Nhớ những năm tháng Quốc Học(Huế)-Tự truyện Tần Hoài Dạ Vũ

tambut1

logo nhật ký

NHỚ NHỮNG NĂM THÁNG QUỐC HỌC

Tần Hoài Dạ Vũ

Tần Hoài Dạ Vũ

116_7057

Quãng đời đi học của tôi là những năm tháng thật khác biệt nhau, với rất nhiều hình ảnh kỷ niệm ngược chiều, mà bây giờ nhớ lại, tôi vẫn không phải biết gọi những năm tháng ấy bằng cái tên gì – nếu có thể đặt tên – cho xứng hợp. Nếu những năm tháng ở trường nam Tiểu học Hội An là những tháng ngày thơ mộng thần tiên, mà tôi là một đứa con được thương yêu và sống đầy đủ trong gia đình, là một đứa bé hiếu động, hoạt bát, sớm biểu lộ năng khiếu văn chương ở trường, thì những năm Đệ nhất cấp ở trường Trần Quý Cáp lại là những năm tháng phát triển thể chất và tâm hồn, say mê thể thao và tham gia mọi hoạt động văn nghệ, từ ca hát, đóng kịch, cho đến làm báo; đồng thời, bắt đầu biết buồn, sớm phải ưu tư khi chứng kiến sự sa sút, khánh tận của gia đình. Tám năm ấy như chia ra thành hai quãng đời riêng, khác nhau đến không ngờ. Mà, sự khác biệt lớn nhất là vào những năm tôi rời nhà ra đi, đến Huế để xin vào học ở trường Quốc Học.
Không có lấy một người quen, chưa hề đặt chân tới Huế, tôi rời gia đình ở Hội An ra đi với một chiếc xe đạp và một chiếc va ly nhỏ. Mẹ tôi thì chỉ có thể cho tôi đúng 700 đồng. Với số tiền ấy, tôi chỉ có thể trả tiền cơm hơn một tháng, nếu hoàn toàn không mua sắm, tiêu pha vào một khoản nào khác. Mẹ tôi đã rơm rớm nước mắt, nói với tôi trong buổi sáng tôi ra đi: “Má chỉ có thể cho con chừng này thôi. Con làm sao mà sống và học được ở một nơi xa lạ?”. Và tôi đã rời gia đình ra đi như thế, vào lúc ba tôi không có mặt ở nhà, khi tôi chỉ mới vừa qua tuổi 16, hoàn toàn tự tin nhưng cũng không ít ngậm ngùi vì cảnh nhà của mình. Thôi, đừng nhớ tiếc những năm tháng sung sướng thuở nhỏ làm gì nữa. Từ khi ba tôi có vợ bé, gia đình tôi sa sút, và cho tới lúc tôi ra đi, đã hoàn toàn khánh tận. Phải ở nhà thuê, cả hai chiếc ô tô, một chiếc Citroen đi chơi và một chiếc Renault chạy khách đường Hội An – Đà Nẵng đã phải bán đi; bán đi cả những vật dụng đắt tiền, những đồ gỗ quý trong nhà, mỗi ngày một món, cho tới khi chẳng còn gì để bán nữa. Tôi đã có lần thấy mẹ tôi ngồi ở chân giường, trong bóng tối chập choạng của buổi chiều tàn, khóc lặng lẽ một mình. Và hình ảnh buồn thảm ấy, tiếng khóc nghẹn ngào ấy cứ đeo đẳng theo tôi suốt đời.
