Bà Thuỵ Khê viết về nhà văn,nhà báo Nguyễn Viện

 tambut1logo nhật ký

 Nguyễn Viện với Rồng và rắn

thụy khê

Thuỵ Khê

nguyen-vien

   Tổ hợp xuất bản miền Ðông Hoa Kỳ cuối năm 2002 đã trình làng một tác phẩm lạ, một tên tuổi mới: Nguyễn Viện, vừa xuất hiện trên văn đàn hải ngoại vài năm gần đây. Tác phẩm Rồng và rắn của Nguyễn Viện hồm 4 tiểu thuyết: Thời của những tiên tri giả, Ðâm sừng vào bóng tối, Người dẫn đường đã tới Rồng và rắn, cũng có thể gọi là bốn truyện vừa. Ðặc biệt bốn truyện này cùng có cấu trúc song song, tức là mỗi truyện kể ít nhất với hai giọng, “quay” bằng hai ống kính khác nhau.


Thời của những tiên tri giả thể hiện dưới ánh mắt và qua giọng nói của một người đàn bà có chồng đi tập kết, đồng thời còn một lăng kính, một giọng nói khác, có lẽ là của một tiên tri -không biết giả hay thật- nhái giọng Thánh kinh hay Sấm trạng, vừa bình, vừa phê, lúc triết lý, lúc bảo ban dạy dỗ, khi an ủi, kêu nài, lúc mỉa mai, châm biếm, nguyền rủa … tuồng như bên ngoài, bên trên cõi đời còn có con mắt của một thứ tiên tri, thứ Sấm trạng, đội lốt Thượng Ðế, vừa phán xét, vừa đe dọa. Những “sấm-kinh” ấy nói gì, đây là một đoạn:

    “Trái đất lăn trên sợi dây treo của lòng tham vọng. Hãy bắn đi, bắn đi. Ðừng lo thiếu đạn vì đạn giải quyết việc làm cho hàng triệu công nhân, vì đạn mang lại sức mạnh cho một dân tộc vĩ đại và niềm tự hào cho nền văn minh nhân loại.” (trang 19)

    Lời sấm  này có thể gẫm ngay vào trận chiến Iracq bây giờ, hoặc cuộc chiến Việt Nam ngày trước, nó mô tả những sắc thái của một “dân tộc vĩ đại” mà lòng tham vọng trở thành căn cứ phát xuất các cuộc oanh tạc con người.
Vẫn giọng kinh ngôn ấy, có lúc kêu gào: “Hãy đứng sau lưng tôi, hỡi đồng bào, tôi cam kết không bỏ chạy. Tôi sẽ bắn tới viên đạn cuối cùng” (trang 17). Ở đây, lời “sấm” đã trở thành lời hứa cuội của kẻ giả hình thượng đế, và ngay sau đó, một siêu thượng đế khác phán xét: “Ðừng tin những gì thằng khùng nói, hãy nhìn những gì thằng khùng làm.” (trang 17)

    Những tiếng “sấm” trên đây, rơi vãi trên dọc đại lộ kinh hoàng Pleiku – Phú Bổn, cuối tháng tư, Cao nguyên, triệt thoái. Một cuộc chạy đua với tử thần, mà đủ loại ma, quỷ, xen lẫn với loài người, trà trộn giọng thánh kinh vang lên, như vừa muốn mô tả cảnh tượng hỗn loạn, lại muốn hăm dọa chúng sinh trước ngày tận thế: “Cơn thịnh nộ của một đấng toàn hảo đang giáng xuống. Trong bóng tối, cả người tỉnh thức và ngủ mê đều bị co giật. Mọi cơn mơ sẽ trở nên trống rỗng vì linh hồn bị tách lìa khỏi thân xác đã không tìm được lối quay về.” (trang 25)
Nhìn sang phía chiến thắng, tiên tri cảnh báo một tương lai “sáng ngời”, đầy phúc lợi và văn minh, hoang tưởng: “Chân trời của chúng ta đang đi tới có kính thiên văn lớn nhất thế giới. Chúng ta sẽ bắt được tín hiệu của mọi hành tinh trong vũ trụ và sẽ làm chủ cả vũ trụ bởi chúng ta là những người bách chiến bách thắng.” (trang 72)

