Cáo phó và Những mẫu nhắn tin-Phiếm của Bùi Bảo Trúc

phiem

cụ Bùi Thị Xong1

 CÁO PHÓ

buibaotruc

Bùi Bảo Trúc

Tôi không nhớ đã đọc cái cáo phó đầu tiên hồi nào nhưng chắc không phải ở Hà Nội. Hồi ấy (trước năm 1954) ở Hà Nội chỉ có hai tờ nhật báo là tờ Tia Sáng và tờ Giang Sơn mà tôi (mới biết “đọc báo” ) cầm chúng lên, ở tuổi lên 8 hay lên 9, tôi chỉ thích xem những bức hí họa của hai họa sĩ Mạnh Quỳnh và Dzuy Nhất cùng với những truyện bằng tranh mà phòng thông tin Hoa Kỳ cung cấp cho các báo này, trong đó có một truyện tuyên truyền chống Cộng rất hấp dẫn của George Orwell, Trại Thú Vật (Animal Farm). Thỉnh thoảng tôi cũng tò mò đọc những bản tin về chiến sự và nhờ đó, biết lơ mơ về những trận đánh ở Na Sản, Cánh Đồng Chum, Điện Biên Phủ, rồi hội chợ ở Bờ Hồ, đức Quốc Trưởng Bảo Đại đi đâu, làm gì… Nhưng những mẩu cáo phó thì không và cũng vì hình như chúng rất ít thì phải. Ngay hồi chú tôi tử trận ở Đại Đồng, Bùi Chu năm 1954 gia đình tôi cũng không đăng cáo phó trên hai tờ Tia Sáng và Giang Sơn ở Hà Nội. Có lẽ phải tới khi vào Sài Gòn khoảng cuối những năm 50 tôi mới đọc những thứ tin này.

Tôi không biết những tờ báo tiên phong của nền báo chí Việt Nam có đăng những cáo phó không, nhưng khi tôi biết đọc “nhựt trình” thì chúng đã có rồi, khoảng những năm cuối của thập niên 50 ở Sài Gòn. Rất tiếc cụ Vương Hồng Sển không còn nữa để hỏi cụ.

Phải tới khoảng giữa những năm 50 tôi mới tìm đọc chúng. Cáo phó là thông báo về sự qua đời của một người mà gia đình của người đó muốn gửi tới bạn bè và quyến thuộc. Nhưng chúng được viết theo một lối văn đặc biệt không biết ai là người đầu tiên viết xuống để sau đó được những người khác viết theo. Có thể trong lúc tang gia bối rối, gia đình không có thì giờ cho câu cú văn chương để viết mẩu tin thông báo chuyện buồn của gia đình. Thế là cứ theo những cáo phó đã đọc thấy trước và viết lại. Chính vì thế mà tôi tìm đọc chúng trên những tờ báo hồi ấy. Và cũng đó mà lần đầu tiên tôi biết những từ ngữ như vãng sinh miền cực lạc, qui tiên, phiêu diêu nơi tiên cảnh, hưởng nhan Thánh Chúa…

Bẵng đi mấy năm không ở trong nước, không đọc báo Việt ngữ, đến khi đọc lại báo chí trong nước, thì bỗng một hôm đọc thấy tên một người bạn cũ thời trung học. Người bạn này nhập ngũ sau khi hỏng kỳ thi tú tài. Sau đó thỉnh thoảng chàng trở lại trường thăm bạn bè. Có người đùa chúc chàng sớm vinh thăng lon mới. Và ít lâu sau, chàng được vinh thăng thật. Rồi xuất hiện trong những cáo phó những từ ngữ mới như truy thăng, anh dũng hy sinh, truy tặng bảo quốc huân chương với nhành dương liễu…

Thế là những mẩu cáo phó lại nghe khác hẳn những cáo phó vẫn đọc được trước đó. Và cũng từ đó, tôi chú ý đọc chúng thường hơn. Đó là trong những buổi chiều tan sở ngồi ở một quán cà phê đọc mấy tờ báo vừa phát hành. Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt thì những trang cáo phó càng nhiều tên tuổi hơn. Và tuổi tác của người chết cũng gần với tôi nhiều hơn. Có những người hơn hai hay ba tuổi, có những người bằng tuổi và có những người thua vài tuổi. Có những người chưa vợ con và có những người để lại mấy đứa con còn rất nhỏ. Đó là những mẩu cáo phó của thời chiến. Cuộc chiến càng dữ dội cuối thập niên 60 và đầu những năm 70 thi những cáo phó như thế càng đọc thấy nhiều hơn. Tuổi của những người ra đi cũng xấp xỉ tuổi của tôi hồi ấy.

