác cho ông Bá, nhưng lãnh đạo nhiệm kỳ sau lại tế nhị không tiện lật lại sai lầm của lãnh đạo nhiệm kỳ trước, trong khi “đương sự” thì không hề kêu oan. Tôi đã gặp trực tiếp ông Đỗ Quang Thắng khi ông còn làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng để hỏi về chuyện này, ông Thắng chỉ bảo “Không thấy khiếu nại”.

Tôi cũng nhiều lần gặp nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng Hồ Nghinh, người tôi vô cùng ngưỡng mộ, dù ông chính là người ký quyết định đuổi ông Bá ra khỏi Đảng, một quyết định ông không thể không ký dưới sức ép của bộ máy quan liêu. Khi nhắc đến ông Bá, khuôn mặt thanh thản ung dung của ông Hồ Nghinh bỗng chùng lại, đôi mắt thoáng buồn, và ông chỉ hỏi “Anh Bá bây giờ có khỏe không?”.

Dự án du lịch nghỉ dưỡng đào xới Sơn Trà

Ông Hồ Nghinh thuộc hàng lãnh đạo đi tiên phong trong công cuộc đổi mới, khi làm Phó ban Kinh tế Trung ương, ông là một trong những tác giả giúp Tổng bí thư Trường Chinh hoạch định đường lối đổi mới cho Đại hội VI. Sau này tôi mới biết, khi tham gia hoạch định đường lối đổi mới của Đảng, ông Hồ Nghinh đã rất nhiều lần tham vấn ý kiến cái ông “tù binh của giai cấp tư sản” này. Và hai ông tự nhiên trở thành tri âm tri kỷ. Cả ông Hoàng Đình Bá và ông Hồ Nghinh đều là bậc hiền sĩ, không thể dùng sự thị phi thông thường để xét đoán mối quan hệ của họ.

Còn tôi, vì bài báo đó mà sau khi tôi rời Đà Nẵng ra Hà Nội vào năm 1991, chi bộ đã gọi về thi hành kỷ luật “cảnh cáo”. Thủ tưởng cơ quan tôi rất áy náy, ông phải truyền đạt lại ý kiến của lãnh đạo tỉnh rằng “Nội dung bài viết thì đúng rồi, nhưng đồng chí là đảng viên mà lật lại một quyết định của Tỉnh ủy là đồng chí mắc sai phạm”.

Chuyện tôi bị kỷ luật chẳng có gì đáng nói. Tôi nhắc qua sự kiện trên cũng không phải để tiếp tục kêu oan gì cho ông Bá. Ông đã không kêu oan, không khiếu nại ngay từ đầu. Đối với ông, việc bị cách chức, bị khai trừ khỏi Đảng chẳng phải là tai nạn gì nghiêm trọng, nó giống như khi đi đường vướng một hòn đá bị vấp ngã, lập tức đứng dậy phủi bụi đi tiếp, quên ngay cái vấp ngã đó. Ông sống hồn nhiên như cây cỏ và dành tâm trí cả đời cho cây cỏ.

Nói về Sơn Trà, không thể không nói đến Hoàng Đình Bá. Khi Phó thủ tướng Nguyễn Duy Trinh thay mặt Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 41-TTg ngày 24.1.1977 đưa Sơn Trà vào danh mục 10 khu rừng cấm quốc gia cùng các biện pháp bảo vệ chúng, Hoàng Đình Bá lúc đó đang làm Trưởng ty Lâm nghiệp Quảng Nam Đà Nẵng. Ông là người bảo vệ Sơn Trà tích cực nhất, như thể cây cỏ, thú hoang, khe suối nơi này là vườn nhà của ông. Khi đương chức, ông không những thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp bảo vệ rừng cấm mà còn cho phủ xanh toàn bộ bãi cát ven Sơn Trà, dọc đến Non Nước, thành rừng dương liễu phòng hộ. Dải rừng phòng hộ đó ngày nay đã bị phá sạch không còn dấu vết.

Sau khi bị kỷ luật, trong một thời gian dài, hàng ngày ông có mặt tại Sơn Trà từ 4 giờ sáng, trước hết để… đếm người đốn củi, sau đó là khảo nghiệm cây cối và các dòng chảy. Chính ông đã tìm được 16 con suối trong rừng cấm và phát hiện 27 con đường mà người ta lên để chặt phá rừng. Ông cảnh báo với lãnh đạo, rằng với tốc độ phá rừng như vậy không bao lâu nữa Sơn Trà sẽ trở thành hoang trọc, những con suối sẽ cạn dòng, rằng Sơn Trà bị phá sẽ khiến cho nhiệt độ thành phố Đà Nẵng tăng lên. Tôi có dự một cuộc hội thảo, tại đó Hoàng Đình Bá đã trình bày phác thảo một dự án – dự án Vườn quốc gia Sơn Trà – Hải Vân, mở rộng rừng cấm nối với các khu rừng nguyên sinh thành một vòng cung quanh Đà Nẵng giáp với núi Hải Vân. Giáo sư Trần Quốc Vượng có mặt lúc đó đã thốt lên: “Nếu có sự kết hợp hài hòa nhất giữa tự nhiên và xã hội thì sự kết hợp đó chính là Hoàng Đình Bá”.

