Văn học trung đại VN là phi ngã ?-Trần Mạnh Hảo

Thảo luận văn học

logo sách

Có thật là Văn học trung đại Việt Nam mang tính phi ngã?

Trần Mạnh Hảo1

Trần Mạnh Hảo.

bé đọc sách

Trong cuốn “Lý luận văn học – vấn đề và suy nghĩ” trang 213, NXB Giáo Dục 1995, PTS Huỳnh Như Phương, khi đề cao tính bản ngã của thơ mới 1932-1945, đã viết : “Đó là quan niệm nghệ thuật hướng tới sự phát huy bản ngã, đối lập với tính chất phi ngã của văn học thời phong kiến”. Như vậy, tác giả Huỳnh Như Phương cho rằng chín thế kỷ văn học viết của cha ông từ Lý Trần đến hết thế kỷ thứ XIX, cùng hàng mấy chục thế kỷ hình thành dòng văn học dân gian Việt Nam, thảy đều thiếu tính bản ngã (!) Trong sách giáo khoa lớp 11, tập một, NXB Giáo Dục 1995, do Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học T.P. Hồ Chí Minh soạn, trang 95, G.S. Nguyễn Đăng Mạnh khi đề cao tính bản ngã của thơ lãng mạn 1932-1945, cũng cho rằng văn học của cha ông ta, tức văn học thời phong kiến thảy đều mang tính phi ngã, đã viết : “Được giải phóng khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ có tính phi ngã…”. Cùng ở sách giáo khoa trên, trang 80, Nguyễn Đăng Mạnh nói rõ hơn quan điểm của mình : “Quá trình hiện đại hóa thơ ca thực chất là sự giải phóng cái tôi cá nhân cá thể ra khỏi hệ thống ước lệ khắt khe và có tính phi ngã của thơ ca thời cổ phong kiến”.

Như vậy, qua sách giáo khoa và giáo trình được giảng dạy trong nhà trường, do hai tác giả trên soạn như vừa dẫn, chúng ta thấy xuất hiện một quan điểm vô cùng hệ trọng được giảng dạy ở bậc phổ thông và đại học khá nhiều năm là : chỉ đến thơ mới 1932-1945, nền văn học Việt Nam mới mang tính bản ngã. Còn “văn học thời phong kiến”, nghĩa là toàn bộ di sản văn học to lớn của cha ông, bao gồm văn học truyền miệng và văn học viết, thảy đều mang tính phi ngã (!) Chúng tôi sững sờ, vô cùng kinh ngạc về những kết luận chính thống được đưa ra giảng dạy cho học sinh và sinh viên như ở trên vừa dẫn. Ôi, lẽ nào, văn chương của cổ tích, ca dao, của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương… từng là niềm tự hào, là tâm thức của dân tộc lại không có tính bản ngã ?

KHÔNG CÓ NGÃ LÀM CHỦ THỂ THÌ KHÔNG CÓ KHOA HỌC, NGHỆ THUẬT VÀ LUÂN LÝ.

Nhân tính chỉ xuất hiện khi con người ý thức về bản thân mình và thế giới. Khi có ý thức, con người chợt phát hiện ra cái Ngã (ego) của mình. Bản năng con người hay cái (id) thúc giục phải thỏa mãn ngay những điều nó muốn. Bản ngã tìm cách thỏa mãn những nhu cầu đó mà không tạo ra sự rắc rối, còn siêu ngã (superego) hay lương tâm thì đặt vấn đề : điều ta muốn có đúng không, có hợp lý không ? Không có cái Ngã, làm sao có cái Nhân ? Không có Ngã làm chủ thể thì làm sao có triết học ?

Ngay cả những người theo chủ nghĩa khắc kỷ đi chăng nữa, cũng không xóa nổi cái Ngã của mình. Con người sống tất phải có ham muốn, có buồn vui, có hi vọng, tuyệt vọng, có đau khổ, có cô đơn, lo âu, dằn vặt và ân hận. Có người cho triết học Khổng Tử mang tính phi ngã, vì nó dẹp bỏ con người cá nhân, chỉ chú ý đến con người luân lý và xã hội (!) Thực ra, một số môn sinh của Khổng Tử sau này tuyệt đối hóa con người luân lý và xã hội, đến nỗi lờ đi cái Ngã. Nhưng cái Ngã vẫn có một chút chỗ đứng trong triết học Khổng Mạnh. Khổng Tử chú trọng hai chữ Nhân và Danh. Cái Nhân ấy vừa là con người bản ngã phải tu thân, vừa là con người của gia đình, xã hội phải chính Danh quân tử.

