Giấc mơ của một viên tướng-Truyện Phạm Lưu Vũ

chó đọc sách

truyện ngắn

GIẤC MƠ CỦA MỘT VIÊN TƯỚNG

 

Phạm Lưu Vũ

ac quỷ

Tướng Hanh người Suối La, phủ Đông Hào thuộc trấn Sơn Tây xuất thân con quan, bốn mươi tuổi làm tướng. Từ khi làm tướng bỗng thích bắt bớ, coi việc bắt người như 1 cái thú tiêu khiển, lại nghiện như người nghiện… tình dục, bởi bắt người, trói người với làm tình cùng là thân nghiệp cho nên có chỗ giống nhau, nhiều chỗ giống nhau. Ví dụ ám ảnh về sự bắt trói cũng giống hệt ám ảnh tình dục, cũng hồi hộp, xao xuyến, cũng vội vã, hối hả, nổi da gà… Không những thế, khám phá sự hoảng sợ, kêu van của con người cũng thú vị như khám phá sự sung sướng, rên rỉ của đối tượng tình dục… Dưới trướng Hanh có nhiều thuộc hạ, lâu la, chính có, ngụy có, muốn bao nhiêu có bấy nhiêu. Chúng rùng rùng hiện ra như một bầy quỷ sứ mỗi khi Hanh cần đến, như thể Hanh và bọn chúng đã hẹn sẵn nhau từ muôn kiếp trước, để cùng có mặt ở cuộc đời này… Bọn Hanh bắt người vì lệnh trên sai khiến đã đành, còn bắt người vì những cú nhờ vả kèm theo hàng đống ngân lượng… Thời buổi này con người ta thù nhau, ghét nhau phần lớn vì tranh nhau những mối làm ăn hay cướp đất, cướp ruộng của dân lành… Càng nhiều người bị đẩy vào cảnh khốn cùng thì càng sinh ra nhiều đạo tặc. Cho nên bọn Hanh không bao giờ phải thất nghiệp. Con người đối với chúng y như gà, như lợn, thích bắt thì bắt, thích thả thì thả…

Gần đây, tướng Hanh sinh ra thói quen đi lễ chùa. Vợ y bảo bắt người nghiệp nặng, chỉ vì nghiện cho nên phải bắt thôi. Nhưng phải chăm đi chùa để giải nghiệp. Phúc Lâm tự là một ngôi chùa nhỏ nằm trên 1 quả núi phía đông bắc kinh thành. Trong chùa chỉ có 1 vị sư già tên Huệ và 1 chú tiểu tên Thanh Lương. Nhân duyên gì khiến y tới Phúc Lâm tự là điểu không ai được biết. Chỉ biết rằng sư Huệ tỏ ra rất chú ý tới Hanh. Cửa Phật từ bi không phân biệt gian ác hay lương thiện… Nhưng hình như, sự quan tâm của sư Huệ đối với y không chỉ bởi lòng từ bi… Điều này chính y cũng nhiều lần cảm thấy, song không thể cắt nghĩa được.

Dịp tới Phúc Lâm tự cuối năm ấy, tướng Hanh tự dưng bỗng phát tâm lạ. Lạy Phật xong bèn hỏi sư Huệ:

“Bạch thầy, Phật dạy chúng sinh làm cách nào mà biết được tiền kiếp của mình?”

Sư Huệ nghe hỏi thì biết là có nhân duyên, bèn trả lời, gương mặt kỉ hà nhìn mãi phía xa xa:

“A Di Đà Phật. Đức Phật dạy xem quả hiện tại có thể đoán nhân trong quá khứ, cũng như xem việc làm hiện tại mà đoán quả vị lai…”

Tướng Hanh nghe sư Huệ nói có vẻ chưa thỏa mãn. Lại hỏi tiếp:

“Thế nào là xem quả hiện tại?

Sư Huệ bảo:

“Đấy đấy. Cái đang có là quả của quá khứ. Cái sắp có là nhân của vị lai…”

Hanh dường như vẫn chưa hiểu rõ. Lại hỏi:

“Vậy thầy có nhìn thấy cái quá khứ ấy hay không?”

