Về bài thơ “Mai mốt tôi về của Vi Khuê”-Diên Nghị

tạp bút

logo thi ca1

BÀI THƠ

MAI MỐT TÔI VỀ Của VI KHUÊ

die%cc%82n-nghi%cc%a3

Diên Nghị

MAI MỐT TÔI VỀ

bien_va_em

Mai mốt tôi về tóc đã bạc
Đứng trên đồi cũ nhìn sông xưa
Sông êm như thuở còn tươi mát
Mười tám xuân nghiêng nón đợi chờ

Ồ không! Thuở ấy mùa ly loạn
Chỉ có phà ngang ở bên đò
Cô gái qua sông mười tám tuổi
Trên đầu đã chít chiếc khăn sô

Thôi thế thì thôi, thì lận đận
Thì long đong, thì đã lênh đênh
Thì như ai đó ngoài mưa lạnh
Chìm nổi theo cơn sóng bập bềnh

Thì như ai đó ngoài phương Bắc
Đỉnh nhọn Trường Sơn ứ máu chân
“Móc trái tim đau” mà khóc lóc
Nỗi niềm gian khổ bốn mươi năm

Thì như ai đó ở phương Nam
Nằm mong đêm qua đêm chẳng tàn
Đêm cứ đêm hoài câm bóng nến
Lệ người hay lệ nến chan chan

Thì như ai buổi đầu lưu lạc
Trâu ngựa quê người tủi tấm thân
“Ngày phóng xe làm phu hốt rác
Đêm về nằm nước mắt chứa chan”

Thì như ai đó nữa, bây giờ
Đứng dựa cột đèn, ngó ngẩn ngơ
Dâu bể tan hoang thành phố cũ
Thẩn thờ đi, những bóng bơ vơ

Mai mốt tôi về tóc đã bạc
Đứng trên cầu cũ nhìn sông xưa
Sông ơi! Đá cũng còn cau mặt
Mà nước sông sao cứ lững lờ

 

Vi Khuê

(trích “Lưu Dân Thi Thoại”, Cội Nguồn 2002 )

~~oOo~~

nguoi con gai

Mai mốt tôi về, dự ước một tương lai, rất gần mà cũng rất xa. Ngày mai, ngày mốt, hoặc dài lâu hơn, ngày tháng nối thêm những dấu cộng, vẫn là giấc mơ, hoài vọng của những người phải lìa bỏ quê hương ra đi, sau cuộc chiến triền miên khốc liệt của hai ý thức hệ Cộng Sản, Tự Do. Ba thập niên trôi qua, từ ngày chế độ chính trị Mác xít trùm chụp lên sông núi miền Nam, mịt mù đêm đen thời Trung Cổ, cơn ác mộng thanh bình của xã hội thay thế cơn ác mộng bom đạn chiến tranh, ngàn lần trớ trêu, nghiệt ngã.

Cuộc di tản ra khỏi miền Nam tìm lẽ sống đánh động lương tri của loài người yêu chuộng công lý, hoà bình rằng nơi nào chế độ gọi là “xã hội chủ nghĩa” hình thành, nơi đó cái địa ngục trần gian đang được tạo dựng!

Cuộc di cư hơn một triệu người miền Bắc vào Nam theo tinh thần Hiệp Định Genève 1954, hàng triệu con người bỏ lại tất cả, ngậm ngùi thương tiếc ra đi và cũng đã góp công, góp của, góp máu xương bảo vệ miền Nam, và vẫn đợi chờ có ngày trở về đất Bắc. Định mệnh lịch sử một lần nữa đã quay mặt với con dân miền Nam, tròng vào họ mỗi người một tai họa tùy cơ chịu đựng và định đoạt. Người người lại lìa bỏ quê nhà, người người vội vàng xôn xao vượt thoát, người người ngày đêm bung ra hướng biển Đông, khấn nguyện trời lặng biển êm để những tàu thuyền chạm bờ hy vọng. Hàng vạn sinh linh may mắn ơn cứu rỗi thì hàng vạn thân phận rủi ro khác đắm chìm cõi thuỷ mộ sâu kín, mênh mông! 