Triết học cổ Trung Hoa rất chú ý tính bản ngã. Đổng Trọng Thư thời Tây Hán viết : “Đầu mối sách Xuân Thu là Tha và Ngã, người với mình. Cái dùng để điều lý Tha với Ngã là Nhân”. Sách Lã Thị Xuân Thu viết : “Kim ngô sinh chi vị ngã hữu” (Nay đời tôi là của tôi). Lão Tử đồng nhất bản ngã với tự nhiên : “Bách tính giai vị ngã tự nhiên” (Trăm họ đều cho ta là tự nhiên).

Trang Tử rất đề cao bản Ngã trong cái lẽ nhất nguyên : “Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất” (Trời đất với ta cùng sống, vạn vật với ta là một thể). Mạnh Tử, một học phái quan trọng vào bậc nhất của Nho gia rất đề cao tính bản ngã : “Vạn vật giai bị ư ngã, phần thân nhi thành lạc mạc đại yên” (Vạn vật đều đủ ở trong ta, quay về mình mà thật với mình thì không gì vui thích hơn vậy). Trình Y Xuyên, một nhà nho danh tiếng từng đề cao bản ngã : “Nhất nhân chi tâm tức thiên địa chi tâm” (Tâm hồn của một người là tâm hồn của trời đất”. Thậm chí triết học cổ Trung Hoa còn có một học phái tuyệt đối hóa tính bản ngã. Đấy là học thuyết vị ngã, tồn ngã của Dương Chu. Mạnh Tử từng nói về Dương Chu : “Dương tử thủ vị ngã”. Dương Chu nói : “Trí tri sở hữu, tồn ngã vi quý” (Cái chỗ quý của trí thì tồn ngã là quý). Thực ra thuyết quy ngã (pour soi) của Sartre mấy nghìn năm sau này đều đã có bởi tính hiện sinh của Dương Chu : “Thả thú đương sinh, hề hoàng tử hậu” (Sống trong hiện sinh, lo nghĩ về sau lúc chết làm gì).

Đúng là trước cách mạng tư sản Pháp 1789 mấy nghìn năm, Dương Chu đã chủ trương giải phóng cá nhân, qua lời của Quản Bá Di : “Tứ chi nhi dĩ, vật ủng, vật thoát” (Buông thả tự do, không thúc đẩy, không cản trở)… Học thuyết Lão Trang thực ra cũng là học thuyết vị ngã được cách tân thêm bởi khái niệm Vô Vi, đồng nhất con người với tự nhiên, chỉ chú ý đến con người cá nhân mà xóa bỏ con người xã hội. Còn có thể lấy hàng nghìn dẫn chứng về tính bản ngã trong triết học và mỹ học Trung Hoa cổ đại, từng ảnh hưởng rất sâu sắc đến văn học nghệ thuật Việt Nam thời phong kiến. Chỉ có một nền triết học phi ngã mới tạo ra một nền văn học phi ngã.

Cùng với triết học Trung Hoa, triết học Ấn Độ đã ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng và nghệ thuật Việt Nam. Chúng ta thử sơ khởi tìm hiểu xem triết học tâm linh Ấn Độ phi ngã hay bản ngã ? Khởi thủy của văn minh Ấn Độ là bộ kinh Veda. Có thể nói, kinh Veda là bài ca về Thần Ngã (purusha), một bài ca của nghệ thuật siêu hóa cá nhân. Khẩu hiệu của triết học Ấn Độ thể hiện trong lời kinh Upanisad sau : “Tat Tvam Asi” (Cái kia là mày). Cái kia là đại Ngã (Brahman), là linh hồn, là tuyệt đối vũ trụ. Mày là tâm hồn cá nhân, là bản ngã (Atman). Nghĩa đen của gốc từ Atman nghĩa là hơi thở hay bản tính của sự sống. Quan niệm về tiểu Ngã (Atman) và đại Ngã (Brahman) của Veda có phần siêu hình hơn quan niệm của triết học duy lý phái Kant (như Hegel, Fichte, Shelling) về bản ngã hiện tượng – thường nghiệm : moi empirique (tiểu Ngã) và bản ngã siêu nghiệm : moi transcendantal (đại Ngã). Atman và Brahman tuy hai mà một, tuy một mà hai, trong cá nhân có vũ trụ và ngược lại. Ngoài cái Ngã tâm linh trên, trong kinh Upanisad cũng chỉ ra khái niệm cá nhân tính : Ngã theo tiếng sanskrit là Pudgala, theo tiếng Pali là Puggala. Thừa hưởng, thay đổi, cách tân một số truyền thống triết học Veda và Upanisad, Phật giáo chưa bao giờ là một triết học phi ngã (non – moi) như một số người lầm tưởng.

