Hãy giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt và việc học tiếng Tàu để khởi đầu “tiến trình Hán hoá” ?

bé đọc sách

HÃY GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT

Đặng Minh Chí
14141656_702205423266555_3514137275162598887_n
Sách giáo khoa tiếng Tàu đã được in cho bậc tiểu học(cấp 1) !!!!
người Tàu1

 

Xã hội ngày nay phát triển không ngừng kéo theo rất nhiều thay đổi. Tuy “phát triển đến mức chóng mặt”, nhưng nhìn trên một khía cạnh khác, phải chăng có những sự tụt hậu, sự xuống dốc đến mức thảm thương, làm chúng ta “chóng mặt” không nhỉ ? Câu trả lời là có. Chắc hẳn chúng ta ai cũng biết đó là gì nhỉ! Đó là sự trong sáng của Tiếng Việt.

Chúng ta hãy cùng nhìn lại quá khứ !

Tiếng Việt đã là một thứ tiếng giàu đẹp và trong sáng, như nhà văn Đặng Thai Mai đã viết: “Tiếng Việt, một biểu hiện hùng hồn của sức sống dân tộc. Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay …” hay như nhận xét của nhà thơ Xuân Diệu: “Sự trong sáng của ngôn ngữ là kết quả của một cuộc phấn đấu. Trong và sáng dính liền nhau…”. Ngoài ra không thể không nhắc tới khẳng định của Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng :”Tiếng Việt của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú. Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp. Hai nguồn của cái giàu, cái đẹp ấy là ở chỗ tiếng Việt là tiếng nói của nhân dân, đầy tình cảm, màu sắc và âm điệu, hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý nghĩa; đồng thời nó là ngôn ngữ của văn học mà những nhà thơ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… và những nhà văn, nhà thơ ngày nay ở miền Bắc và miền Nam đã nâng lên đến trình độ rất cao về nghệ thuật.”
Sức mạnh của Tiếng Việt là chìa khóa giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách nô lệ – một sự thật không thể nào chối cãi. Có thể trích dẫn ra đây một đoạn trong tác phẩm “Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức” của nhà văn, nhà báo Nguyễn An Ninh: “Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hy vọng giải phóng giống nòi. […] Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình …”
Vâng, lịch sử đã chứng minh rằng, Tiếng Việt đã trở thành vũ khí của dân tộc Việt Nam, thoát khỏi mọi vòng xiềng xích nô lệ để trở thành một quốc gia độc lập như ngày hôm nay. Không những thế, nó còn làm nên bản sắc Việt Nam, mà chúng ta hay nói đến một cách tự hào với cụm từ “niềm kiêu hãnh dân tộc”.
Từ trong quá khứ hào hùng ấy, ta thấy ánh lên một niềm tin tưởng mãnh liệt vào tương lai của ngôn ngữ dân tộc: “Người Việt Nam ngày nay có lí do đầy đủ và để tự hào với tiếng nói của mình. Và để tin tưởng hơn nữa vào tương lai của nó.” (Đặng Thai Mai)

Nhưng, hãy nhìn vào hiện tại!

Tiếng Việt đang bị bóp méo và xâm phạm đến đáng sợ. Tương lai của nó sẽ đi đến đâu, dưới bàn tay của “giới trẻ”, những chủ nhân tương lai của đất nước?
Từ “bóp méo” mà mình dùng ở đây mang cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Những thực tế làm chúng ta cảm thấy thương cho ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam…
Nào chúng ta hãy cùng nhau đọc và xem xét các tình huống này .Chắc hẳn ai cũng sẽ cười khi đọc nó.

Thứ nhất là trường hợp viết Tiếng Việt không dấu – những kiểu viết không có dấu thanh. Nhiều người nghĩ viết thế cho nó nhanh gọn nhẹ, và biết tiếng với nhau cả rồi, chẳng lẽ không dịch được? Nhưng hãy nghĩ lại: ví dụ như dòng chữ không dấu dưới đây: “Ban that la dam dang” – nên hiểu “Bạn thật là đảm đang” hay “bạn thật là dâm đãng” đây ? Một tập hợp những con chữ không có dấu, phải dịch chán mới hiểu. Có ai dám nói đó là Tiếng Việt nào? Nhưng thôi, nó không quá nghiêm trọng và chúng ta có thể tạm gọi đó là “Tiếng Việt xộc xệch”.

Thứ hai là sự biến dạng của những từ ngữ. Đó là những kiểu viết quái gở như sau : từ “rồi” viết thành “roài”, “không” thành “hông”, “hem”, “biết” thành “bít”. Hãy thử lắp vào một câu xem: “The la cau hem bit roai, hihi” Nhưng, đó chỉ là những kiểu thay đổi “sơ khai”. Hẳn trí tuệ luôn luôn phát triển và họ dành nó để cho ra đời những đứa con tinh thần quái gở hơn, từ “bóp méo” đến lúc này đã có thể dùng theo nghĩa vốn có của nó. Chữ “a” viết thành 4, chữ e viết thành 3, i thành j, g đổi sang 9, o thành 0, c thành k, b thành p, vân vân … Nào chúng ta hãy viết lại câu vừa rồi sau khi đã qua “chế tác” lần 3: “Th3 l4 k4u h3m pjt r04j, hyhy”. Hãy cùng mình cười cho một đống ký tự lộn xộn không dịch nổi có phải là ngôn ngữ không, chưa nói gì đến đó là ngôn ngữ của chính dân tộc chúng ta. Nhưng óc sáng tạo của tuổi trẻ hiện nay là vô bờ, như thế đã là gì nhỉ? Viết thì có hai kiểu viết: viết in và viết thường, ờ thì tội gì ta lại không viết bừa đi cho nó “cá tính”. Thử xem sao: “ThE^ lA` kA^.u hEm pYt r0A`j nhA, hYhY”. Trông ngộ nghĩnh hơn đấy nhỉ . Đến đây thì không còn là ngôn ngữ nữa rồi, hãy hiểu rằng đó chỉ là một tập hợp ô hợp, hỗn độn những con chữ vô giá trị thôi ! Nhưng đến khi nó đã là trở thành nhếch nhác như rác thải rồi, vẫn không được buông tha. Viết thế ra chừng ngắn và kém độ hoành tráng quá nhỉ. Chữ a phải thành Cl, @ hay là ã, Æ mới hoành tráng, chữ q thì phải là v\/ mới sành điệu, p thành º]º với “xì tin” … Hãy cùng xem lại “đứa con tinh thần” của chúng ta nào : “††|é ]_à ßạ]\[ ]<†|ô]\[(¬ ß]ế† Pvồ], †|]†|]”.