Rồi bẵng đi một vài năm sống ở Mỹ, tôi bỗng thấy trong những tin cáo phó đọc thấy trên mấy tờ báo Việt ngữ, tuổi tác của những người ra đi rất gần với tuổi của mình trong hoàn cảnh không còn chiến tranh tang tóc nữa. Lác đác không còn nhiều những trướng hợp hưởng dương dưới 50 tuổi nữa mà đã được coi là hưởng thọ nghĩa là đã sống được trên tuổi 50. Rồi thoắt một cái, những cái tuổi trên 60 cũng ập tới, và nay, những tuổi trên 70 cũng trở thành rất thường. Thỉnh thoảng lại thấy tên một người bạn vừa gặp vài tháng trước.

Nhưng vẫn có một cách viết cáo phó tôi thấy rất kỳ lạ. Đó là những câu như “… đau đớn báo tin XYZ đã được Chúa gọi về…”Tôi nghĩ là được Chúa gọi về phải là một hạnh phúc, môt ân sủng thì tại sao gia đình phải đau đớn ? Tôi có đem hỏi một linh mục thì được ngài cho biết nói như vậy là không đúng. Chúa không bao giờ muốn con của người phải chịu những khổ đau. Nhưng một bữa tôi đã bị một người đàn ông phản bác kịch liệt nói rằng bài báo tôi viết đề cập tới chuyện đó là xúc phạm tới tôn giáo của ông và tôi hoàn toàn sai lầm mặc dù tôi có dẫn lờì của linh mục T.Q.T. nay đã khuất.

Mấy chục năm đọc những cáo phó từ khi những người ra đi hơn tuổi, rồi bằng tuổi và nay là những người ít tuổi hơn có khi cả chục tuổi. Một ông bạn tôi tuần trước viết cho cái e-mail và kết bằng câu “Chẳng cũng khoái ư!”

Nghe cứ như Nguyễn Hiến Lê dịch Lâm Ngữ Đường vậy.

 

NHỮNG MẨU NHẮN TIN

Chúng thỉnh thoảng vẫn xuất hiện trên những trang báo Việt ngữ, có khi chúng bị đẩy vào những chỗ khuất lấp, nép cạnh những quảng cáo không liên quan gì tới những nội dung của chúng. Những quảng cáo rao bán mắm muối, thịt cá, địa ốc, tiệm ăn, nhà hàng… thì dính gì tới những mẩu nhắn tin tìm người quen ấy, như một ông thiếu uý ở một tiểu khu nào đó thuộc quân đoàn I, một người hàng xóm cũ, một người di tản từ năm 1975 tìm hai ba người thất lạc trong chuyến vượt biên bằng thuyền hồi những năm 80, muốn tìm lại một người gặp lần cuối tại đảo Galang, một người bạn tù nằm chung một góc phòng giam… Ngoài việc chúng xuất hiện trên những trang báo, chúng còn được nghe thấy trong mục nhắn tin hàng tuần của một chương trình phát thanh nọ. Mỗi lần thấy chúng, tôi cũng tò mò đọc xem có còn ai kiếm mình không. Một người bạn cũ ở Sài Gòn, thời học trung học, một quen biết thời tuổi trẻ, trong một tiệm nước bên một ly cà phê… những gặp gỡ vài ba chục năm, có khi hơn nửa đời người…

Những đoạn nhắn tin, tìm người ấy vẫn còn, tuy theo tôi nghĩ, có phần tuyệt vọng. Không biết có bao nhiêu người còn để mắt đọc những dòng nhắn tin trên những trang báo, hay đón nghe chương trình nhắn tin với thời lượng không bao nhiêu trên làn sóng phát thanh. Những lời nhắn ấy bay trong không gian không bao giờ nghe lại được nữa.