Sư Huệ bảo:

“Thí chủ. Bần tăng chưa thấy. Nhưng biết rằng nếu chưa phát tâm thì quá khứ cách xa hàng muôn vạn cõi, còn nếu đã phát tâm thì nó ở rất gần…”

“Gần là ở đâu? – tướng Hanh gặng hỏi:

Sư Huệ trầm ngâm:

“Ở… bất cứ chỗ nào, ngay sau chùa chẳng hạn…”

Tướng Hanh nghe sư Huệ nói, coi như một kiểu ví dụ, dù chưa thỏa mãn cũng chẳng hỏi thêm, lẳng lặng ngồi uống trà chờ thuộc cấp cho xe tới đón. Trời cuối năm se lạnh, ngôi chùa đã vắng lại càng hiu quạnh. Sư Huệ và chú tiểu Thanh Lương chỉ chăm chú vào việc tụng kinh, gõ mõ. Chờ mãi không thấy xe đến, tướng Hanh thong thả đứng lên, một mình tản bộ ra phía sau chùa vãn cảnh.

Phía sau ngôi chùa là một vạt rừng toàn tre trúc. Những ngọn tre đan vào nhau, che kín bầu trời như mạng nhện, trên đó dày đặc những tổ cò bỏ hoang bởi lũ cò làm tổ đẻ từ mùa hè, nay đã đi tìm nơi khác tránh rét. Tiếng mõ từ phía ngôi chùa vẫn vọng tới đều đều… Đang mải nghĩ, tướng Hanh bỗng vấp phải 1 sợi dây dại làm toàn thân chúi về phía trước. Chưa kịp lấy lại thăng bằng thì lại 1 cú vấp gây ra bởi phản xạ làm viên tướng ngã nhào xuống đất, úp mặt vào đám phân cò dày hàng tấc. Mùi tanh nồng của phân cò xộc vào mũi, tràn ngập buồng phổi, hai mắt đổ đom đóm như thể bị chiếu bởi 1 thứ hào quang chói lòa, mặt đất rúng động, cả rừng tre rung rinh, nghiêng ngả. Giây lát, tiếng mõ im bặt, tướng Hanh nằm lịm đi, trong óc bỗng như có 1 bộ phim đang lướt qua, cực kì sống động.

Tướng Hanh nom thấy mình đang đi vào 1 ngôi làng. Cổng gạch xây kiểu tam quan, rêu mốc lở lói, cây dại mọc cả hai bên tường. Phía trên có chữ nhưng mờ ảo, chỉ đọc rõ 2 chữ: “Xoài thôn”. Thì ra là làng Xoài – tướng Hanh chỉ kịp nghĩ tới đó rồi không còn cảm giác gì nữa, bởi toàn bộ tâm trí đã lập tức chìm vào một “bộ phim” như sau:

Phía ngoài cổng làng Xoái, ngay bên cạnh đường có một cái giếng đất sâu hút, không nhìn thấy đáy tục gọi giếng Quỷ. Cái giếng như có từ thuở khai thiên lập địa. Xung quanh thành giếng, cây dại mọc tầng tầng, lớp lớp, che kín cả đáy giếng. Đồn rằng xưa, có người đàn bà gánh hàng sang chợ Đò bán, đi ngang qua giếng bỗng nghe có tiếng nỉ non xin cơm, bèn tiện tay ném xuống 1 nắm cơm nhỏ. Không ngờ vừa gánh hàng sang đến chợ, người mua đã xúm lại tranh nhau, giây lát gánh hàng bán hết veo. Chuyện ấy loang ra, từ đó, ai đi qua cũng thủ sẵn 1 nắm cơm ném xuống để cầu may. Về sau, có 1 thầy địa lý đi qua, ngắm nghía địa thế của làng Xoài một hồi rồi gọi dân làng ra, trỏ cái giếng mà bảo:

“Giời có đầu đuôi gọi là “thủ thiên vĩ”, thì đất cũng có bụng dạ, gọi là “tâm địa vị”. Đây chính là chỗ cuống họng, thông xuống tới bụng đất. Dưới đó chứa toàn quỷ đói, chỉ có chỗ này thông lên cõi trần nên thỉnh thoảng nghe có tiếng xin cơm là vì thế. Nhưng nắm cơm mà vào tay bọn ngạ quỷ thì lập tức biến thành cục đất. Cho nên chả cần phải tốn cơm, cứ ném 1 cục đất cũng được”.