Nhà thơ Vi Khuê chung dòng sinh mệnh cam go thách đố ấy và đặt chân lên miền hứa hẹn. Hơn ba mươi năm phấn đấu đã hội nhập vào xã hội đa văn hoá Hiệp Chủng Quốc sinh động, phong phú, ổn định, và luôn hướng lên phía trước, ngày mai, mà hình bóng quê hương quá khứ, xuân xanh kỷ niệm, thôi thúc, khơi gợi, nhắc nhở một ước mơ – mai mốt tôi về – và ngày về lần lữa quyện lẫn đắng cay, tiếc nuối :

Mai mốt tôi về, tóc đã bạc

Tóc đã bạc, thương tiếc nhớ thuở hoa niên, cầu cũ sông xưa, mặt sông phẳng lặng, dịu mát, và tuổi mười tám chất chồng mơ mộng giữa đời :

Đứng trên cầu cũ nhìn sông xưa
Sông êm như thuở còn tươi mát
Mười tám xuân nghiêng nón đợi chờ

Dáng dấp cô nữ sinh xứ Huế, e ấp chiếc nón bài thơ, đang đợi chờ, chờ đợi. Nỗi đợi chờ của tuổi mười tám học trò, đợi chờ ai? Đối tượng tha nhân đã có lần phác họa, nửa mộng, nửa thực, chung kết một lứa đôi hạnh phúc đầu đời.

Vi Khuê mơ về, hình dung rõ nét thơ mộng của cô học trò mười tám nghiêng nón đợi chờ, dòng kỷ niệm đậm nét, khó phai. Giấc mơ ấy bỗng gián đoạn, bừng tỉnh bởi hình tượng chinh chiến, loạn ly (Ồ không! thuở ấy mùa ly loạn).

Hình như cây cầu đã gãy sập từ lâu. Hai bờ sông nối bằng chiếc phà ngang qua lại, xe cộ chuyên chở dụng cụ chiến tranh, con người vào cuộc, huyên náo, rộn ràng, không khí chiến chinh oi nồng, và cô con gái học trò mười tám cũng mang dấu mất mát, ly tan.

Chỉ có phà ngang ở bên đò
Cô gái qua sông mười tám tuổi
Trên đầu đã chít chiêc khăn sô

Chiêc khăn sô quấn đầu tuổi trẻ dập dìu hoa bướm như một dấu ấn, gợn dậy suy tư thầm kín khi tuổi mười tám chưa muốn đón nhận liên quan Mộng và Thực, hai thế giới tương phản, bên Tĩnh, bên Động. Thực Mộng tranh chấp, cuối cùng thực đã chiếm lĩnh môi trường, vẻ yên lành rời xa người con gái :

Thôi thế thì thôi, thì lận đận
Thì long đong, thì đã lênh đênh

Cuộc đời ném cô học trò ra khỏi nơi ước vọng. Cô gượng vui chấp nhận “thời thế thế thời phải thế”. Hơn nữa, ý thức cuộc đời xưa nay là đáp số của khổ đau. Ý thức khổ đau biết đâu sẽ nhẹ bớt phần nào đau khổ! Hai câu thơ đã nói đủ nghĩa khổ đau: “lận đận”, “long đong”, “lênh đênh”. Khổ đau không riêng bản thể, lấy khổ đau của tha nhân, vạn hữu, chia sẻ an ủi khổ đau tự thân:

Thì như ai đó ngoài mưa lạnh
Chìm nổi trong cơn sóng bập bềnh

Chiến tranh bản chất vốn tàn bạo, hủy hoại. Cuộc chiến Bắc Nam mà kẻ tội phạm là tập đoàn lãnh đạo Mác xít. Họ đã nhồi nhét một thứ tư tưởng độc hại với chiêu bài “giải phóng miền Nam”. Họ đã đẩy hàng triệu thanh niên nam nữ vào tử lộ ấy. Tuổi trẻ miền Bắc cũng có thể hiểu được sự hy sinh không chính đáng, nhưng kiếp cá chậu chim lồng, dù vùng vẫy bay nhảy cũng không thoát được khung cảnh không gian vây hãm. Tuổi xuân hàng lớp phải trả cái giá khi tuổi xuân chưa một lần thơm tho hương vị sống. Vi Khuê đã nghĩ về họ bên trời Bắc:

Thì như ai đó ngoài phương Bắc
Đỉnh nhọn Trường Sơn ứ máu chân
“Móc Trái Tim Đau” mà khóc lóc
Nỗi niềm gian khổ bốn mươi năm

Đoàn theo đoàn, lớp tiếp lớp, ngàn dặm trường chinh, bước lên tận đỉnh nhọn Trường Sơn đôi bàn chân ứ máu. Khẩu hiệu “xẻ dọc Trường Sơn” như câu kinh nhật tụng, những điệp khúc, âm giai cao vút, thúc hối, cổ suý con người bước tới, vượt khổ tiến lên, từ lúc mặt trời rạng sáng. Sức mạnh, nhiệt tình con người nếu có được bao nhiêu thì cũng đã cạn kiệt qua khai thác, lợi dụng, để rồi khi bóng đêm trùm phủ rừng núi điệp trùng thì từ những lùm cây, góc suối, bờ khe, tuổi xuân lặng lẽ gục mặt, dòng lệ tuôn tràn, cho vơi nhẹ oan khiên, đày đọa. Giọt lệ tức tưởi, âm thầm nhỏ xuống giữa đêm đen cho đến một ngày… dòng lệ từng khóc tuổi xuân nức nở giữa thanh thiên bách nhật. Dòng lệ Dương Thu Hương tiêu biểu, đứng giữa Sàigòn, thủ đô miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Bà đã khóc khi nhìn thấy cái chiến thắng của “cuộc chiến tranh ngu xuẩn nhất trong lịch sử dân tộc…” Dương Thu Hương khóc như chưa bao giờ được khóc ở đỉnh nhọn Trường Sơn.

Là thành phần trong đoàn “chiến thắng”, sao không hoà nhịp hân hoan nhận lãnh vinh quang? Dòng lệ Dương Thu Hương giải tỏa hoài nghi, bế tắc tâm tư mình, là cảm xúc tỉnh thức lương tri. Đứng giữa Sàigòn, hoành tráng mỹ lệ, dân quân miền Nam hiền hoà, lịch sự, xã hội miền Nam phong phú, văn minh, đối lập hoàn toàn như hai mặt trái phải mà tập đoàn Hà Nội đã đầu độc, tuyên truyền bóp méo, vu cáo khi bức màn sắt dựng ngăn hai bờ Bến Hải. Thủ đoạn, chính sách man trá, lừa gạt đã bị lật tẩy. Dòng lệ trong trẻo, chân tình của nhà văn Dương Thu Hương không chỉ tố cáo tập đoàn độc tài đảng trị mà còn bung sức đấu tranh, không khoan nhượng với chế độ Mác- xít lỗi thời, phi nhân.

Nỗi niềm “Móc Trái Tim Đau” mà khóc lóc, ám ảnh tuổi xuân miền Bắc đã lỡ lao vào cuộc bành trướng chủ nghĩa thôn tính và tước đoạt, trong lúc những thế hệ miền Nam nhẫn nhục chịu đựng, quyết tự bảo vệ để sống còn :

Thì như ai đó ở phương Nam
Nằm mong đêm qua, đêm chẳng tàn
Đêm cứ đêm hoài, câm bóng nến
Lệ người hay lệ nến chan chan

Tâm trạng dân lành phập phồng âu lo tai họa tới. Đêm đêm hỏa tiễn, trọng pháo tầm xa quân Bắc rót vào bừa bãi bất kể thành thị, thôn quê, gieo hoảng loạn, hãi hùng, tang tóc.

Nếu dọc dài Trường Sơn đêm xuống tuổi xuân đau buồn bằng giọt lệ âm thầm, thì tại miền Nam, đêm dài vô tận do cuộc chiến từ tham vọng, ý đồ phương Bắc.

Dưới mái gia đình sum họp, bóng nến vẫn câm lặng, ưu tư. Dòng lệ con người miền Nam xót thương mình, xót thương dân tộc, lại tiếc hận những kẻ cuồng tín, lạc đường, phung phí máu xương hàng triệu tuổi xuân hiền lương vô tội.