Phật không phủ nhận hoàn toàn cái Ngã. Ngài chỉ phủ nhận cái Ngã Atman bất di bất dịch, tuyệt đối tĩnh mà Upanisad đồng nhất với linh hồn vũ trụ Brahman. Phật nhìn cái Ngã trên quan điểm sinh thành, biến động. Mặc dù Phật lấy vô Ngã (Anâtman) làm nhân sinh quan, phải diệt trừ Ngã kiến, nhưng trong hai cái Ngã, Ngài trừ khử một cái Tôi giả tạo và giữ lại cái Tôi chân thật gọi là Chân Ngã. Phật quan niệm không có Ngã trường cửu, Ta bây giờ là Ta trước kia, vừa không phải là ta trước kia. Hành trình của Phật đi từ Ngã tái sinh, qua Ngã đau khổ, chạm Ngã Giải thoát, tới Ngã Niết Bàn, tức là Vô Ngã hay tịnh diệt. Như vậy, triết học Phật giáo nói cho cùng cũng vẫn là một triết học mang tính Bản Ngã (ego). Phật giáo cùng với triết học Khổng Mạnh, Lão Trang… đã ảnh hưởng rất to lớn đến tư tưởng và văn học nghệ thuật của ông cha ta hàng nghìn năm trước. Do vậy, việc nhắm mắt cho rằng nền văn học dân tộc trong qúa khứ, tức trong thời đại phong kiến mang tính phi ngã của các tác giả sách giáo khoa trên, là một việc làm nhằm tách văn học cổ Việt Nam ra khỏi những nền tảng triết học sinh thành nên nó.

KHÔNG NÊN LẤY THƯỚC CỦA TÂY ĐO VĂN HỌC TA.

bà đọc truyện cho cháu

Khi tác giả Nguyễn Đăng Mạnh và Huỳnh Như Phương cho rằng văn học thời phong kiến ( mà các ông gọi là “trung đại” ( trung cổ) theo quan niệm đặc thù phương Tây) của Việt Nam thảy đều phi Ngã, các ông dựa vào cơ sở, vào thước đo nào vậy ? Thưa rằng, các ông dựa vào thước đo của phương Tây để đo văn học Việt Nam từ trước khi có thơ mới và Tự Lực văn đoàn. Văn học phương Tây theo quá trình phát triển hàng dọc, được chia ra thành từng giai đoạn như sau : Cổ đại, Trung cổ, Phục hưng, tiếp theo là các giai đoạn, các khuynh hướng hay chủ nghĩa : Cổ điển (Classicisme), Lãng mạn (Romantisme), Tượng trưng (Symbolisme), Siêu thực (Sur – réalisme) và Hiện sinh (Existentialisme). Khái niệm văn học phi ngã (non – moi) là khái niệm của chủ nghĩa Lãng mạn, dùng để chỉ tính chất thiếu vắng các tình cảm cá nhân, không có chủ thể cái Tôi của chủ nghĩa Cổ điển. Các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh và Huỳnh Như Phương tưởng là trào lưu thơ lãng mạn Việt Nam 1932-1945 là chủ nghĩa Lãng mạn và văn học trước thơ mới, nghĩa là văn học thời phong kiến thuộc về chủ nghĩa cổ điển. Nhầm to.