Đến bến xe An Cựu, tôi đạp xe theo một bác xích lô chở chiếc valy thiếc của tôi. Cầu Trường Tiền có hai dãy đường băng dành cho người đi bộ và đi xe đạp ở hai bên. Ngơ ngác như một chú Mán về thành, tôi đạp xe theo bác xích lô đi giữa lòng cầu. Cảnh sát ở đầu cầu thổi còi inh ỏi, tôi cũng chẳng hề biết tại sao. Và tôi đã lần mò hỏi đường, tìm đến trường Quốc Học, tự nạp đơn xin vào lớp Đệ Tam Ban C với cái vẻ ngơ ngác như vậy. Phải chờ đến 14 ngày, tôi mới thấy tên trên bảng thông báo gọi vào học, khi ngày khai trường qua đi đã gần hai tuần lễ. Ở tạm nhà một bà cụ người Hoa tại đường Chi Lăng (Gia Hội), vốn là chỗ quen biết với gia đình tôi từ trước, trong những ngày chờ đợi được xét đơn xin nhập học, tôi đã đạp xe đi gõ cửa nhiều nhà, xin một chỗ dạy kèm. Ở Huế lúc bấy giờ, các gia đình công chức thường hay mướn gia sư. Nhưng ai thèm đi mướn một cậu bé mới ngấp nghé vào lớp 10, lại là lớp 10 ban Văn chương, vốn rất dốt Toán. Tôi đã có nửa tháng hoài công. Vừa thất vọng, vừa lo sợ cho những ngày trước mắt, không biết làm sao để có thể có cơm ăn, chứ chưa nói sẽ học hành như thế nào.
Được vào lớp Đệ Tam C (ban Văn chương – Sinh ngữ) Quốc Học, việc đầu tiên của tôi là tìm làm quen với lớp trưởng. Và câu chuyện đầu tiên mà tôi nói với người lớp trưởng có vẻ lớn hơn tôi, trông chững chạc, đạo mạo ấy, là nhờ anh xem có nơi nào nhận dạy kèm, kiếm giúp cho tôi một chỗ. Thật may, Phan Văn Uân, anh lớp trưởng cũng là người không sống với cha mẹ, anh ăn uống ở nhà một bà cô, dạy con của bà, và được dành cho căn gác ở một ngôi nhà khác, mà phần dưới được cho một đôi vợ chồng trẻ thuê, và điều quan trọng là anh cũng chuyên đi dạy kèm. Chưa đầy nửa tháng sau, tôi đã có chỗ nhận cho làm gia sư, qua giới thiệu của Uân. Gia đình thuê tôi ở tận xã Thủy An, từ chợ An Cựu đi dọc theo bờ Bắc sông An Cựu về đến đó ít ra cũng phải hơn ba cây số. Đường đi bùn lầy lội, tuy xa trường, nhưng đối với một cậu bé bơ vơ như tôi, có được chỗ ở, có cơm ăn đi học đã là may mắn lằm rồi, đâu có quyền chọn lựa. Gia đình bác Vĩnh làm bún, và cả hai vợ chồng bác là những người nhân hậu mà tôi đã may mắn được gặp trong đời. Chỉ có mỗi một điều e ngại, cậu học trò của tôi đã cao ngang tầm tôi, và đã học lớp Đệ Ngũ (lớp 8), với chương trình Toán đầy những bài Quỹ tích. E ngại, vì tôi vốn là đứa dốt Toán nhất trần đời. Nhưng đã bảo là tôi không còn có quyền chọn lựa. Thế là từ đó, mỗi khi dạy môn Toán, giải bài Toán, tôi đều đi học trước với các bạn cùng lớp, cùng trường, học thuộc lòng, rồi về giải lại cho cậu em học trò.