Giờ nhìn lại càng thấy thương ông Bá. Những người già quê tôi gọi ông là ông thần rừng. Ông đúng là một ông thần rừng thứ thiệt. Nhưng té ra, điều mà ông thần rừng này lo lắng chẳng thấm vào đâu so với sự tàn phá khủng khiếp mà thủ phạm chính không phải là dân mà là những người lãnh đạo có chức có quyền. Tính đến năm 1986, toàn bộ diện tích rừng bị dân phá để lấy củi và gỗ chỉ mất khoảng 20ha, cộng với 2,5ha người Mỹ trước đây phá để làm căn cứ quân sự (thực chất là làm sân bay trực thăng để đưa xác chết của binh sĩ tử trận về nước), tổng cộng chỉ mất 22,5ha. Trong khi hiện nay, 1.840ha rừng cấm, chiếm 41% tổng diện tích khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, đã bị xóa sổ và được hợp thức hóa bằng các thủ thuật hành chính.

 

Sơn Trà ký sự –

 Y cẩm dạ hành

“Hồn Tổ Quốc nằm trong rừng xanh thẳm/Rừng điêu tàn là Tổ Quốc điêu linh”. Đó là câu thơ mà Hoàng Đình Bá có lần đọc tôi nghe, tôi không nhớ là thơ của ai. Đối với ông Bá, rừng là Tổ Quốc. Sơn Trà là Tổ Quốc.

Voọc chà vá chân nâu ở bán đảo Sơn Trà. Ảnh: Nguyễn Trường Sinh

Trận lụt núi lở đá trôi năm Thìn 1964 gây tang thương cho Quảng Nam, khiến 6000 người chết. “Núi lở đá trôi” không phải là hình tượng ví von mà là sự thật, núi đã lở từng mảng, đá đã trôi từng tảng lớn. Sau trận lụt lịch sử này, ông Võ Chí Công (Năm Công) khi ra Hà Nội đã báo cáo với Trung Ương và nhân dân miền Bắc. Sự kiện đó đã tác động sâu sắc đến giới khoa học.

Năm 1965, một cuộc họp ở Tổng cục Lâm nghiệp, có giáo sư Tạ Quang Bửu và Hoàng Đình Bá dự. Người ta đề nghị ông Bá nhận xét, bây giờ gọi là “phản biện”, về Khu Lâm nghiệp Quỳ Châu (Nghệ An), là chương trình lâm nghiệp quy mô lớn đầu tiên ở nước ta, do 41 chuyên gia Trung Quốc đến giúp. Trong 41 chuyên gia đó, có tới 2/3 là bạn học của ông Bá hoặc là những người ông quen biết. Họ đều là những người có trình độ chuyên môn rất cao, lại được đào tạo chuyên sâu bởi các giáo sư hàng đầu thế giới từ Mỹ, Anh, Canada, Pháp, Nhật Bản… do Trung Quốc mời đến sau năm 1949.

Ông Bá bảo, các chuyên gia này làm đúng, đã áp dụng những tri thức tiến bộ của thế giới, nhưng không thích hợp với điều kiện Việt Nam, vì không đề cập đến vấn đề đối phó với thiên tai lũ lụt. Và ông đã đề xuất một hướng tiếp cận khác, phù hợp hơn với đặc điểm khí hậu và sinh thái của nước ta. Các nhà khoa học tán thành đề nghị này.

Giáo sư Tạ Quang Bửu cũng tán thành, nhưng vị giáo sư vừa uyên bác vừa nhìn xa trông rộng này cho rằng, trong hoàn cảnh của miền Bắc lúc ấy không thể triển khai, vì không có kinh phí, không đủ cán bộ chuyên môn và rất khó được phê duyệt. Giáo sư Bửu đề nghị ngắn gọn : “Y cẩm dạ hành” (áo gấm đi đêm). Làm, nhưng không cần để người khác biết. Đây cũng là phương châm để lách, để vượt lên mọi sự cản trở của hệ thống quan liêu. Đối phó với biến đổi khí hậu giờ đang là khẩu hiệu thời thượng, nhưng các nhà khoa học và các nhà lãnh đạo nhìn xa trông rộng của nước ta đã đặt ra từ lúc đó.