Thơ Lãng mạn Việt Nam 1932-1945 chỉ là một trào lưu, không hề là chủ nghĩa Lãng mạn như phương Tây.
Còn nền văn học qúa khứ của ông cha, chúng ta quen gọi là văn học cổ điển, nhằm chỉ nền văn học từ thế kỷ thứ XIX trở về trước, là nền văn học phát triển rực rỡ với nhiều tác phẩm đạt đến trình độ mẫu mực. Các nền văn học phương Đông như Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam hoàn toàn không phát triển theo các giai đoạn như phương Tây vừa kể trên. Nghĩa là, nó không hề có các thứ chủ nghĩa như chủ nghĩa Cổ điển, chủ nghĩa Lãng mạn, chủ nghĩa Tượng trưng, chủ nghĩa Siêu thực và chủ nghĩa Hiện sinh…như một phong cách nghệ thuật, một khuynh hướng mỹ học kiểu phương Tây. Do vậy, lấy thước đo của chủ nghĩa Lãng mạn (Romantisme) để đo nền văn học thời phong kiến của ta, rồi hô hoán lên là nó mang tính phi Ngã là một việc làm phi khoa học, một sự áp đặt sống sượng nếu không muốn nói là sai trái.

Chủ nghĩa Cổ điển (Classicisme) ra đời ở phương Tây, chủ yếu là ở Pháp thế kỷ Ánh Sáng thứ XVII, thời vua Louis thứ XIV, lúc triều đình là trung tâm của xã hội. Chủ nghĩa Cổ điển chủ trương một nền văn nghệ luân lý học, cổ xúy loại hình văn ca kịch thuyết giáo theo quy tắc cứng đờ, chặt chẽ, đề cao những giá trị tinh thần, một kiểu văn chương cung đình, trang nghiêm, qúy phái, điều độ, phục tùng quy củ, hợp lý, ước lệ, quy phạm, mực thước, nghĩa là một nền nghệ thuật hàn lâm với ngôn ngữ cầu kỳ, kiểu cách. Nghệ thuật Cổ điển sao nhãng các thực thể của giới hữu hình, các điều kiện thực tế và lịch sử của lẽ sinh tồn, quên các phản ứng về tình cảm cá nhân. Cơ sở triết học của chủ nghĩa Cổ điển là chủ nghĩa Duy lý. Vì thế, nó đề cao vai trò tối thượng của lý trí, gạt bỏ cái gì là phi lý, bỏ qua nỗi đam mê dày vò, quằn quại của con người. Boileau, thi sỹ đồng thời là lý thuyết gia của chủ nghĩa Cổ điển, đã theo nếp của thi sỹ La mã Horace, trong cuốn Art Poétique (Thi pháp) đề ra ba phương châm : – chỉ có sự thật mới đẹp – Thi sỹ phải nhờ lý trí hướng dẫn – Bắt chước cổ nhân. Chủ nghĩa Cổ điển khai thác mẫu mực của Hi Lạp được đúc kết trong cuốn Thi Pháp của Aristote. Ví dụ như Racine nâng cao nghệ thuật bi kịch của Euripide, La Fontaine biến đổi thơ ngụ ngôn của Esope… Mô phỏng nghệ thuật Hi Lạp và Phục Hưng với vẻ đẹp hình thức, cao thượng, chủ nghĩa Cổ điển tuyệt đối hóa vai trò của lý trí, gò bó trong hình thức và thiếu vắng cái Tôi.

Sau tuyên ngôn nhân quyền của Cách Mạng Pháp 1789, chủ nghĩa Lãng mạn (Romantisme) xuất hiện cuối thế kỷ XVIII ở Anh rồi lan sang khắp châu Âu, phát triển rực rỡ ở thế kỷ XIX, để đối lập lại chủ nghĩa Cổ điển. Chateaubriand và bà Stél là hai nhà văn khởi đầu chủ nghĩa Lãng mạn Pháp, phát triển tới đỉnh cao với Lamartine, Musset, Vigny và Hugo… Nếu nghệ thuật Cổ điển đề cao lý trí, thì nghệ thuật Lãng mạn đề cao vai trò của tình cảm, tưởng tượng, ước mơ. Nếu nghệ thuật Cổ điển đề cao con người luân lý, con người mã thượng phong lưu (honnêta – homme), thì nghệ thuật lãng mạn đề cao con người cá nhân, con người bản Ngã. Phá bỏ tính mực thước gò bó của Cổ điển, nghệ thuật Lãng mạn trong nội dung và hình thức là nghệ thuật của tự do, phóng khoáng. Một sự khác nhau căn bản giữa Lãng mạn và Cổ điển là nghệ thuật Lãng mạn không sợ biểu thị cái quái đản, sự đau khổ, sự chết hay sự đê tiện, xấu xa. Với nhu cầu biểu hiện cá tính mãnh liệt, chủ nghĩa Lãng mạn cho nghệ thuật Cổ điển mang tính phi Ngã. Văn học Việt Nam không có khái niệm chủ nghĩa Cổ điển và chủ nghĩa Lãng mạn, chỉ có trào lưu lãng mạn trong thơ mới 1932-1945, nên dùng thước đo của Tây để bảo văn học thời phong kiến của ta mang tính phi Ngã là một sự áp đặt thiếu hiểu biết.
Nền văn học cổ Việt Nam nói riêng cũng như nền văn học cổ Ấn Độ và Trung Hoa nói chung từ khởi thủy, đều có pha trộn các yếu tố lãng mạn, hiện thực, siêu thực, tượng trưng, thậm chí cả yếu tố hiện sinh nữa.