116_7059

Có cơm ăn rồi, nhưng còn tiền mua sắm sách vở, và những khoản tiêu vặt khác thì biết tìm đâu? Tôi đã nghĩ ra một cách, tuy chẳng kiếm được nhiều tiền, nhưng chắt chiu được đồng nào hay đồng ấy. Tôi lần lượt đi xin khắp bạn bè những tập vở đã dùng rồi, hoặc giấy lộn đã bỏ đi, rồi lặng lẽ đem ra chợ Đông Ba bán ký lô. Có một lần, đang đứng bán giấy vụn như vậy, một o bán đồ gia vị đã gọi tôi lại, dặn tôi hãy về dán những bì giấy nhỏ, đem ra o sẽ mua giúp cho, hoặc o sẽ bán hộ cho tôi. Thế là tôi đã âm thầm làm cái nghề dán bao bì, đã có “khách hàng”, đã kiếm được khá nhiều tiền hơn là chỉ bán giấy vụn. Tôi tuyệt đối giấu kín các bạn cùng lớp, cả với Uân và Đăng, là hai người bạn thân tôi cũng ngậm hạt thị. Các Thầy, Cô đáng kính của tôi, một ngày nào đó nếu có sử dụng những bao giấy nhỏ đựng ớt bột, tiêu, hành, có bao giờ biết được rằng đó là những bao bì do một đứa học trò nhỏ tội nghiệp của mình lén lút ngồi dán trong những đêm khuya? Năm Đệ Tam C, năm học đầu tiên xa nhà của tôi, đã trôi qua như thế.
Chính trong năm học này, tôi đã bắt đầu có những bài thơ đăng trên Tiểu thuyết Tuần san, Bách Khoa, và những truyện ngắn đăng trên Phổ Thông. Về sau thì gần như báo nào cũng có thơ tôi, nhất là hai tạp chí nổi tiếng thời ấy là Văn và Văn học; kể cả những tờ khó chen chân như Tân Phong. Tôi còn nhớ, vào giữa tháng 5.1963, tạp chí Bách Khoa đăng liền hai bài thơ của tôi, trong hai số báo 153 và 154. Tòa soạn tạp chí gửi báo biếu và 200 đồng nhuận bút cho tôi. Đang học lớp 10, chưa tới tuổi làm căn cước, tôi phải đưa tấm bưu phiếu đến Phòng Giám học để nhờ ký xác nhận. Thầy Văn Đình Hy – người đã thương hoàn cảnh tôi mà nhận cho tôi vào Quốc Học sau khi xem xét rất kỹ học bạ của tôi – đã từ tốn hỏi “Ai mà gởi cho con có 200 đồng, làm sao đủ ăn một tháng? (Ăn cơm tháng bình dân vào lúc ấy ít nhất phải 400 đồng). Tôi thưa là tiền của báo Bách Khoa gửi. Thầy hỏi lại, vẻ không tin: “Mày làm gì mà Bách Khoa gởi tiền?” – “Dạ con được đăng thơ trên Bách Khoa”. Thầy tỏ ra ngạc nhiên, hỏi lại cặn kẽ bút danh của tôi, số báo tôi có thơ đăng, rồi xoa đầu tôi âu yếm: “Khá lắm! Cố học nghe con!”. Và cũng từ đó, mặc dù nổi tiếng nghiêm khắc, thầy Văn Đình Hy đặc biệt thương mến tôi. Bây giờ nhớ lại, tôi vẫn còn như thấy rõ hình bóng của thầy, và trong lòng tôi vẫn dạt dào một tình cảm biết ơn vô hạn. Lúc ấy, hẳn Thầy cũng không thể ngờ rằng những đồng bạc nhỏ bé ấy đã cứu vớt tôi, đã là chiếc cầu bắc cho tôi vào đời, giúp tôi tự tin hơn, và thấy rằng cuộc đời dẫu có cay nghiệt bao nhiêu cũng thật là đáng sống. Nhiều năm sau, tôi nghe tin thầy qua đời trong hoàn cảnh đáng buồn, lòng tôi lại càng thêm thương tiếc.