Một năm sau, năm 1966, Phân viện Nghiên cứu rừng nhiệt đới Việt Nam được thành lập, ông Bá được giao làm Viện Phó chủ trì khoa học (Viện trưởng là một nhà chính trị), đồng thời làm Chủ nhiệm công trình điều tra quy hoạch Vườn Quốc gia Cúc Phương. Năm 1970, ông vào chiến trường khu 5.

Các nhà viết lịch sử chiến tranh nên lưu ý, các bậc “tiền hiền” của cách mạng, chí ít là ở Khu 5 mà tôi biết, không phải là những người chỉ biết lãnh đạo kháng chiến. Họ đã “y cẩm dạ hành” rất nhiều việc nhằm chuẩn bị cho sự hồi sinh của đất nước. Một trong những người đó là ông Năm Công. Ông Bá được ông Năm Công giao một nhiệm vụ không liên quan gì đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Chủ trì điều tra toàn bộ rừng và tài nguyên thiên nhiên khu Trung Trung bộ, quy hoạch vùng và chuẩn bị phát triển kinh tế hậu chiến.

Vào năm 1971, giữa lúc chiến tranh diễn ra ác liệt nhất, ông Bá đã cùng 65 kỹ sư và cán bộ chuyên môn tiến hành một cuộc khảo sát gian nan chưa từng có. Một lượng tài liệu khổng lồ thu thập được bằng không ít máu tươi, đã được xử lý giữa bom đạn. Ông đã cho tôi xem tấm bản đồ về rừng, về các vùng sinh thái, kèm theo các biểu đồ diễn biến được lập ra lúc đó. Ông nói, tính từ năm 1900, trong vòng hơn 70 năm, rừng tốt giảm xuống 14 lần, nghĩa là toàn Trung Trung bộ mất đi trên 65.000 cây số vuông.

Cũng trong thời gian này, có thêm gần 38.000 cây số vuông đất rừng biến thành đồi trọc, thành hoang mạc sinh học. Lượng nước thấm xuống đất thời điểm này giảm đi 17 tỷ mét khối so với năm đầu thế kỷ, nghĩa là do rừng bị phá mà mỗi năm lượng nước mưa chảy tuột ra biển tăng bình quân trên 10 tỷ khối. Đó là cội nguồn của nạn hồng thủy trong tương lai. Trận lụt năm Thìn chỉ là lời cảnh báo đầu tiên.

Hồi ấy nạn phá rừng không nghiêm trọng như bây giờ, nhưng nguyên nhân vẫn là do sự thiển cận và độc ác của con người : sự tấn công của nông nghiệp vào rừng rậm, chặt phá lấy gỗ, phá rẫy du canh và dĩ nhiên là chiến tranh. Địch phá bằng bom đạn và chất độc hóa học đã đành rồi, nhưng còn ta nữa, ta cũng phá rừng không ít.

Cho đến năm 1973, khi việc tiếp tế lương thực không còn quá khó khăn, vẫn có cả binh đoàn chặt hàng ngàn ha rừng để trồng sắn, tỉa bắp với sản lượng không đủ nuôi chính người sản xuất. Ông Bá đã thẳng thắn đề nghị chấm dứt tình trạng này, nhưng không hề dễ. Hồi ấy ở chiến khu chia thành 2 “phái”, một “phái” bảo vệ rừng, còn “phái” kia thì ủng hộ phá rừng để sản xuất.

Tờ báo tường tại cơ quan Khu ủy có đăng một bức tranh biếm họa, vẽ một cái cây, một người cầm rìu chặt cái cây đó và một người thì ôm cái cây la lên: “Huớ làng anh Năm ơi !”. Người ôm cây chính là Hoàng Đình Bá. “Anh Năm”, là ông Năm Công. Thật may mắn, Bí thư Khu ủy ủng hộ việc bảo vệ rừng. Kết quả là vào năm 1973, Ủy ban nhân dân cách mạng Khu Trung Trung bộ đã ra một Chỉ thị bảo vệ rừng trong toàn Khu, nghiêm cấm việc phá rừng để sản xuất.

Sau ngày giải phóng, bên cạnh chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc cùng với việc bảo vệ và phục hồi rừng nói chung, lãnh đạo Khu và tỉnh đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ bán đảo Sơn Trà. Ngày 25.6.1976, Ủy ban Nhân dân cách mạng tỉnh QN-ĐN đã ra Quyết định số 293 QĐ-UB về việc bảo vệ, khôi phục lại rừng ở bán đảo Sơn Trà. Tham mưu cho việc đó là ông Bá. Ông đã nghiên cứu tất cả những tài liệu liên quan đến Sơn Trà và tự mình khảo sát thực địa.