*


Với lối viết này, Nguyễn Viện đã trình bày bối cảnh Ba mươi tháng tư trên hai bình diện: Mặt thực tế kinh hoàng đang thật sự diễn ra và cái gương chiếu hậu trong con mắt của những “tiên tri”. Chiếc gương phân tích và phê bình hiện thực, phanh phui thực chất của mỗi nhân vật thắng cũng như bại, đã tạo dựng nên cái hí trường bi đát, đầy máu và nước mắt này. Ðó là thứ hiện thực được nhìn từ ngoài hiện thực, từ trên hiện thực, bằng con mắt của những người, hay những hồn người đã bước qua sự sống, không còn dính đến hiện thực nữa; họ ở vào giai đoạn “quá độ” của sự sống, cho nên họ ít mu muội hơn những người đang sống. Vì họ đã “thoát” ra ngoài, đã có một khoảng cách đủ xa, đủ cao, để nhìn thấy toàn diện bối cảnh. Trong khi những kẻ đang sống, đang chạy vất vưởng trên đại lộ kinh hoàng, đang bắn người hoặc đang tẩu thoát, những “nhân sinh” ấy chỉ có cái nhìn “cục bộ”, giới hạn bởi nhãn quan hẹp hòi của người trong cuộc. Những lập ngôn, dù là hàm hồ, của những vị “tiên tri giả” có tác dụng làm “sáng mắt” những kẻ đang u mê trầm thảm trong biển khổ chiến tranh: thực tế là gia đình một người đàn bà có chồng đi tập kết.

    Người đàn bà đó có bốn đứa con. Ngày chia tay, người chồng ra Bắc; người đàn bà đó không nỡ để chồng đi một mình, đã “chia” cho chồng một đứa: thằng lớn nhất, 12 tuổi. Sau khi từ giã chồng và con trai, người đàn bà ấy đã “gom ba đứa còn lại, ngủ chung một giường, ủ trong mình và khóc lặng lẽ.” (trang 20). Và như thế người mẹ ấy đã ngậm tăm để sống, để nuôi con và nuôi sự bí mật của đời mình trong suốt hai mươi năm trời. Cho đến ngày 30 tháng tư.

    Ba mươi tháng tư, đối với bà là ngày thiêng liêng đoàn tụ, ngày bà chờ đợi như mục đích cuối của đời mình. Và để đến được ngày lịch sử này, người mẹ ấy đã trải qua nhiều bất hạnh. “Mậu thân 1968, giữa những tiếng pháo của đêm xuân đã lẫn những tiếng súng của cuộc nổi dậy tổng tiến công. Khi những đứa con tôi còn ngơ ngác và sợ hãi thì trong lòng tôi âm thầm hoan hỉ. Tôi vẫn chờ đợi với một nỗi niềm giấu kín, sự chiến thắng từ bên kia núi sẽ mang chồng con tôi về. […] Nhưng những ngày hi vọng ấy tắt sớm và tệ hại hơn, tai vạ chiến tranh đã đổ xuống ngay căn nhà tôi ở, một cây xà đập ngang lưng và tôi nhận lấy thêm một bất hạnh. Tôi trở thành kẻ bại liệt vĩnh viễn.” (trang 16-17)

    Ngồi trên xe lăn, người mẹ già, liệt này theo con, xuyên qua thân cây, xác lá, xác người, di tản từ Pleiku, Phú Bổn trên đại lộ kinh hoàng của súng đạn, máu mê và nước mắt. Trên con lộ đầy tử thi ấy, trong trạng thái nửa mơ, nửa tỉnh, người đàn bà bất hạnh đã mục kích: “Tôi thấy những người bị bỏ lại đã chết và cả những người còn sống thoi thóp. Tôi thấy những giọt nước mắt và nghe những lời kêu gào xé ruột. Một người mẹ vất con lại bên đường với lời cấu xin tha thứ. Ðàn kiến bò lên thân xác đứa bé rúc rỉa. […] Tôi lại co giật. Tôi thấy ở không xa lắm, một người lính đang lả xuống vì kiệt sức. Anh ta chạy một mình. Bỗng nhiên bên cạnh anh ta xuất hiện hai cái bóng mờ. Có lẽ đó là mẹ và em gái anh ta. Hai cái bóng mờ ấy cố nâng đỡ và dìu anh đi tới. Nhưng anh ta vẫn đổ xuống vì anh ta đã kiệt quệ. Cho đến khi hai bóng mờ tan đi cùng với hư ảo của tình yêu thì thân xác anh ta cũng thối rữa và thấm dần vào lòng đất.” (trang 30-31)

    Những hình ảnh vừa thực, vừa ảo, chồng chất lên nhau, trong ký ức của người phụ nữ có chồng đi tập kết trong suốt hai mươi năm, đã tạo nên khí quyển sống của bà: Một cuộc sống vừa đợi chờ, vừa phóng tới trước mặt tìm ngày đoàn tụ, y hệt như lúc này, bà đang di chuyển trên vai hai đứa con gái thay phiên nhau cõng mẹ. Bà đi mà không có chân, bà được bỏ lên xe jeep, xe tăng, lăn đi, trườn tới, để tìm đến ngày hạnh phúc chờ đợi. Bao nhiêu vất vả, nhọc nhằn, máu và nước mắt ấy, chỉ để đổi lấy một ngày trong mộng: ba mươi tháng tư.