Dân làng nghe ra, từ đó chả ai ném cơm nữa, cứ tiện tay lượm một cục đất bên đường ném xuống. Quả nhiên mọi sự vẫn linh nghiệm như trước. Có điều lạ là hàng ngàn năm đã trôi qua, bao nhiêu cục đất đã được ném xuống, vậy mà cái giếng ấy không hề đầy lên tí nào, vẫn sâu hun hút như thể nó không hề có đáy. Quả là cuống họng của đất. Cái tên “giếng Quỷ” cũng ra đời từ đó…

Bấy giờ, làng Xoài có 1 phú ông họ Lương, nhà giàu mà ngoài sáu mươi tuổi vẫn chưa có con nối dõi. Phú ông bèn cưới bà vợ thứ 3, quyết chí kiếm bằng được thằng con giai. Cưới về rồi lập tức cho đi cầu tự. Quả nhiên đẻ được đứa con trai kháu khỉnh, lại có quý tướng thì mừng lắm, bèn đặt tên là Lương Nhất Bách. Năm Nhất Bách lên 6 tuổi thì phú ông ốm nặng rồi chết. Điều kinh dị là phú ông chết mà hai mắt cứ mở trừng trừng, người nhà vuốt mãi không được nên không dám khâm liệm, mời thầy về cúng cũng không ăn thua. Cứ như thế đến ngày thứ 3 thì bà ba nằm mơ, thấy phú ông về, hầm hầm trỏ thẳng vào mặt bà mà hỏi:

“Ngày trước cho bà đi cầu tự, bà cầu ở chùa nào mà về nhanh thế?”

Ba ba hoảng hồn, biết là không dấu được, đành vừa khóc vừa kể:

“Quả là hôm đi cầu tự, vừa ra khỏi cổng làng, đi qua chỗ giếng Quỷ, tôi vừa ném 1 cục đất xuống bỗng thấy bụng nóng ran, lại thấy trong người khó chịu nên đã quay về. Không ngờ lần ấy trúng được thằng Nhất Bách nên thôi không nói lại nữa…”

Phú ông bảo:

“Thảo nào. Ta cũng đi qua chỗ ấy, thấy bọn quỷ dưới giếng kháo nhau, rằng thằng Nhất Bách chính là 1 loài quỷ ở dưới đó, gọi là “tróc quỷ”, nó nhân cơ hội đầu thai làm con ta, sau này lớn lên sẽ làm tướng, chuyên đi bắt người. Bọn quỷ đang chờ tới lúc đó, sẽ rùng rùng kéo lên làm lâu la cho nó để hại thiên hạ. Nếu vậy thì nhà ta vô phúc quá, thà để tuyệt tự còn hơn. Ta vì thế mới không nhắm mắt được…”

 

Yên Tử

Bà ba nghe phú ông nói thì càng hoảng hốt rụng rời, bèn túm lấy phú ông, run rẩy hỏi:

“Vậy bây giờ phải làm thế nào?”

Phú ông ra lệnh:

“Ngay sáng mai, bà hãy dắt thằng Nhất Bách xuống chùa, cho nó quy y Tam Bảo, không làm tướng làm tá gì nữa. Có thế ta mới nhắm mắt được”.

Nói xong, lập tức biến mất.

Ngày hôm sau, dân làng Xoài ngạc nhiên khi thấy bà ba dắt cu Lương Nhất Bách xuống ngôi chùa làng, dứt khoát xin cho nó quy y Tam Bảo. Công việc xong xuôi, quả nhiên bấy giờ mới vuốt mắt được cho phú ông.

Ngôi chùa làng Xoài có tên “Trúc Lâm tự” là 1 ngôi chùa nhỏ chỉ có 1 vị sư vẫn gọi sư Quyết và 1 chú tiểu tên Minh Tuệ. Nhất Bách quy y với sự Quyết được mấy năm thì bà mẹ cũng qua đời. Từ đó càng lớn, Bách càng lêu lổng, chả chịu tu hành gì. Minh Tuệ nhiều lần phàn nàn với sư phụ, song sư Quyết cứ gạt đi, không hề quở mắng. Nhiều hôm Bách la cà nhậu nhẹt, đêm khuya mới mò về chùa, nằm lăn quay ngay trước cổng, chú tiểu Minh Tuệ phải ra khiêng vào, nhưng lạ 1 điều, rằng cứ hễ vác được Bách lên thì cánh cổng chùa liền lập tức đóng sập lại, mấy lần đều như thế, rốt cuộc đích thân sư Quyết phải ra giữ lấy cánh cổng, bấy giờ mới đưa được Bách vào trong chùa. Minh Tuệ vì thế càng luôn miệng phàn nàn. Sư Quyết đành phải gọi Minh Tuệ, bảo riêng cho biết rằng:

“Bách nguyên là loài “tróc quỷ” đầu thai vào nhà phú hộ họ Lương. Họ Lương vì không muốn nó sau này trở thành đầu lĩnh, chuyên bắt bớ hãm hại dân lành, cho nên mới bắt nó quy y Tam Bảo, cốt để phá cái nghiệp tướng của nó, đồng thời triệt luôn cái duyên để lũ quỷ ở dưới giếng kia có thể nhờ đó mà trở lại nhân gian. Nay ta phải chứa nó trong chùa, cũng là một việc công đức, có lợi cho dân đen sau này, con chớ có phàn nàn…”

Minh Tuệ nghe ra, song vẫn thắc mắc:

“Thế tại sao mỗi lần con ra khiêng nó vào chùa, cánh cổng cứ tự dưng đóng lại, cứ phải sư phụ ra giữ mới đưa gã vào được?”

Sư Quyết bảo:

“Tại cái nghiệp quỷ của nó còn nặng, nên các vị Hộ pháp đóng cổng không muốn cho vào. Con là người mới tu hành, công đức còn mỏng, cho nên không giữ được đấy thôi”

Minh Tuệ vẫn còn lo lắng, bèn nói:

“Nó đã mang cái nghiệp như thế, thì trước sau nó cũng phá giới bỏ chùa mà ra ngoài kia làm loạn. Sư phụ làm cách nào để giáo hóa nó?”

Sư Quyết trầm ngâm:

“Ta tự biết chưa đủ công đức để giáo hóa nó, còn phải tu ít nhất năm sáu kiếp nữa may ra mới được. Nhưng sư phụ ta thì có thể giáo hóa được nó nên ta đang có ý chờ ngài…”

Minh Tuệ nghe nói lập tức hỏi dồn:

“Vậy sư tổ tu ở chùa nào? Sư phụ cứ cho con biết, con sẽ đi thỉnh ngài về”

Sư Quyết bảo:

“Sư phụ ta công đức vô lượng, đạo hạnh rất cao. Không có duyên thì thỉnh cũng không được. Đủ duyên thì ngài khắc sẽ tự đến, không cần phải thỉnh…”

Nói thế nhưng bỗng 1 hôm, sư Quyết lại gọi Minh Tuệ bảo:

“Con sang ngay chỗ chợ Đò hỏi thăm. Hình như đêm qua, sư phụ ta định tới đây, song gặp nạn, phải nằm lại ở đó…”

Minh Tuệ lập tức lên đường. Sang tới chợ Đò, hỏi thăm, quả nhiên dân ở đó bảo chiều qua có 1 nhà sư, tuổi ngoại tám mươi, đeo bị gậy đi trên bờ đê, bỗng 1 bọn lâu la ở đâu xông tới, xô đẩy làm sư cụ ngã gãy cả xương đùi, phải vào 1 nhà dân gần đó nằm nhờ…”

Minh Tuệ vội vã hỏi thăm vào nhà người dân ấy. Tới nơi thấy 1 vị sư cụ người to lớn, gương mặt quắc thước đang nằm đầy 1 chiếc chõng, 1 bên đùi nẹp 2 thanh tre. Minh Tuệ vội vàng chạy tới, quỳ xuống đảnh lễ, xưng tên sư phụ của mình ra. Vị sư già cười lớn rồi bảo:

“Ta vẫn biết thầy Quyết chưa đủ công đức giáo hóa con quỷ ấy, nên mới định tới mang nó lên núi, cho nó tu hành. Không ngờ thế lực của nó trong nhân gian còn mạnh, nên đã ra sức ngăn cản, làm ta gãy cả xương phải nằm lại ở đây…”

Minh Tuệ nghe nói thì hết lòng kính trọng. Nhân đấy bèn hỏi:

“Bạch sư tổ, lai lịch của con quỷ ấy thế nào?”