Quốc Học4

Lên lớp Đệ Nhị, tôi không thể tiếp tục ở nhà bác Vĩnh được nữa. Tuy hai bác vẫn thương tôi, sẵn sàng tiếp nhận tôi, nhưng tôi không dám ở lại nữa, vì tôi đâu có đủ khả năng để dạy Toán cho học trò của mình. Lại Phan Văn Uân giúp tôi có chỗ dạy kèm trong một gia đình ở Vỹ Dạ. Chính khi sống ở Thủy An, tôi đã trở nên thân thiết với Trương Đình Đăng, bạn học cùng lớp, có hoàn cảnh gia đình khá giống tôi, cũng dạy kèm trong một gia đình gần nơi tôi trọ. Uân, Đăng và tôi trở thành ba người bạn thân, tình bạn không đổi dời từ những năm tháng thơ trẻ ấy cho tới tận bây giờ. Trong lớp, tôi còn có một người bạn khá thân, nhất là những năm về sau, tuy hồi ấy thì anh thuộc “tầng lớp trên”, nghĩa là sống sung túc hơn một cậu học trò xa quê, nghèo khó như tôi, đó là Phan Văn Chạy. Trong lớp, tôi không bao giờ nhường cho ai làm sơ-mi môn Văn, nhưng luôn luôn chỉ đứng thứ ba khi tổng kết điểm cuối năm, sau Chạy và Uân. Cả hai vừa thông minh lại vừa học chăm và giỏi đều các môn, kể cả những môn phụ đối với học sinh Ban Văn chương -Sinh ngữ, như Toán, Lý, Hóa, Vạn vật.
Ông chủ nhà tôi ở dạy kèm tại Vỹ Dạ là một người hiền lành, chỉ biết chơi chim, nhưng bà chủ nhà thì vô cùng cay nghiệt. Những buổi trưa, tôi được ngồi ăn với cha con chủ nhà, trong đó có hai cô gái nhỏ học trò của tôi, đều đang ở bậc tiểu học. Nhưng đến bữa tối, khi bà chủ nhà đi bán ở chợ Đông Ba về, thì tôi phải ăn cùng với người giúp việc trong nhà, ở dưới bếp. Được nửa năm học, nghĩa là sau khi tôi về quê ăn Tết Nguyên đán cùng gia đình ở Hội An trở ra Huế, một buổi tối, không hiểu tức giận chuyện gì, bà chủ la mắng mọi người, và tôi cũng không thoát. Bị xúc phạm quá đáng, tôi lập tức sắp sách vở vào va ly, đặt lên xe đạp ra đi. Biết đi đâu bây giờ? Cuối cùng, sau một hồi đạp xe lòng vòng chán nản, tôi đến căn gác gỗ của Uân ở 105 Chi Lăng. Tôi xin ở tạm nơi đó với Uân, khi trong túi còn đúng 71 đồng. Ở Huế lúc bấy giờ có “Quán cơm Xã hội”, nằm ngay trên phố Trần Hưng Đạo, phía trong bến xe Lam. Ăn ở đây chỉ toàn là các bác tài xe lam, các bác đạp xích lô và những người làm nghề khuân vác. Trong cung cách của người Huế, SVHS chẳng ai lại đi ăn ở đấy. Nhưng tôi thì đâu có quyền chọn lựa. Mỗi bữa ăn có ba món, tuy chẳng ngon lành gì, nhưng được cái chỉ phải trả có 10 đồng. Dù đã phải nhịn bữa sáng, tôi cũng chỉ ăn được đúng bảy bữa, nghĩa là kéo dài được ba ngày rưỡi. Sang ngày thứ tư, buổi trưa đi học về, trong túi chỉ còn đúng 1 đồng bạc. Uân lại nghỉ học, hình như đi chùa với bà cô. Đứng ngó mông trước cửa nhà, cuối cùng tôi băng qua đường, ghé vào hàng quà vặt của một bà cụ hom hem, mua hai trái chuối, giá một đồng; đồng bạc cuối cùng tôi có. Ăn xong, tôi mở vòi nước máy, uống liền một lúc hai ly đầy, trong cái lạnh se da của tháng Giêng ở Huế. Trong trường hợp này thì đành làm đầy cái bụng bằng nước thay cơm. Buổi chiều tan học ra, trời rét đậm. Bụng đói cồn cào, mà khổ nỗi càng đói thì càng thêm lạnh. Tôi đạp xe chầm chậm trở về căn gác gỗ của Uân. Tương lai mù mịt. Chỗ ở tạm bợ, cơm ăn không có, làm sao kéo dài việc học?

