Cái “ngã “(cái tôi) trong văn học trung đại-Trần Mạnh Hảo

Trao đổi văn học

logo Văn học

 

BÀN TIẾP VỀ “CÁI TÔI” TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM.

Trần Mạnh Hảo1

Trần Mạnh Hảo.

Hiện nay, quan niệm văn học cổ Việt Nam từ ca dao, tục ngữ qua thơ văn Lý Trần, Lê, Nguyễn cho tới năm 1932 tất thảy đều phi ngã, đều thiếu vắng “cái tôi” cá nhân, đã, đang được dạy trong môn văn trên đại học và bậc phổ thông. Chúng tôi từng viết một bài báo khá dài mang tên “Có thật nền văn học cổ Việt Nam mang tính phi ngã ?” (in trên báo “Người Hà Nội” số 42, ngày 26-10-1996) để chỉ ra chỗ chưa ổn của quan niệm trên, song dường như chưa được các vị thức giả lưu tâm chỉ giáo. Nay, chúng tôi muốn phát triển và phân tích sâu hơn cơ sở triết học và quan điểm thẩm mỹ tạo nên tính bản ngã, tức “cái tôi” trong văn học cổ phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, đồng thời bước đầu tìm hiểu về sự khác nhau giữa quan niệm “cái tôi” phương Đông và “cái tôi” phương Tây, rất mong được các nhà lý luận nghiên cứu và phê bình văn học góp tiếng nói về vấn đề rất thiết cốt này của văn học.

Thực ra, khi những con người đầu tiên xuất hiện ý thức, nó đã kinh ngạc ngó vào bản thân mình đồng thời ngó ra vũ trụ bao la. “Cái tôi” về một phương diện nào đó đã manh nha xuất hiện . Con người từ thuở sơ khai đã biết suy tư về tồn tại của mình và thế giới, băn khoăn đi tìm căn nguyên rằng tôi là ai, tôi đến đây làm gì và tôi đi về đâu ? Do vậy, ngay từ buổi bình minh của lịch sử, trước khi văn minh Hi Lạp xuất hiện, những cư dân vùng Lưỡng Hà, cư dân Ai Cập cổ đại đã phần nào có ý thức về “cái tôi” như là một mảnh vỡ của vũ trụ, một hóa thân của thần linh.

Triết học phương Tây trước và sau Socrate cho đến Descartes nhìn chung là một nền triết học mang xu thế phóng thể, nghiêng về vũ trụ quan, ưu tiên hướng ngoại, ít quan tâm đến chiều sâu bản thể con người. Chỉ từ Descartes, qua triết học thời ánh sáng, con người trong ý niệm phương Tây mới tìm cách giải phóng mình khỏi sự vong thân triết học, tạo tiền đề cho “cái tôi” trong văn học xuất hiện cùng việc phá ngục Bastille và trào lưu giải phóng của dòng văn học lãng mạn.

Homer1

Tuy nhiên, những trường ca, anh hùng ca vĩ đại của Homère cổ đại, dù núp dưới vỏ bọc thần thoại, bao giờ cũng là khát vọng vượt qua giới hạn “cái tôi” để hòa vào cái “ngoài tôi” – cái bản thể vũ trụ. Trong kinh Veda của Ấn Độ và Kinh Thi của Trung Quốc, “cái tôi” xuất hiện như một nền tảng của tính nhân bản, của niềm tôn vinh mọi vui buồn sướng khổ của từng con người và từng tập đoàn người, dù con người kia đôi khi còn sống chung với thần linh, đặng khẳng định vẻ đẹp, nghị lực, sức mạnh của con người trên mặt đất. Người Trung Hoa cổ đại đã đẩy “cái tôi” lên ngang hàng trời đất trong một thế chân vạc : Thiên – Địa-Nhân. Các nhà triết học cổ đại hàng đầu Trung Hoa từ Lão Tử, Khổng Tử, Dương Chu, Mặc Tử, Mạnh Tử, Trang Tử qua Hán nho, Tống nho… đều hết sức quan tâm đến điều cốt lõi của triết học là Tha và Ngã, Ngã và Thiên, Ngã và Địa.