Vị sư tổ bảo:

“Nguyên từ đời Thiệu Bảo (trỏ đời vua Trần Nhân tông), có giặc Mông Thát. Trong quân của nó có nhiều quỷ dữ, lại lắm ma thuật. Tổ ta bấy giờ là đức Tuệ Trung thượng sĩ, Ngài thấy thế bèn xuống tận Âm Tào Địa phủ, mượn con tróc quỷ ấy lên để giúp vào việc quân. Công việc xong xuôi lại mang nó xuống trả. Không ngờ dọc đường, con quỷ ấy lập mưu trốn mất. Tìm mãi, té ra nó ẩn mình trà trộn trong giếng Quỷ. Biết chỗ đó là cuống họng của đất, động đến thì Địa tào tất bị nghẹn họng, sẽ gây ra tai họa động đất, Ngài đành phải để yên cho nó ở đó. Lại sợ nó tìm cách trở lại nhân gian thì sẽ có hại cho dân lành, nên Ngài dặn sẵn đồ đệ, rằng nếu nó trở lại thì bắt nó quy y, mà giáo hóa cho nó được thành chính quả, đừng để nó chất dày thêm nghiệp quỷ, sẽ bị đọa ngục Vô gián trong vô lượng kiếp không thoát ra được. Từ đồ đệ của Ngài truyền mãi đến sư phụ ta, kể đã 8 đời. Trước khi viên tịch, sư phụ ta vẫn nhớ kĩ việc ấy, nên tiếp tục truyền lại cho ta… Không ngờ công đức của ta vẫn còn có chỗ cạn mỏng, cho nên mới bị mấy cái chướng duyên kia nó ngăn cản…”

Minh Tuệ nghe sư tổ nói, bấy giờ mới hay cái giếng Quỷ ở làng Xoài, thì ra nó ghê gớm đến thế. Bèn lo lắng hỏi:

“Vậy bây giờ phải làm thế nào, thưa sư tổ?”

Sư tổ bảo:

“Tổ ta, đức Tuệ Trung Thượng sĩ, Ngài cũng đã lường trước chuyện này, cho nên có giao lại 1 lá bùa, dặn nếu không giáo hóa được nó, thì dùng lá bùa đó mà câu thúc, nhốt nó 500 năm, cho nó trả hết nghiệp quỷ, khi đó thì không còn phải lo ngại gì nữa…”

Minh Tuệ nghe đến đó mới thở phào nhẹ nhõm. Bèn vội vàng hỏi:

“Vậy bây giờ lá bùa ấy ở đâu thưa sư tổ?”

Vị sư tổ nghe hỏi bỗng nhiên trở mình, nhìn thẳng vào Minh Tuệ mà bảo:

“Ngươi hãy đi ngay lên núi, tới chùa Địch Lộng. Tới tòa tháp bên phải, tầng thứ 4 có 1 cái hộp, trong đó đựng lá bùa. Hãy mang ngay lá bùa về cho sư phụ ngươi. Không cần phải để ý đến ta nữa…”

Minh Tuệ không dám chần chừ, vội vàng quay trở lên núi, tìm đến chùa Địch Lộng. Quả nhiên đem được lá bùa về cho sư Quyết. Sư Quyết nghe kể lại câu chuyện thì luôn miệng tán thán, rồi bảo:

“Không ngờ cái tên Nhất Bách này lại có lai lịch ghê gớm như thế…”

Nói rồi đem lá bùa dán trước của phòng ngủ của Nhất Bách. Quả nhiên từ đó, Nhất Bách ở trong chùa chăm chỉ tu hành, không rời khỏi cổng chùa lấy nửa bước.

 

Trần Nhân Tông4

Thời gian sau, có gã đạo sĩ người Tàu một đêm đi qua làng Xoài, bỗng thấy có chút yêu khí bốc lên từ ngôi chùa thì kinh ngạc lắm, mới nghĩ bụng “chùa chiền thờ Phật sao lại có yêu khí? Ta phải vào xem sao mới được”. Bèn tới gần, thấy xung quanh chùa, lưới Phạm Võng chăng kín mít thì giật mình kinh hãi, liền biến thành một con bọ hung chui vào. Tới trước cửa 1 phòng ngủ, quả nhiên thấy có 1 con quỷ đang nằm cuộn tròn ngủ trên giường, ngoài cửa có dán 1 lá bùa thì y hiểu ngay ra cơ sự. Trong lòng bỗng nổi tà tâm, gã đạo sĩ liền giơ tay lột lá bùa, nhét vào trong người rồi quay ra cổng. Vừa tới cổng, y lại va ngay phải lưới Phạm Võng. Biết là Hộ pháp nơi đây nghiêm ngặt, không thể trộm được lá bùa, đành phải móc vứt trả lại. Khi đó mới thoát được ra khỏi chùa.