logo nhật ký

Hãy đọc lại hai kiệt tác cổ đại của Ấn Độ là kinh Veda và Kinh Thi của Trung Hoa, chúng ta thấy cổ điển và lãng mạn hòa trộn vào nhau, hiện thực và siêu thực là hai mặt của một thực thể…Xin hãy đọc một đoạn văn nhỏ trong thiên “Tề Vật Luận” của Trang Tử, để thấy rằng triết học và văn học là hình với bóng, cổ điển và lãng mạn pha nhau như ánh trăng pha vào nước, siêu thực với hiện thực là một, tượng trưng mà cũng rất hiện sinh kiểu Dương Chu : “Xưa kia Trang Chu mộng làm con bướm, hớn hở làm con bướm vậy. Tự lấy làm thích chí chăng ? Chẳng còn biết Chu là gì nữa. Tỉnh giấc lại lù lù là Chu, không biết Chu mộng ra con bướm, hay bướm mộng làm Chu ? Chu với bướm tất có sự phân biệt rồi, thế gọi là vật hóa”. Hãy đọc lại bài thơ “Nguyệt hạ độc chước” tuyệt bút của Lý Bạch, một bài thơ tràn ngập tính bản Ngã, để thấy yếu tố cổ điển trong bài thơ cũng là yếu tố lãng mạn, hiện thực một cách siêu thực : “Hoa gian nhất hồ tửu / Độc chước vô tương thân / Cử bôi yêu minh nguyệt / Đối ảnh thành tam nhân / Nguyệt ký bất giải ẩm / Ảnh đồ tùy ngã thân / Tạm bạn nguyệt tương ảnh / Hành lạc tu cập xuân / Ngã ca nguyệt bồi hồi / Ngã vũ ảnh linh loạn / Tỉnh thời đồng giao hoan / Túy hậu các phân tán / Vĩnh kết vô tình du / Tương kỳ mạc vân hán”.

CÓ THẬT NỀN VĂN HỌC CỔ VIỆT NAM MANG TÍNH PHI NGÃ ?

Trước hết, chúng ta hãy xét xem nền văn học dân gian Việt Nam xuất hiện đồng thời với sự hình thành dân tộc phi Ngã hay bản Ngã ? Ví dụ như truyện thần thoại “Sơn tinh Thủy tinh” kể về nguyên nhân tranh đấu của thần Núi và thần Nước là do cơn ghen của tình yêu trai gái sinh ra. Thủy tinh vì đến chậm, đã bị Sơn tinh nhanh chân lấy mất nàng công chúa con vua Hùng. Cơn ghen khủng khiếp của tình trai gái ấy, đến giờ vẫn còn xảy ra bởi những trận lụt lội chết người. Cơn ghen tình của thần thoại kia, ai dám bảo là phi Ngã ? Trong hàng trăm truyện cổ tích, chúng ta thử lấy ba truyện dưới đây để xem chúng phi Ngã hay bản Ngã ? Ví như chàng Chử Đồng Tử kia lấy được công chúa, mặc dù nghèo đến độ không có khố để mặc. Cuộc tình duyên kỳ ngộ do sự đi tắm của công chúa mà lòi ra dưới cát một người đàn ông trần truồng giấu mình, một con người không còn bọc bởi cái vỏ ước lệ gì gì cả, một con người bản thể, bản ngã thuần túy như Chử Đồng Tử và nàng công chúa lúc tắm kia, ai dám bảo là phi ngã ? Lại như truyện “Sự tích trầu cau” thuật lại bi kịch tình yêu, hai anh em Tân và Lang cùng yêu một người con gái. Cái vụ em trai chồng yêu chị dâu kia bản ngã quá đi chứ ?