Ở phương Tây, sau khi đế quốc La Mã để gần ba trăm năm cấm đạo Thiên Chúa giáo, cuối cùng vua Conxtantin đã trở lại đạo và biến đạo này thành quốc giáo. Từ đó, hình thành nền thần học của các giáo phụ coi “triết học là đầy tớ của thần học”, với hai cây trụ cột là Augustin và Thomas D’ aquin. Triết học kinh viện nhà thờ dần dà phủ nhận “cái tôi”, một biểu trưng của tính nhân bản thời đại hoàng kim Hy-La để tôn vinh Thiên Chúa, coi con người – “cái tôi” đồng nghĩa với tội lỗi như một câu châm ngôn trong kinh “Tin Kính ” : “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”. Con người sinh ra đã mắc tội tổ tông truyền. Nó bị coi là vong thân, là kẻ bị nguyền rủa, kẻ bị kết án, luôn lấy sự sám hối ăn năn tội làm lẽ sống, lúc nào cũng bị phán xét, bị ra tòa khi sống và cả khi chết. Dưới bóng giáo đường và bóng lâu đài của các lãnh chúa, châu Âu dường đánh mất bản thân mình, như quên đi thời văn minh nhân bản Hi-La cổ đại, chìm đắm trong sợ hãi địa ngục, hóa thành bầy chiên được chăn dắt dưới ánh lửa hỏa thiêu của những tòa án dị giáo man rợ. Đó là bóng đêm thời trung cổ (moyen-âge) thời kỳ thiếu vắng tự do tư tưởng kéo dài từ năm 395 sau công nguyên, năm đế quốc La Mã sụp đổ đến năm 1453, năm quân Thổ Nhĩ Kỳ chiếm thành Constantinople.

Hơn 1000 năm trung cổ, phạm trù “cái tôi” hầu như biến mất trong triết học và văn học châu Âu vì sự độc tôn, độc đoán, độc tài của nhà thờ Thiên Chúa giáo. Nếu châu Âu thời trung cổ thiếu vắng tự do tư tưởng, triệt phá mọi quan niệm triết học và khoa học khác với quan niệm Cơ Đốc thì văn minh phương Đông ngược lại, khuyến khích tự do tư tưởng, tôn trọng tam giáo đồng nguyên. Con người trong văn hóa phương Đông vẫn là trung tâm của các nhà tư tưởng, là mục đích của những suy tư triết học chứ không bị triệt tiêu như bên phương Tây trung cổ. Suốt hơn 1000 năm trung cổ, nếu châu Âu gần như thiếu vắng “cái tôi ” trong triết học và văn học, thậm chí thành tựu văn học hầu như không có gì thì ngược lại, văn học Trung Quốc kể từ Đào Tiềm cuối đời Tấn, qua Tùy, Đường, Tống, Nguyên, đầu Minh chính là thời kỳ nở rộ nhất, hay nhất với cảm hứng “cái tôi” thấm đẫm vần điệu thi ca.

Người ta đã khá sai lầm khi đem nội hàm của khái niệm trung cổ phương Tây áp đặt lên văn hóa phương Đông. Do vậy, việc cho rằng văn học trung đại phương Đông thiếu vắng “cái tôi” là một áp đặt hoàn toàn thiếu cơ sở khoa học.
Nhờ phong trào văn nghệ Phục hưng (Re-naissance) thế kỷ thứ XV-XVI, châu Âu ngơ ngác bừng tỉnh khỏi bóng đêm trung cổ, quay về tìm lại tinh thần nhân văn Hy-La, ý thức được việc cần phải giải phóng mình ra khỏi bầy đàn, vươn lên khát vọng tự do cá nhân, thoát khỏi sự đàn áp tôn giáo. “Cái tôi” có cơ được thể hiện trong văn học dưới những hình thức khác nhau với thuở ban đầu nao nức của Dante, Shakespeare, Cervantes, Rabelais… Nhưng rồi chủ nghĩa cổ điển xuất hiện với văn chương cung đình, với những ước lệ, quy tắc khắt khe nghiêng về luân lý, thuyết giảng khô khan, duy lý, thiếu tình cảm cá nhân, xa lánh dần tinh thần khai phóng rạo rực thời phục hưng. Do vậy, nền văn học cổ điển phương Tây là một nền văn học mang tính phi ngã.