    Ba mươi tháng tư có đến, nhưng hạnh phúc thì không. Người chồng đã có vợ con ngoài Bắc, không vào. Chỉ có Lân, đứa con mà bà đã “chia” cho chồng ngày trước, trở về trong đám bộ đội từ Bắc vào Nam. Ngày Lân trở về thì cũng là ngày Châu, đứa em lớn lên trong Nam, bị bắt.
Miền Nam chấp nhận thân phận mới. Châu, sau khi đi cải tạo về, trở nên một người khác, lạnh nhạt với cuộc sống. Cuộc “đổi đời” xẩy ra trên toàn diện, từ ngoại cảnh đến tâm giới của con người. Dường như Nguyễn Viện có tham vọng muốn vẽ lại cả một giai đoạn sống: từ sự ra đi khốn cùng, tất tưởi vượt biên, đến sự trở về, Việt kiều, xúng xính áo mão ngựa xe, quan “Trạng”, đến những toan tính làm ăn, chụp giật, bẩn thỉu… Mỗi cá nhân có một lối hành xử, một tâm sự, một quằn quại, ủ rũ, khát vọng, tuyệt vọng… riêng tư. Ít nhiều, Nguyễn Viện đã viết nên được những hài hước đớn đau ấy.

    Tất nhiên Thời của những tiên tri giả chưa phải là một tác phẩm thành công,  còn có những nhược điểm kỹ thuật như giọng kể của bà mẹ, nhiều lúc không phải là giọng của một người đàn bà đã trải qua những thăng trầm khốn khổ mà lại là giọng của chính tác giả. Những chân dung nhân vật nhiều khi mờ nhạt, tác giả quá chú tâm đến triết lý, nên đôi khi đưa ra những nhận xét triết lý không đúng chỗ, hoặc từ miệng nhân vật hay trong lời trần thuật, làm loãng đối thoại, làm trơ mạch kể. Nếu để triết lý gián tiếp tiềm ẩn trong bối cảnh, trong không khí câu truyện, trong bản chất đối thoại, trong trạng thái lặng chìm, có lẽ thành công hơn là để nhân vật nói những lời triết lý một cách trực tiếp, sôi nổi.

    Mặc dầu với những nhược điểm trên đây, Thời của những tiên tri giả vẫn là một tiểu thuyết đáng đọc, nó xác định một cái nhìn mới, một cái nhìn không giới tuyến về chiến tranh Việt Nam, một cái nhìn trung thực và ân tình giữa những người hai bên giới tuyến.

    Trong Ðâm sừng vào bóng tối, tác giả viết về tình yêu, đam mê và nhục dục. Cả ba gắn bó với nhau, tạo nên một toàn bộ khốc liệt và mù quáng, như con tê giác lao đi, đâm sừng vào bóng tối. Trong ba yếu tố tình yêu, đam mê và nhục dục, dường như đam mê và nhục dục là hai cánh sừng, còn bản thân tê giác mang nặng thể xác của tình yêu.

    “Con tê giác lầm lũi phóng đi trong bóng tối. Những chiếc lá cọ quẹt vào người như một bàn tay mơn trớn. Cảm giác cần được âu yếm, là một cơn khát trong sa mạc, bởi thế con tê giác vẫn phóng như điên cuồng trong bóng tối để cho mọi thứ cây lá cào vào lớp da dày…”(trang 138)

    Ðâm sừng vào bóng tối là bản giao hưởng tình yêu giữa một người đàn ông đứng tuổi và một người con gái đáng tuổi con mình, bản nhạc có thể gây sốc cho người nghe bởi tính chất sống sượng của nó, nhưng tác phẩm đã nói lên được khía cạnh mâu thuẫn của đam mê: đạo đức lẫn vô luân, thiên đường lẫn địa ngục, u mê lẫn sáng suốt, tuyệt vời lẫn tuyệt vọng trong tình yêu và thân xác. Chủ trương tự do tuyệt đối trong cuộc tình dẫn đến chủ trương tự do tuyệt đối của con người. Nhưng người ta có thể đặt vấn đề với tác giả: con người có thể tự do tuyệt đối hay không? Hay là tất cả tự do đều chỉ có nghĩa khi nó đi đôi với trách nhiệm, bởi tự do và trách nhiệm là hai giá trị song hành, có cái này thì phải có cái kia. Tự do mà không trách nhiệm thì trở thành vô luân, vô luật. Trách nhiệm mà không có tự do thì không còn là trách nhiệm mà trở thành nô lệ. Trách nhiệm ở đây không đòi hỏi chuyện cấm đoán vì cấm đoán đối với đam mê là vô ích. Trách nhiệm ở đây có lẽ chỉ cần một chút hoài nghi, một chút ngần ngại. Nabokov trong Lolita, có cái ngần ngại đó, và chính cái ngần ngại ấy đã tạo cho Lolita một trường hợp “giảm khinh”, một tác phẩm tuyệt vời. Hình như nhân vật chính, Nam, trong Ðâm sừng vào bóng tối, không bị đong đưa, dù chỉ trong giây phút, giữa hoài nghi và ngần ngại. Nam quá bình tâm, quá chắc trong vị trí của mình. Và đó là câu hỏi đặt ra cho tác giả.

