Bulletin des amis du vieux Hué/Những người bạn cố đô Huế với LM LÉOPOLD CADIÈRE-Trần Đức Anh Sơn

logo sách

B.A.V.H. VÀ LINH MỤC LÉOPOLD CADIÈRE

Trần Đức Anh Sơn

Trần Đức Anh Sơn

LM Leopold

1. Về Huệ lần này tốn một mớ tiền mua sách, nhưng khoái nhất là đã mua được 4 cuốn cuối cùng của bộ “Những người bạn cố đô Huế”, là bản dịch tiếng Việt của “Bulletin des Amis du vieux Hué” (B.A.V.H.) do Association des Amis du vieux Hué (Hội đô thành hiếu cổ), xuất bản ở Hà Nội trong 30 năm 1914 – 1944.
Trong 20 năm qua (1997 – 2017), Nxb Thuận Hóa (Huế) đã miệt mài tổ chức biên dịch và xuất bản B.A.V.H bằng tiếng Việt. Đây là một trong những đóng góp rất lớn của Nxb này đối với việc tìm hiểu lịch sử văn hóa Huế, dựa trên những tài liệu và khảo cứu của các học giả Pháp – Việt thời Pháp thuộc.
Những ai muốn biết nhiều hơn, rõ hơn, khách quan hơn về: lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, mỹ thuật, ngôn ngữ, phong tục, tôn giáo, tín ngưỡng… của xứ Huế và về triều đại nhà Nguyễn, thì cần phải có bộ sách này trong nhà để ngâm cứu.
2. Linh hồn của B.A.V.H. là linh mục Léopold Cadière (1869 – 1955), một học giả, “nhà Huế học” đích thực. Cha Cadière là người đã sáng lập ra Hội đô thành hiếu cổ, cho xuất bản B.A.V.H. và cũng là cây bút chủ lực của B.A.V.H trong suốt 30 năm tồn tại của tập san này (1914 – 1944).
Không có cha Cadière, chắc chắn sẽ không có B.A.V.H. và hiểu biết của chúng ta về Huế và triều Nguyễn sẽ thiếu vắng vô cùng. Cha Cadière cũng được giới Việt Nam học trong và ngoài nước ghi nhận là một trong những người khai sinh ra ngành Việt Nam học ở Việt Nam.

những người bạn cố đô Huế

Léopold Cadière từng viết:
“Tôi hiểu người Việt bởi lẽ tôi đã nghiên cứu những gì liên quan đến họ. Tôi học tiếng họ từ ngày tôi mới đến, tôi vẫn còn tiếp tục học và nhận thấy rằng tiếng Việt rất tinh tế về mặt cấu trúc, và cũng không nên xem nhẹ sự phong phú về từ ngữ như có người suy nghĩ.

những người bạn cố đô Huế1

Tôi đã nghiên cứu tín ngưỡng, các thực hành lễ nghi tôn giáo, phong tục tập quán của họ và phải thừa nhận rằng người Việt rất sâu sắc về tôn giáo, tín ngưỡng của họ trong sáng và khi họ cầu cứu đến Trời, tế tự Trời thì cũng có thể họ cũng đến với cùng một Đấng toàn năng mà chính tôi đang thờ kính và gọi bằng Chúa, và tự đáy lòng họ đang lưu giữ một tia sáng tôn giáo tự nhiên mà tạo hóa vốn ấn dấu vào tâm khảm của nhân sinh.
Tôi đã nghiên cứu lịch sử của họ, xuyên qua các thế kỷ, đặc biệt là từ triều Nguyễn, và nhận thấy rằng đất nước Việt Nam, từ nguyên thủy, đã không ngừng nung nấu một ý hướng cao về phát triển và tiến bộ, đã miệt mài theo đuổi thực hiện ý hướng ấy với hào hùng can đảm và linh hoạt thích ứng vào từng hoàn cảnh trên con đường tiến bước của mình.
Vì đã nghiên cứu và hiểu người Việt nên thật tình tôi yêu mến họ.
Tôi yêu mến họ vì trí thông minh, nhạy bén trong suy nghĩ. Tôi đã làm thầy giáo, đã từng giám khảo thi cử, nên về vấn đề này, tôi có thể đưa ra những phán đoán có nền tảng.
Tôi yêu mến họ vì những đức hạnh tinh thần. Thuộc tầng lớp nông dân, rồi sống ở Việt Nam giữa nông dân, tôi đã có thể thấy rằng nông dân Pháp và nông dân Việt giống nhau lạ lùng: Bên này cũng như bên kia, từng ý tưởng vụn vặn của cuộc sống hằng ngày, của đồng áng, chợ đò, của những bữa cơm thường nhật, của làng mạc… Mặt nữa, bên này cũng như bên kia, những tình cảm cao cả, tình yêu thương sâu đậm của gia đình, giúp đỡ và tương trợ lẫn nhau, chuyên cần trong công việc, nhẫn nhục trong cuộc sống nghèo hèn và khổ cực mỗi ngày.

những người bạn cố đô Huế2

Tôi yêu mến họ vì tính tình của họ.
Trước đây, khi tôi có dịp đi lại bằng võng hay bằng thuyền, tôi đã thấy được và cảm phục niềm vui sống, sự vui vẻ, tâm trí hồn nhiên của bác gánh võng hay người chèo thuyền, mặc dầu họ thật vất vả, nhọc nhằn suốt hàng giờ và hàng ngày tròn.
Sau cùng, tôi yêu mến họ vì họ khổ.
Biết bao khổ ải, biết bao nặng nhọc lầm than; những khốn cùng đôi khi phải cam chịu đã đành nhưng thường là do định mệnh khắt khe vô tình”
[Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens, Q. I, Préface VII, VII, IX, Đỗ Trinh Huệ dịch. Dẫn theo: Nguyễn Hữu Châu Phan, “Huế dưới con mắt L.Cadière – L.Cadière dưới con mắt một người Huế”.
Cha Léopold Cadière qua đời ngày 07/6/1955 tại Huế, an táng tại Đại chủng viện Huế.
3. Dường như tất cả những ai nghiên cứu về Huế đều mong mỏi chính quyền sở tại ghi nhận công lao của cha Cadière và tôn vinh công lao của ông đúng tầm, đúng mực. Cũng vì thế, mà cách đây tròn 10 năm, khi tham gia góp ý đề tài “Tên đường phố ở Thừa Thiên Huế” do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thừa Thiên Huế chủ trì nghiên cứu, tôi đã đề nghị đưa tên Léopold Cadière vào “ngân hàng tên đường”. Không rõ ý kiến của tôi có được tiếp thu hay không nhưng đến giờ nước Huệ vẫn chưa có con đường nào mang tên Cadière, dù ông xứng đáng có tên đường hơn rất nhiều vị khác mà tôi thấy đâu đó ở nước Huệ.
NGƯỜI NƯỚC HUỆ (viết ở Huệ, post lên FB từ Đà thành)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s