Chỉ khi chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện cùng với Cách Mạng Pháp, văn học phương Tây mới trở về với chủ thể “cái tôi” một cách đích thực. Rất tiếc, một số nhà lý luận nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam coi phương Tây là trung tâm, lấy thước đo phương Tây để đo đạc dòng văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945.
Họ coi dòng văn học này tương ứng với chủ nghĩa lãng mạn xuất hiện bên phương Tây thế kỷ XVIII, rồi cho nền văn học trước thơ mới và Tự lực văn đoàn thảy đều mang nội hàm của chủ nghĩa cổ điển phương Tây (!) Thậm chí họ còn dồn ngót nghìn năm văn học ông cha vào cái rọ của phương thức văn học trung cổ phương Tây, để gán bừa cho chúng nhãn hiệu phi ngã, thiếu vắng “cái tôi” cá nhân. Rồi áp đặt quan niệm chưa chuẩn này vào việc giảng dạy văn học, vào nghiên cứu sinh văn học và các công trình khác. Trong quan niệm về văn học cổ, các nhà nghiên cứu lý luận Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản về cơ bản, hầu như không “phi ngã hóa” văn học ông cha xưa của họ như quan niệm của ta hiện nay.

“Cái tôi” trong quan niệm triết học và mỹ học của người phương Đông hầu như khác hẳn với “cái tôi” phương Tây. Người phương Tây tuyệt đối hóa “cái tôi”, phân biệt “cái tôi-cá nhân” và “cái tôi- xã hội”. Họ quan niệm rằng “con người phổ quát – ta” hoàn toàn chưa phải là “con người cá nhân – tôi”. Thậm chí sau này trường phái triết học hiện sinh còn tuyệt đối hóa cái tôi cá nhân tới mức không bao giờ chấp nhận cái ngoài tôi với những định đề kỳ lạ rằng, tự do của tôi là nô lệ kẻ khác và ngược lại, hoặc “địa ngục là tha nhân”. Nó chỉ chấp nhận Ngã mà chống lại Tha. Quan niệm về “cái tôi” phương Đông khác hẳn vì nó hài hòa giữa Ngã và Tha, tôi vừa tồn tại trong tôi, vừa ở trong cái ngoài tôi và ngược lại. Con người chỉ thực sự là con người, là hiện hữu tôi nếu tôi đặt tôi bên cạnh tha nhân, nếu tôi đặt tôi trong những mối quan hệ sống còn với kẻ khác và với môi trường thiên nhiên như Marx nói : “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Người phương Đông không bao giờ tách cá nhân ra khỏi gia đình, xã hội, thậm chí không bao giờ tách cá nhân con người ra khỏi trời đất trong mối tương quan : thiên, địa, nhân. Cho nên “cái tôi” của phương Đông là một “cái tôi kép”, vừa là tôi, vừa là ta, vừa là “tôi cá nhân”, vừa là “tôi xã hội”, không phải là “cái tôi” đơn lẻ, cái tôi tuyệt đối phi xã hội, phi quan hệ như phương Tây quan niệm.

Chính vì những lẽ trên, nên văn học phương Đông từ khởi thuỷ đã là nền văn học đầy tính bản ngã vì nó là nền văn học sinh ra từ con người, vì con người. Mệnh đề “Văn dĩ tải đạo” của Khổng Tử cần phải hiểu thông thoáng hơn, đa ngữ nghĩa hơn, chứ “Đạo” đây không chỉ là đạo lý mà còn bao hàm cả Chân Thiện Mỹ. Chúng tôi xin lấy vài ba thí dụ trong ca dao Việt Nam như : “Chàng ơi phụ thiếp làm chi / Thiếp là cơm nguôïi đỡ khi đói lòng”, thì nhân vật “thiếp” kia không chỉ là một “con người phổ quát” mà còn là một ” con người cá nhân”, con người cụ thể đầy thân phận với đủ “cái tôi” tự ý thức. Hai câu ca dao khác : “Chính chuyên chết cũng ra ma / Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng” hoặc “Lẳng lơ chết cũng không mòn / Chính chuyên cũng chẳng sơn son mà thờ” là những câu ca dao phản kháng, đòi giải phóng, đòi quyền sống, quyền tự do yêu đương, quyền tự do tìm lạc thú, quyền làm người của phụ nữ trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ .

Thơ ca bác học Việt Nam khởi từ Lý-Trần qua Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát tới Tú Xương, Nguyễn Khuyến… bị ai đó dùng nội hàm văn học trung đại phương Tây để phi ngã hóa. Khi Dương Không Lộ thời Lý viết bài thơ tứ tuyệt “Ngôn hoài” là viết trong cảm hứng tuyệt vời bản ngã, đẩy cái tôi cá nhân lên chót vót đỉnh thiền với hai câu thơ cuối hay đến kinh ngạc như sau : “Hữu thì trực thượng cô phong đỉnh / Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư ” (Gặp dịp ta sẽ trèo thẳng lên ngọn núi cô độc cao ngất / Hét lên một tiếng hét dài làm lạnh toát cả càn khôn). Qua bài thơ thần diệu của Không Lộ thiền sư, chúng ta biết thêm rằng tiền nhân đã không chỉ lặn vào sâu thẳm nội tâm bản thể mình để đi tìm “cái tôi”, mà còn hướng ra thái hư, thám hiểm vô biên để tìm kiếm bản ngã ngoài mình nữa.

Thơ chữ Hán và nhất là “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi quả là đại kiệt tác trong văn học Việt Nam. “Quốc âm thi tập” chính là bài ca tuyệt mỹ của tính bản ngã, của “cái tôi” thân phận Nguyễn Trãi hóa thân vào cuộc đời và tạo vật, là tấm lòng đau đáu, cô đơn của hồn thơ thiên tuế “Đêm nguyệt đưa xuân một nguyệt hay”. Người ta dùng hệ quy chiếu phương Tây để đọc cổ nhân Việt Nam nên không thể tiếp nhận được tinh thần bản ngã của hai câu thơ hay vào loại nhất trong “Quốc âm thi tập” : “Nguyệt xuyên há dễ thấu lòng trúc / Nước chảy âu khôn xiết bóng non”. Chỉ thấy ánh trăng và cây trúc, nước chảy và bóng núi, nào thấy “cái tôi” ở đâu ? Không, “cái tôi” đó nằm giữa hồn thơ, hồn người trong tận cùng gan ruột câu thơ và bàng bạc cả trong trời đất. Trăng sáng chiếm lĩnh cả vũ trụ, đâu đâu cũng phủ lên, trùm lên được mà sao chỉ có lòng trúc, ruột cây trúc là ánh trăng không thể soi thấu ? Nguyễn Trãi giấu hồn mình trong “lòng trúc thi ca” khiến vầng trăng thời đại không thể nào tiếp cận ; cũng như ông cha ta thường giấu “cái tôi” trong thơ ngoài tạo vật với thi pháp “thi tại ngôn ngoại”. “Nước chảy đá mòn” nhưng với Nguyễn Trãi, nước chảy mãi vẫn không mòn được bóng núi. Bóng núi in xuống dòng sông nhẹ như không mà nước muôn đời chảy mãi vẫn không đẩy được, trôi được bóng núi – bóng thi ca kia. Câu thơ trên chỉ mượn trăng, mượn trúc, mượn bóng núi in trên nước chảy mà tỏ nỗi lòng nghìn thu Nguyễn Trãi với những suy tư sâu sắc tới vô cùng về thân phận làm người, sao lại bảo chúng thiếu vắng “cái tôi” cá nhân ?

“Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm là khúc ngâm đoạn trường của “cái tôi” cá nhân người chinh phụ trải nỗi đau, trải niềm phản kháng, trải tiếng thét gào bản thể từ khuê phòng tới tận chiến trường đẫm máu. “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương… thảy đều là tiếng kêu thương đòi quyền được thể hiện “cái tôi” cá nhân, đòi quyền sống, quyền làm người của người đàn bà trong xã hội phong kiến. Nếu phủ nhận tính bản ngã trong thơ ca cổ dân tộc, cầm bằng như cố tình không công nhận tính nhân bản và tính nghệ thuật của những thiên tài thơ bậc nhất Việt Nam vậy ! Chúng tôi xin mượn lời nhà phê bình văn học kiệt xuất Viên Mai đời Thanh trong “Tùy viên thi thoại” bàn rất hay về “cái tôi” trong thơ làm lời kết : “Làm người thì không nên có cái tôi, có cái tôi thì hay mắc bệnh kiêu căng cậy tài. Cho nên Khổng Tử nói “không cố chấp”, “không chỉ cho mình là đúng” vậy. Nhưng làm thơ thì không thể không có cái tôi. Không có cái tôi thì dễ mắc cái tệ cóp nhặt phô diễn…” (Lý luận văn học, nghệ thuật cổ điển Trung Quốc – Khâu Chấn Thanh – NXB GD 1994, tr.133).

Sài Gòn 18-3-1999.
(Đã in trên “Kiến thức ngày nay” số 10.04.1999 và in
trên “Văn nghệ” số 48 ngày 27.11.1999)
Trần Mạnh Hảo

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.