    Rồng và rắn là tác phẩm thành công nhất của Nguyễn Viện. Ở đây tác giả đã thu gọn được bối cảnh chiến tranh, sự tàn phá con người trong chiến tranh và xã hội tàn nhẫn, vô ơn, sau chiến tranh, trong một truyện vừa.

    Vai chính trong truyện là X, một người bộ đội và có lẽ cũng là một công an; anh đã sống và bây giờ hồn anh vẫn sống. Anh đã xả thân, không phải cho lý tưởng, mà chỉ là sự làm hết mình của một người có trách nhiệm trước công tác được giao phó. Công tác của anh, trước kia là đánh nhau, bây giờ là theo dõi và ghi chép. Qua X, Nguyễn Viện đã tạo được một nhân vật bốn chiều: công an, bộ đội, sống và chết. Ở bốn chiều này, X có đủ phương tiện để nhận xét con người. Những nhận xét của anh thường vắn tắt, ngắn gọn như những lời tốc ký của một thám tử, nó cực ngắn, nó rút gọn đến tối thiểu những nhàm chán hàng ngày của cuộc sống để chỉ giữ phần cốt tủy. Trong khi “theo dõi” và ghi lại những diễn biến của người sống, X cũng không quên điểm lại quá khứ của đời mình. Hai diễn biến quá khứ và hiện tại cùng trôi trong dòng truyện, với lối cấu trúc song song, nhưng ở đây, người đọc, vì do song hành, nên so sánh được hai lớp tàn bạo của cuộc sống: người chết một lần hôm qua trong thời chiến, và chết lại một lần hôm nay, trong thời bình, như X. 

    Gục trên mộ, X kể lể: “Tôi muốn ngủ. Hãy để tôi ngủ. Tôi cần ngủ. Ðừng đánh thức tôi bằng tiếng súng. Cũng đừng đánh thức tôi bằng tiếng kẻng. Hãy để tôi nằm một mình. Giữa mùa hè, những xác chết trương phình lên nhanh chóng. Bọn địch lấy xe ủi đất gom các xác chết vào chung một cái hố lớn, đổ vôi xuống rồi lấp đất lại. Cái hố chật chội đầy những mầu máu và mồ hôi. Thành phố thì chật những cánh quạ. Ðám xác chết bắt đầu cãi nhau. Xác nào cũng muốn chen lên cho đỡ ngạt. Một thằng quát lớn: Hãy trật tự. Theo thứ tự quân hàm mà nằm, tính từ dưới lên.” (trang 310)

    X và đồng đội đang muốn được ngủ yên, bỗng nhiên bị dựng dậy bởi “tiếng kèn tập họp vang lên khắp nơi. Các xác chết hỏi nhau: Lại động binh nữa à?”(trang 312)

    Họ bị dựng dậy để đón một ông tướng ma mới, vừa nằm xuống. Ông ra lệnh chiến đấu. Hỏi: Chúng ta chiến đấu với ai? Trả lời: “Ðồ ngu, chiến đấu để bảo vệ chỗ nằm. Tin tình báo cho hay, bọn cò đất đã nhăm nhe dọ ý chào những miếng đất nghĩa trang. Chúng bán tất cả những gì có thể bán được, không bán được thì chúng cho thuê. Những miếng đất như đất của các anh hùng, danh nhân, thuộc loại béo bở nhất, bởi thế nguy cơ mất chỗ nằm của chúng ta đã đến gần. Tôi tuyên bố tình trạng chiến tranh.” (trang 314)


Và đó là lý do khiến ông tướng về hưu đã uất lên mà chết. Tính chất trào lộng pha lẫn tử khí, trầm uất, xông lên trong Rồng và rắn, một kết hợp thành công của Nguyễn Viện, khi ông nhìn cuộc đời từ bốn chiều kích: sống, chết, xưa và nay.

Thụy Khuê
Paris, 2/2003

 

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.