Lại như truyện chàng Trương Chi xấu ghê gớm mà có tiếng hát tuyệt trần, đã mang lòng yêu nàng Mỵ nương, nhưng chỉ dám giấu mặt vào tiếng hát để tỏ tình, có gì hao hao giống nhân vật Quasimodo của V. Hugo, một nhân vật điển hình của chủ nghĩa lãng mạn rất xấu xa về thể xác, một motif không có trong chủ nghĩa cổ điển. Ai dám bảo chàng Trương Chi của mấy nghìn năm trước và chàng Quasimodo của thế kỷ thứ XIX là phi ngã ? Trong hàng nghìn câu ca dao tuyệt vời làm nên nền tảng tư tưởng và tâm hồn dân tộc, chúng tôi đều thấy thấm đẫm tính bản ngã. Ai dám bảo những câu ca dao : “Chàng ơi phụ thiếp làm chi / Thiếp là cơm nguội đỡ khi đói lòng” hoặc “Lẳng lơ chết cũng ra ma / Chính chuyên chết cũng đem ra ngoài đồng”… là phi ngã ?

Từ thời Lý Trần đến thế kỷ thứ XIX, ngót nghét gần chín trăm năm ông cha chúng ta đã sáng tạo nên một nền văn học viết phải nói là kỳ vĩ, tuyệt vời. Lấy triết học mang tính bản Ngã như vừa nói ở trên làm cơ sở sáng tạo, văn học viết của ông cha chúng ta luôn luôn lấy cái Ngã làm xuất phát điểm, chứ không phải mang tính phi Ngã như các tác giả soạn sách giáo khoa đã dẫn lầm tưởng. Như Marx từng nói “Tư tưởng chính thống của thời đại là tư tưởng của giai cấp thống trị”. Xét trong xã hội phong kiến, tư tưởng trung quân ái quốc là tư tưởng chính thống, vua là tuyệt đối, vua không nhìn thấy số phận cá nhân, dân chúng chẳng qua chỉ là bầy đàn. Nhưng cái nhìn của văn học không phải là cái nhìn của vua, không phải là nhãn quan chính thống, mà là tiếng nói tình cảm và khát vọng của nhân dân, của cá nhân với cá nhân, từ trái tim đến trái tim, từ tri âm đến tri kỷ. Văn học bày tỏ khát vọng, ước mơ, tưởng tượng, hoài niệm, nhớ nhung, phẫn nộ và kêu thương, báo hiệu và dự cảm về số phận con người muốn bứt phá ra khỏi mọi ràng buộc, muốn vượt thoát khỏi giới hạn của thời đại, vươn tới một thế giới tốt đẹp hơn, tự do hơn : “Mai sau dù có bao giờ”.

Chế độ phong kiến không chấp nhận cá nhân, nhưng văn học lại đề cập khát vọng giải phóng cá nhân, đòi quyền làm người, quyền bày tỏ tính bản Ngã của con người. Truyện Kiều của Nguyễn Du, tác phẩm văn học vĩ đại nhất của dân tộc, chính là tiếng kêu thương đòi quyền bản Ngã, đòi giải phóng cá nhân ra khỏi lễ giáo phong kiến, đòi quyền tự do luyến ái và quyền sống của con người. Chỉ cần đọc lại một câu Nguyễn Du tả Thúy Kiều nửa đêm đến với Kim Trọng, để chúng ta thấy tính bản Ngã của tác phẩm tràn đầy như thế nào : “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. Trong xã hội nam nữ thụ thụ bất thân của lễ giáo phong kiến khắt khe, hành động trên của Thúy Kiều chính là tuyên ngôn không lời của cuộc cách mạng giải phóng cá nhân trong văn học cổ nói chung, trong truyện Kiều nói riêng. Với câu thơ trên, qủa là Thúy Kiều đã một mình trong đêm tối, lội qua mấy nghìn năm chế độ phong kiến để đến với bản Ngã của mình, hay đến với thời đại tự do của chúng ta ? Ai dám bảo những câu trong hàng trăm câu Kiều như sau là phi Ngã : “Nhụy đào thà bẻ cho người tình chung” hay “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà / Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”… ? Hàng trăm bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du chính là tiếng vang vọng từ thẳm sâu bản Ngã của một hồn thơ lớn gởi đến chúng ta. Những bài thơ tràn ngập tâm sự cái Tôi trữ tình, cái Tôi tiềm ẩn mà thời đại hầu như không chứa nổi, khiến Nguyễn Du phải quay hỏi hậu thế : “Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ?”.