Quốc Học3

Ngồi suy nghĩ, tôi nhớ đến cô Nguyễn Thị Từ Nguyên, là cô giáo của tôi ở trường Trần Quý Cáp, Hội An, khi tôi học Đệ Ngũ, nay đã đổi về dạy ở trường Đồng Khánh. Nhà cô ở đường Hồ Xuân Hương, cách chỗ tôi tạm trú thân không xa. Đến cô, tôi kể thật hoàn cảnh, và xin mượn cô 200 đồng, hứa một tháng sau sẽ hoàn trả lại. Cô Từ Nguyên đẹp người, đôi mắt sáng, giọng nói thanh và nhanh. Cô dúi vào túi áo tôi 200 đồng, đặt tay lên vai tôi, và dịu dàng bảo: “Bao giờ em trả cũng được, mà không trả cũng được, đừng bận tâm !” . Những tấm lòng nhận hậu ấy làm sao tôi quên được, và tôi cũng không bao giờ có thể đền đáp được. Cho đến khi tốt nghiệp Ban Việt – Hán, ĐHSP Huế vào năm 1969, tôi đã chịu ơn biết bao nhiêu người nhân hậu ở Huế, những gia đình cưu mang, giúp đỡ tôi trong những năm học trò nghèo khó. Huế đã trở thành một phần đời, một phần tâm hồn tôi, đã nuôi tôi khôn lớn, đã giúp tôi trưởng thành về mặt tình cảm và tinh thần, đã dạy tôi biết đứng thẳng để làm người, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Và trái đất thật nhỏ bé, hơn 30 năm sau, tình cờ đọc được một tờ báo Mỹ có bài viết về một nữ Tiến sĩ Luật của Đại học Houston và LLM của Đại học Harvard, người Việt Nam đầu tiên được bổ nhiệm chức vụ Thẩm phán Toà án Thành phố Houston (Texas), tôi ngỡ ngàng khi biết Dương Như Nguyện, cô TS Luật ấy, là con gái đầu của Thầy Dương Đức Nhự và Cô Nguyễn Thị Từ Nguyên. Tôi đã dựa theo bài báo ấy, viết lại, với những hiểu biết và nhất là với tình cảm sâu nặng trong lòng, và gửi đăng bài ở báo Phụ Nữ TP.HCM. Cách xa nửa vòng trái đất, lòng tôi vẫn bồi hồi những nỗi niềm kính nhớ và biết ơn đối với một cô giáo cũ có tấm lòng nhân hậu. (Và quả là nhà Phật có nói đến “chữ Duyên”, mới mấy tháng trước đây thôi, Dương Như Nguyện tìm ra địa chỉ Facebook của tôi, và anh em chúng tôi lại được kết nối. Wendy Nicole Dương chẳng những là một phụ nữ học cao, có kiến thức về Triết học sâu rộng, mà còn là một người đa tài, viết văn hay (trước đây, đã từng đoạt giải Văn chương Phụ nữ trong ngày lễ Hai Bà Trưng ở Sài Gòn tháng 2 năm 1975, khi đang học lớp 12 trường Trưng Vương, mà giải thưởng có giá trị lớn, vì ngoài khánh vàng ra, người đoạt giải còn được chọn đi du học 1 trong 6 nước tiên tiến trên thế giới ; và hiện nay, có tác phẩm văn học viết bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh, được xuất bản); là người soạn nhạc có tài và là người vẽ tranh nổi tiếng. Điều đáng nói là người phụ nữ đẹp, đa tài ấy đã từ bỏ con đường quan chức để đi làm việc thiện nguyện. Và qua W. Dương, tôi mới biết thân mẫu của em, cô giáo nhân hậu của tôi, hiện đã mất trí nhớ, và nằm bất động nhiều ngày, nên Như Nguyện là người luôn cận kề, chăm sóc. Xa xôi cách trở, xin em hãy nhận nơi đây tình cảm thương kính và tấm lòng biết ơn sâu nặng anh vẫn dành cho mẹ em, và anh chỉ còn biết nguyện cầu cho cô mau chóng khoẻ lại !)