Nhưng chúng vẫn được đọc thấy, nghe thấy. Những người nhắn vẫn nuôi những hy vọng sẽ tìm được những người cũ, không biết đã trôi giạt về những chân trời góc biển nào, trong khi Kiều thì cũng chỉ luân lạc có 15 năm. Những thất lạc của chúng ta thì dài hơn nhiều. Mười năm, hai chục, ba chục năm, hơn nữa cũng có. Những chi tiết có khi rất rõ như địa chỉ của căn nhà cuối cùng, người ấy có mấy anh em, con cái tên là gì, cha mẹ làm gì, cả những cái tên gọi thân mật ở nhà, xuống thuyền vượt biên tháng mấy, năm nào hay di tản ngay trong những chuyến đầu của cuối tháng 4. Cũng có khi nghe được tin tần chót từ Mỹ ở tiểu bang thành phố nào rồi dọn đi một địa chỉ khác và bặt tin luôn…
Bao nhiêu nước đã chảy qua cầu. Những địa chỉ đầu tiên hay cuối cùng ấy không mấy người con nhớ. Cuộc sống hối hả và thay đổi, di chuyển quá nhiều làm sao còn lúc nào ngồi xuống moi móc trí nhớ ra những tháng ngày cũ. Nhưng ngần ấy thứ thỉnh thoảng vẫn trở lại. Người em bặt tin trong một trận đánh hồi tháng 3, gia đình vẫn hy vọng chỉ mất tích, đứa con vượt biển đã thoát, người đàn ông đi tù về cũng vượt biển từ năm 85 rồi sau một hai lá thư là bặt tin từ đó…

Nhưng cũng từ đó đã bao nhiêu chuyện xẩy ra, bao nhiêu đổi thay cho cả hai phía, người nhắn cũng như người được nhắn. Người được nhắn có khi chỉ để lại tấm thẻ bài trong một góc rừng nào đó, hay một ngôi mộ không tên ở một hòn đảo xa vắng của Indonesia, Malaysia, Thái không chừng. Đứa con có thể đang sống đâu đó ở nước Mỹ và đã lâu không còn nhớ về gia đình cũ của nó, mà đời sống của nó củng chẳng có bao nhiêu chuyện đáng để kể cho cha mẹ, anh em ở nhà. Người đàn ông vượt biển có thể đã có những liên hệ mới, ràng buộc mới nên không thể liên lạc lại với người vợ và những người con của đời sống cũ. Cũng có thể có những lúc quả tim lỡ một nhip đập, và ý tưởng nhắn một mẩu tin tìm người nhen nhúm nhưng rồi lại thôi. Cũng có những mẩu nhắn tin chỉ nghe qua cũng hiểu được nửa chuyện. Như lời nhắn tìm cô em của một người bạn hồi ấy hay đi qua nhà nay “duyên ghé về đâu” (như lời bài hát của Lê Trọng Nguyễn). Những năm tháng xa cách nay đã dài hơn cả thời gian hai người tình già của Phan Khôi là 24 năm rất nhiều. Hai bên chắc nay đều đã lục tuần cả. Tìm được thì làm gì đây ?

…Khi tôi ngồi xuống ở bên em
Mở tập thư xưa đọc trước đèn
Vẫn ngọn đèn mờ trang giấy lạnh
Tiếng mùa thu lạnh tiếng mưa đêm…
( Đinh Hùng)

Hay là như Lý Thương Ẩn trong Dạ Vũ Ký Bắc, đêm mưa gửi về bắc:

Quân vấn qui kỳ vị hữu kỳ
Ba sơn dạ vũ trướng thu trì
Hà dương cộng tiễn tây song chúc
Khước thoại Ba Sơn dạ vũ thì

Tạm dịch:

Người hỏi ngày về, chưa thể nói
Ba Sơn mưa tối ngập ao thu
Bao giờ khêu lại tim nến cũ
Kể chuyện bên song vợi nỗi sầu

Nhưng những mẩu nhắn tin vẫn thỉnh thoảng còn để nuôi tiếp những hy vọng đã từ gần nửa thế kỷ.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s