Nguyễn Du

Bởi vì Nguyễn Du là người cô đơn, bị thời đại khước từ, coi mình có tấc lòng nhưng không biết ngỏ cùng ai “Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ”. Ông tự cho mình là người chịu nỗi oan kỳ lạ của kẻ phong nhã “Phong vận kỳ oan ngã tự cư”, không bè bạn nào biết vì sao ông lại hay sầu mộng như vậy” Tri giao quái ngã sầu đa mộng”. Một con người như thế, làm sao thơ kia lại mang tính phi Ngã như có người ngộ nhận ? Khi khởi nguồn văn học viết của dân tộc, Không Lộ thiền sư trong bài “Ngôn hoài” đã có hai câu thơ tuyệt bút : “Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh / Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư”. Một con người đối diện với trời đất, mong có dịp thuận tiện, sẽ leo lên đỉnh núi, để hét lên một tiếng lạnh hết cả thái hư như thế, con người đó cô đơn đến tận cùng bản thể, đã tự ngó vào thẳm vực bản Ngã của mình vậy. Hãy đọc lại thơ chữ Hán và thơ chữ nôm của Nguyễn Trãi để thấy một tâm hồn lớn, một nhân cách lớn, một bản Ngã an nhiên, tự tại ngay trong lòng nỗi đau đời và u hoài dằng dặc của nhà thơ. Ai dám bảo những câu thơ nôm trích trong “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi sau đây là phi Ngã : “Thế sự trai yêu thiếp mọn / Nhân tình gái nhớ chồng xưa”, “Nghìn thu cam quít ấy là tôi” hay “Ngoài cửa mận đào là khách đỗ / Trong nhà cam quít ấy tôi mình / Ai hay, ai chẳng hay thì chớ / Bui một ta khen ta hữu tình” ? Cũng như câu thơ trên của Nguyễn Trãi “một ta khen ta”, cũng có nghĩa là một tôi phải đối diện, đối thoại với tôi “cam quít ấy là tôi”, là Ngã đấy.
Và hơn bốn trăm năm sau này, vẫn theo truyền thống ta ngó vào ta của Nguyễn Trãi, Bà Huyện Thanh Quan đã vô tình khái quát về khả năng của một nền văn học hướng nội, hướng vào bản Ngã bằng một câu thơ qúa nổi tiếng : “Một mảnh tình riêng ta với ta”. Khi Nguyễn Trãi viết về thú nhàn với núi với trăng” Chẳng cài cửa tiếc non che khuất / Sá để thuyền cho nguyệt chở nhờ” thì Nguyễn Đăng Mạnh và Huỳnh Như Phương cho là phi Ngã. Nhưng khi Hàn Mặc Tử lấy nguyên ý của câu thơ tiền nhân để viết thành hai câu thơ dưới đây thì các tác giả trên lại cho là bản Ngã : “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay” là điều không thể nào hiểu được vậy ? Thế kỷ thứ XVI, Nguyễn Dữ với “Truyền Kỳ mạn lục” đầy chất ly kỳ huyền hoặc, đậm đà chất dân gian Folklore, đã mượn vỏ huyền hoặc để nêu lên khát vọng tự do của con người, trong đó có thú vui xác thịt, trăng hoa.

Ông mô tả khá nhiều chuyện ân ái của con người với tiên, với hồn cây cỏ, thậm chí với mỹ nhân ma. Đó phải chăng là văn học phi Ngã ? Thơ Hồ Xuân Hương là khát vọng chân chính về tình yêu thể xác, về quyền được tự do hưởng lạc thú tình ái của người phụ nữ vốn bị xã hội phong kiến vùi dập, khinh rẻ. Thơ Hồ Xuân Hương là thái độ quyết liệt đạp đổ quy tắc đạo đức phi Ngã của xã hội phong kiến, là bài ca về tính bản Ngã, về vẻ đẹp có phần bạo liệt của tình yêu chăn gối rất chân chính và rất đẹp của con người, là bài ca về tự do, về sự giải phóng nhân tính vậy. Rồi những “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều và “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn- Đoàn Thị Điểm… thảy đều là tiếng kêu thương đòi quyền bản Ngã của người đàn bà bị xã hội phong kiến toan cướp mất. Tú Xương với “Mất ô” : “Sợ khi rày gió mai mưa / Lấy gì đi sớm về trưa với tình” và ca dao với “Ban ngày quan lớn như thần / Ban đêm quan lớn tần mần như ma / Ban ngày quan lớn như cha / Ban đêm quan lớn rầy rà như con”… không là tính bản Ngã, tính tự do cá nhân của con người thì còn là gì nữa ?