Sáng hôm sau, sư Quyết thấy trên cánh cửa bị mất lá bùa, nhưng Nhất Bách thì vẫn còn nguyên trong phòng, biết là lá bùa còn ở đâu đó trong chùa, mới sai Minh Tuệ đi tìm. Quả nhiên tìm thấy, lại đem dán lại như cũ.

Ngôi chùa từ đó bình yên, không xảy ra chuyện gì. Về sau sư Quyết viên tịch. Trước đó mấy hôm, ngài thường bảo với Minh Tuệ:

“Kiếp này ta chưa đủ công đức để giáo hóa cho Nhất Bách, thật là đắc tội với chư vị Tổ nhiều lắm, đành phải đợi những kiếp sau vậy…”

Lại dặn kĩ Minh Tuệ, rằng sau này, đợi tới lúc Nhất Bách qua đời, hãy đem lá bùa dán vào lọ đựng tro cốt của y rồi thả xuống giếng Quỷ. Nếu duyên nghiệp những đời sau của con cháu làng Xoài mà khá, thì y sẽ chịu nằm yên dưới đó đủ 500 năm. Còn không thì chưa biết sẽ thế nào…

Câu chuyện trên xảy ra không biết đã mấy trăm năm. Cái giếng Quỷ thì vẫn còn nguyên đó, nhưng làng Xoài thì người nhớ người quên… Mãi tới gần đây, làng Xoài bỗng thay da đổi thịt, từ 1 làng quê êm ả, hiền lành, bỗng chốc vụt trở mình, biến thành khu đô thị, đất đai lên giá từng ngày… Một chiếc máy xúc cỡ lớn, một hôm đào đất ngay chỗ có giếng Quỷ, bất ngờ đào được 1 chiếc lọ gốm, trên miệng có dán 1 lá bùa. Chủ đất vốn là 1 đại gia, song không biết lá bùa có viết chữ gì, bèn tiện tay lột ra…

Tiếng mõ trong chùa lại vang lên đều đều làm tướng Hanh giật mình tỉnh dậy, thấy mình vẫn đang nằm úp mặt xuống đất. Toàn bộ câu chuyện vừa kể ở trên lập tức biến mất. Trong lòng bàng hoàng, lẫn lộn nhiều cảm xúc dữ dội. Té ra ngài vừa trải qua 1 giấc mơ, lại như vừa được chứng kiến một bộ phim, lại như vừa trở về quá khứ… Cố gắng nhớ lại những hình ảnh đã nhìn thấy trong giấc mơ, viên tướng bỗng cảm thấy rùng mình, ớn lạnh suốt toàn thân. Những câu hỏi cứ quay cuồng, rùng rợn:

Lương Nhất Bách sao nom giống như mình hồi trẻ?

Sao sư Quyết lại nhang nhác sư Huệ?

Sao chú tiểu Minh Tuệ lại trông giống Thanh Lương?

Ngay đầu xuân năm sau, một hôm, sư Huệ bỗng bảo chú tiểu Thanh Lương:

“Ngày mai, con hãy quét dọn chùa cho sạch sẽ, có người tới quy y đấy…”

Đúng giờ ngọ hôm sau, quả nhiên có mấy người ăn mặc sang trọng, mang theo xôi, oản, hoa quả, đèn, nến… đưa 1 người tới chùa xin quy y Tam Bảo. Người ấy chẳng phải ai xa lạ, chính là… tướng Hanh.

Tướng Hanh đã quy y với sư Huệ, liền đem phần lớn gia sản cúng dường để tôn tạo chùa Phúc Lâm. Chẳng bao lâu sau, Phúc Lâm trở thành một ngôi chùa lớn, khang trang, đủ chỗ cho hàng trăm người tu hành. Khách thập phương hàng năm lũ lượt kéo tới lễ Phật, vãn cảnh… Khi sư Huệ viên tịch, Sư Hanh thay làm trụ trì. Về sau, sư Hanh quả nhiên đắc được thánh quả. Lúc ngài viên tịch, kết thúc lễ trà tỳ thu được tới mấy hũ xá lợi.

Phạm Lưu Vũ

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s