Cuộc chiến ngã ngũ, kết cục vở bi hài kịch “cười ra nước mắt”. Chân lý Nguyễn Trãi “Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” đã ngược chiều thời đại. Kẻ hung tàn thắng đại nghĩa, cường bạo thay chí nhân, cho nên chí nhân, đại nghĩa tìm đường vượt thoát ra khỏi quê nhà, làm thân lưu lạc :

Thì như ai buổi đầu lưu lạc
Trâu ngựa quê người tủi tấm thân
“Ngày phóng xe làm phu hốt rác
Đêm về nằm nước mắt chứa chan”

Nỗi bức xúc, hệ lụy vẫn đeo đẳng con người cùng đến nơi xa lạ trong buổi đầu tỵ nạn. Ý chí, nghị lực con người cũng đã vượt qua, lẽ tồn sinh thiêng liêng, chỗ nương tựa ngày càng vững chắc, tin cậy, lạc quan, nhưng dòng nước mắt cho quê hương vẫn đầy vơi thương nhớ.

Còn người ở lại? Than ôi, lỡ vận, lỡ thì, lưu đày trên chính quê hương mình, vong thân giữa xã hội có mình!

Thì như ai đó nữa, bây giờ
Đứng dựa cột đèn, ngó ngẩn ngơ
Dâu bể tan hoang thành phố cũ
Thẩn thờ đi, những bóng bơ vơ

Bài thơ minh họa tiêu biểu thân phận con người trong và sau cuộc chinh chiến tương tàn. Cái nhìn bao hàm của tác giả qua con người đau khổ. Kiếp người ngập ngụa nước mắt, nổi chìm trong bể trầm luân của cuộc đời, tuy thế con người không thể quay mặt với cội nguồn, quê cha đất mẹ. Ý nghĩa cuộc sống gắn liền với cố quận, nơi được sinh ra làm người, mà triết gia Heidegger khẳng quyết cuộc trở về cuối cùng của con người là nơi từ đó ra đi.

‘Mai mốt tôi về’, một hứa hẹn, một ước mơ, dù ngày về tóc đã trắng màu sương. Mai mốt, thời gian bập bềnh trôi chảy qua nhiều mai mốt khác, tác giả vẫn hy vọng thời gian chờ đợi trở về, quê hương thay đổi tốt hơn như hoài bảo của hàng triệu con người mong đợi. Nỗi đau dân tộc bằng ẩn dụ (Sông ơi, đá cũng còn cau mặt), lẽ nào con người vẫn vô tình hờ hững trước ước muốn đổi thay (mà nước sông sao cứ hững hờ ).

Bài thơ còn được chú ý qua câu trúc thi ngữ. Động từ “thì” thông dụng trong ngôn ngữ giao tiếp, ít gặp trong thi ca. Tác giả đã sử dụng bổ từ “thì” vào đầu các câu thơ trong một đoạn thơ làm tăng giọng điệu chỉ-định-từ hoặc tính-từ (thì như ai đó, thì lận đận, thì lênh đênh, thì long đong v.v.). Đóng góp vào cái mới của thơ hôm nay chính là những từ thông dụng chứ không phải tìm kiếm thứ ngôn ngữ kiêu kỳ, khó hiểu. Dùng từ kiêu kỳ, bí hiểm, không hẳn mang tính sáng tạo, có chăng hiển lộ tính cách thời thượng, làm dáng khó coi.

Nỗi xót xa, cay đắng của những chuyến chia ly, đi về thường gặp ở nhiều nhà thơ, buồn đau có, chịu đựng có, bùng vỡ, thầm lặng cũng có, sợ hãi thời gian qua mau, mơ ước thời gian đúng hẹn cũng có. Riêng Vi Khuê trang trải tình cảm rất thật, tấm lòng thơ chân thành dâng hiến sông núi quê nhà, tâm nguyện tự do, dân chủ, phồn thịnh cho dân tộc hiện đang sống nghiệt ngã dưới hung lực thống trị của những não trạng già nua, bệnh họan.

Diên Nghị
Tháng 6-2006

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s