Ông bảo, ngoài động vật quý hiếm, Sơn Trà có gần đủ các loài thực vật của Việt Nam (trong đó nhiều loại thực vật có ở Sơn Trà nhưng không có ở những nơi khác), mà Việt Nam thì chỉ cần thêm 500 loài nữa là có đủ tất cả các loài thực vật trên trái đất. Sơn Trà cũng hội đủ các điều kiện dung trú mọi loài thực vật trên hành tinh. Bởi vây, từ Sơn Trà có thể nghiên cứu phục hồi lại rừng trong cả nước.

Môi trường sống của loài chà vá chân nâu đang bị thu hẹp và chia cắt đáng kể do các khu kinh doanh như nhà hàng, khách sạn ở phía Nam của bán đảo Sơn Trà. Ảnh Nguyễn Trường Sinh

 

Sau vụ kỷ luật như đã nói, 30 vạn ha đất trọc được phủ xanh đã mất sạch trong một thời gian ngắn, trong khi hàng năm vẫn báo cáo diện tích rừng mới được trồng. Thành phố Đà Nẵng nay khang trang đẹp đẽ hơn xưa rất nhiều, nhưng không hề có một chút thuyết phục nào đối với những người như ông Bá.

Ông bảo trước năm 2000, thành phố (nội đô) cây xanh vốn đã ít, chỉ ở mức 0,90 m2/người, sau khi “chỉnh trang đô thị” đã chặt mất 8000 cây xanh đường phố, trong đó có 2000 cây cổ thụ, khiến cho mật độ cây xanh giảm xuống hơn 1 nửa, thấp rất xa so với chỉ số tương ứng của các đô thị khác. Đó là sự thảm hại.

Gần 30 năm nay, ông Bá lại “y cẩm dạ hành” với bán đảo Sơn Trà.  Cái dự án vườn quốc gia Sơn Trà-Hải Vân ngày xưa ông đã ngây thơ tin là nó khả thi, nhưng chưa bao giờ thành hiện thực. Bị người ta đánh cho lên bờ xuống ruộng, ông vẫn tin vào thiện chí của con người. Gần đây ông lại say sưa nói tôi nghe về một dự án mới, hoành tráng hơn, đó là dự án phục hồi, tôn tạo khu sinh quyển 1 triệu ha, nối liền các rừng cấm và rừng phòng hộ, bao hàm 37 đỉnh núi trên dãy Trường Sơn có độ cao 1000 mét trở lên, khu sinh quyển này sẽ bảo gồm 1 vườn vạn vật 200 ngàn ha.  Điểm nhấn, điểm khởi đầu vẫn là Sơn Trà. Ông bảo, khu sinh quyển sẽ là một bách khoa toàn thư về gen thực vật và “một số động vật” của thế giới.

Ông quả quyết : “Nếu khu sinh quyển phục hồi được 4% số cây có bộ rễ sâu (30 mét) thì sẽ phục hồi lại toàn bộ hệ thống nước ngầm bằng mức trước năm 1936”. Vấn đề lũ lụt và vấn đề “nóng chết người” sẽ được giải quyết triệt để với dự án này. Từ những khảo nghiệm tại Sơn Trà, ông nói chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra những khu vực dù khí hậu diễn biến như thế nào chăng nữa thì nhiệt độ ở đó cũng không vượt quá 35 độ C.

Đừng vội cho ông Bá là ảo tưởng, dù những dự án đó không bao giờ trở thành hiện thực. Tôi tin những điều ông nói. Ông Võ Chí Công cũng tin. Tại khu đất nhỏ mà ông Bá chọn trong diện tích 22,5 ha rừng bị phá trước đây ở Sơn Trà, ông đã trồng rất nhiều loại cây.

Ông Võ Chí Công cũng góp vào đó 2 cây dược liệu quý. Nhiều nhà khoa học là Việt kiều cũng gửi hạt giống về. Ông nói ông Trần Văn Não, trước đây là Giám đốc Nha Thủy lâm Nam phần của chính quyền Ngô Đình Diệm, sau đó làm ở Liên hiệp Quốc, cũng gửi về 30 hạt giống loài cây có bộ rễ sâu 30 mét, nhưng những hạt giống đó bị bên lâm nghiệp làm thất lạc, sở dĩ ông biết là qua một người quen. Nhiều người thương ông cũng đã góp cây hoặc góp tiền mua cây, như là làm từ thiện. Cái vườn cây khảo nghiệm đó nay đã bị phá sạch rồi. Nhưng tôi vẫn cứ tin, rằng sẽ có nhiều người tiếp bước “y cẩm dạ hành” như ông.

(Còn tiếp)

Hoàng Hải Vân 

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s