Sau khi đã khảng định tính bản Ngã của nền văn học cổ Việt Nam, chúng ta cần phân biệt được phương pháp ước lệ trong nghệ thuật của Việt Nam thời phong kiến khác với phép ước lệ của chủ nghĩa Cổ điển phương Tây thế kỷ XVII. Ước lệ chính là tính quy ước trong biểu hiện nghệ thuật. Nghệ thuật, dù hiện đại đi chăng nữa, đôi khi cũng phải dùng chút ít ước lệ. Ví dụ tuồng của Việt Nam mà phương Tây cho là rất hiện đại, lại chính là nghệ thuật ước lệ đấy. Tính ước lệ trong văn học cổ Việt Nam phần nhiều nằm ở thủ pháp tượng trưng, biểu tượng hoặc ngụ ngôn, cách ngôn, ngoa ngôn…Ví dụ hai câu Kiều dưới đây không phải là ước lệ mà là biểu trưng, mượn cỏ, mượn hoa lê mà tả mùa xuân : “Cỏ non xanh tận chân trời / Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Ước lệ của chủ nghĩa Cổ điển phương Tây thế kỷ XVII mới là ước lệ thứ thiệt. Ví dụ khi văn học Cổ điển Pháp gọi mặt trăng là “Ngọn đuốc của tịnh mịch (le flambeau du silence) hay gọi cái giường là “Giang sơn của mộng thần” (l’empire de Morphée)… một cách quá ư bóng gió, cầu kỳ như vậy mới là ước lệ của chủ nghĩa Cổ điển. Thơ cổ Việt Nam gọi mặt trăng là mặt trăng : “Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt”, “Vầng trăng ai xẻ làm đôi”…, chứ không cầu kỳ rắc rối ước lệ như bên Tây xưa. Nó gọi cái giường là cái giường : “Tú bà vắt nóc lên giường ngồi ngay”, chứ không theo kiểu ước lệ như chủ nghĩa Cổ điển phương Tây : “Tú bà vắt nóc lên” giang sơn của mộng thần “ngồi ngay” vậy.

Việc lầm lẫn coi trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam 1930-1945 tương đương với chủ nghĩa Lãng mạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, và nền văn học cổ của dân tộc tương đương với chủ nghĩa Cổ điển thế kỷ thứ XVII của phương Tây, lấy thước đo của người để đo văn học mình, rồi nhắm mắt cho rằng văn học cổ thời phong kiến của ta, thảy đều mang tính phi Ngã của hai tác giả sách giáo khoa trên là việc làm không thể chấp nhận. Cần phải nhớ rằng, nền văn học trong qúa khứ của ông cha không hề xuất hiện khuynh hướng mỹ học của chủ nghĩa Cổ điển và chủ nghĩa Lãng mạn như phương Tây. Mà các yếu tố trên vốn hòa trộn vào nhau từ khởi nguồn văn học. Như chúng tôi đã phân tích một cách còn giản lược, chúng ta hẳn phải công nhận nền văn học của ông cha qủa là một nền văn học đầy tính bản Ngã. Tính bản Ngã là một trong những nguyên nhân sinh ra tính nhân bản của nền văn học dân tộc vậy. Cho rằng văn học cổ Việt Nam mang tính phi Ngã, khác nào vô tình phủ nhận tính nhân bản của nó. Khi quý vị dạy cho con em chúng ta rằng, nền văn học cổ to lớn của ông cha không có cái Ngã, không có cái cá nhân, một nền văn học “mờ mờ nhân ảnh” thiếu vắng số phận con người, thì thử hỏi, làm sao học sinh có thể yêu mến văn học nước nhà được ?
________________________________________
Trần Mạnh Hảo.

( NGUỒN : cuốn “ VĂN HỌC PHÊ BÌNH NHẬN DIỆN” ( hầu chuyện các giáo sư) của Trần Mạnh Hảo – NXB VĂN HỌC 1999)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.