Bia Khải Định

Nửa tháng sau khi được cô Từ Nguyên cho mượn tiền, tôi tìm được chỗ dạy mới. Lần này, do những kinh nghiệm đắng cay, tôi không nhận ở trong nhà, mà chỉ xin nhận tiền. Và sau tuần lễ đầu tiên dạy ba cô gái nhỏ, vừa học tiểu học vừa học lớp 6 và lớp 7, tôi thưa với chủ nhà xin nhận tiền trước vào mỗi đầu tháng. Ông bà chủ nhận tôi làm gia sư chính là chủ nhà hàng ăn uống Lạc Thành ở cửa Thượng Tứ. Đó là hai ông bà nhân hậu hết mực, và ngày nay, dù hai ông bà đã qua đời, nhưng tôi vẫn còn giữ liên lạc với anh em, rất đông anh em của gia đình Hồ Đăng đáng quý trọng ấy… Tôi đã trả được cô Từ Nguyên 200 đồng cô đã rộng lòng cho mượn. Tôi đã học xong lớp Đệ Nhị, đã đỗ tú Tài I trong một hoàn cảnh ngặt nghèo như thế, nhưng điều an ủi là cuối năm học tôi đã được nhận đến hai phần thưởng. Về học lực, là phần thưởng hạng Nhất (nghĩa là vẫn sau Phan Văn Chạy – phần thưởng Danh dự, và Phan Văn Uân – Ưu hạng). Phần thưởng thứ hai đối với tôi rất đáng tự hào, Giải nhất Thi ca Quốc Học. Trường Quốc Học những năm ấy vẫn có lệ tổ chức cuộc thi văn chương, gồm các thể loại: truyện ngắn, tạp bút, thơ, biên thảo. Cuộc thi văn chương năm học 1963- 1964, tất cả các thể loại chỉ có giải khuyến khích, riêng bộ môn thơ, tôi đạt giải nhất mà lại không có giải nhì. Điều thú vị hơn nữa là năm học ấy, thầy Dương Thiệu Tống làm Hiệu trưởng, lần đầu tiên hai trường Quốc Học và Đồng Khánh tổ chức phát phần thưởng chung tại Nhà hát lớn thành phố Huế. Niềm vui và sự tự hào tưởng chẳng còn gì hơn được nữa, với một chàng trai bước vào tuổi 18, nhất là được mặc đồng phục trắng, lên nhận phần thưởng trước mắt bao người đẹp Đồng Khánh, dù có thểnhững người đẹp ấy chẳng buồn để mắt đến mình.
Tôi đỗ Tú Tài 2 năm 1965, và đúng 10 năm sau, tôi có vinh dự được trở về làm Hiệu trưởng đời thứ 34 của trường Quốc Học, Huế. Những năm tháng học Trung học Đệ nhị cấp (ngày nay gọi là cấp 3) của tôi ở Quốc Học là những năm tháng nỗ lực hết mình để không chỉ học giỏi, thi đỗ, mà còn để có thể kiếm cơm ăn. Và tôi đã thực sự trưởng thành trong những năm tháng ấy, đã có thơ được đăng trên hầu hết những tờ báo, tạp chí xuất bản ở Sài Gòn, đã chính thức bước vào làng văn, đã có thể sống được một phần nhờ tiền nhuận bút. Ba năm ở Quốc Học là ba năm giúp tôi trở thành một thanh niên đầy nhiệt huyết, tự tin và sống có lý tưởng, lao vào con đường văn chương và lao cả vào những vấn đề lớn của đất nước.
Bây giờ nhớ lại, nhiều khi tôi vẫn phải bần thần tự hỏi, làm sao tôi có thể vượt qua được những năm tháng ấy; làm sao có thể đi qua cuộc chiến tranh với những tai ương chồng chất; làm sao vẫn có thể giữ được tấm lòng đôn hậu trước những đảo điên của cuộc thế ? Nhưng trước sau tôi vẫn nghĩ rằng, thế hệ nào cũng có những khó khăn của mình, cũng phải phấn đấu vượt qua những trở ngại của cuộc sống và của chính bản thân. Và nếu có lòng tin, có nghị lực, thì không bao giờ ta sợ vấp ngã; mà nếu có vấp ngã thì ta vẫn có thể đứng lên, bước đi tiếp trên con đường phải đi của cuộc đời mình.

Quốc Học1

Tôi tin tưởng, một cách tuyệt đối, là thế hệ trẻ hôm nay vẫn tràn đầy tinh thần yêu nước, nên nếu có bất cứ thế lực ngoại xâm nào, dù đến từ bất cứ vùng trời hay vùng biển nào, thì tuổi trẻ sẽ lại đứng lên, chung lòng chung sức để đánh đuổi ngoại xâm, theo đúng truyền thống yêu nước vẫn được truyền dẫn trong mọi trái tim, mọi tâm hồn người Việt Nam bất khuất; và tôi vẫn tin rằng, tuổi trẻ hôm nay có sức cạnh tranh còn mạnh hơn cả thế hệ chúng tôi, vì xã hội ngày một đòi hỏi sự cạnh tranh khốc liệt hơn. Và với những điều kiện thuận lợi hơn thế hệ chúng tôi, tôi tin rằng những người trẻ hiện nay sẽ bay xa hơn trên đường bay vào thế giới kiến thức, sẽ thành công hơn trong đời sống kỹ thuật số, dẫu rằng cuộc đời không lúc nào có thể hết chông gai, nhưng cũng không bao giờ không đáng sống, đáng yêu.

TẦN HOÀI DẠ VŨ

+2

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s