11206938_1020806064609859_8354353833903942251_n

Ôi! hãy nhìn xem đó là cái gì? Tiếng Việt đây sao? Giới trẻ Việt Nam đang biến tiếng nói của Tổ quốc mình thành một mớ hỗn độn, một thứ mà họ tự hào cho là “thể hiện cá tính và sự sành điệu”?? Tất nhiên ví dụ mình đưa ra còn quá nhỏ nhoi và chưa thể hiện được hết những gì đang diễn ra hiện nay.

Không những thế, Tiếng Việt ngày nay dần dần mất đi sự trong sáng bởi sự lấn át của ngoại ngữ. 
Từ xưa, Trung Quốc xâm lược Việt Nam và thiết lập chế độ Bắc thuộc đến cả 1000 năm, đó là điều tại sao Tiếng Việt chịu ảnh hưởng rất lớn của tiếng Hán, nhiều từ Việt hiện nay có gốc từ tiếng Hán. Nhưng điều đó có thể nói là mang tính khách quan và dù sao nó cũng là quá khứ rồi. Nhưng hiện tại thì sao? Nền văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam ngày một tăng, đặc biệt thông qua mạng Internet. Những mặt tích cực thì không ai có thể chối cãi, nhưng nó mang theo một hiện tượng mà người ta gọi là “sính ngoại”, tức là quá tôn sùng và ưa dùng ngôn ngữ nước ngoài. Mình xin nói cụ thể ở đây là Tiếng Anh …
“Hiện nay, người ta viết rất ẩu và dùng nhiều chữ nước ngoài quá. Điều đó rất dở và rất bực. Bác Hồ thường phê bình: “Đã dốt lại hay nói chữ! Đúng quá, chính vì dốt mà hay nói chữ!” Nhưng theo nhận xét của mình hiện nay thì không giới hạn trong những cái thùng rỗng đó mà mở rộng ra nhiều rồi … “Người người chơi chữ, nhà nhà chơi chữ”. Các bạn nên hiểu, “chơi chữ” ở đây không phải thâm thúy, sâu cay như Trạng Quỳnh ngày xưa hay các cụ Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Hoan đâu nhé! Nó chỉ đơn giản là thích dùng tiếng nước ngoài.
Những từ Tiếng Anh hay được dùng nhất bây giờ là “xì tin” (chú thích là đã bị biến dạng, từ nguyên gốc là “style”, có nghĩa là phong cách), bên cạnh có một vài “dị bản” như tin, tyn, xì tyn, xì teen, hay … xì ten ). Không kém phần thông dụng là từ “pro” (viết tắt của từ Professional – nghĩa là chuyên nghiệp). Mình dám chắc là bản thân từ này đã có hàng tá người không biết dạng viết đầy đủ và nghĩa chính xác của nó đâu! Họ cứ nghiễm nhiên dùng và cho nó một cái nghĩa là “siêu”, tất nhiên các “láng giềng” thì hẳn là nhiều đi rồi, prồ, prô, pzo, pzo`… Ôi, thật là muôn hình vạn trạng. Các “thuật ngữ” về trò chơi trực tuyến có thể nói là được ưa dùng nhất. Trong đó có thể kể tới những từ phổ biến như “server” (máy chủ), disconnect (ngắt kết nối với máy chủ), gọi là phổ biến vì là người ta dùng nhiều, chứ dùng đúng hay không phải xem xét. Đúng nghĩa chưa nói chứ đúng từ thì thật là còn lắm gian truân … có những bạn hồn nhiên dùng từ “sever”, “disconect” mà không thèm nói Tiếng Việt như máy chủ hay ngắt kết nối. Lời Bác Hồ nói ở trên thật quá đúng: “Ngay đến cách viết còn chẳng biết, đã đua nhau viết, ra chừng mình giỏi giang.”
Lại một lần nữa, chúng ta cười và cảm thấy một chút nghẹn ngào !

Nhưng những từ đó không gây đáng ngại cho lắm. Nó chỉ làm cho những người hiểu biết cảm thấy buồn cười và tiếc cho ngôn ngữ nước nhà mà thôi! Bây giờ là những thứ người ta thật sự lo lắng. Như mình đã nói ở trên, văn hóa phương Tây du nhập vào nước ta rất nhanh qua Internet và các phương tiện truyền thông khác. Và trên thực tế, nhiều người sau khi tìm hiểu đã quyết định dùng ngôn ngữ “Tây” thay hẳn cho Tiếng Việt. Đó là sự thật. Người ta thích dùng từ “producer” thay cho “nhà sản xuất”, thích “supporter” hay “provider” hơn “nhà cung cấp”, thích dùng “computer network” thay cho “mạng máy tính”, “admin” thay cho “người quản trị” và hàng ngàn, hàng vạn từ khác. Có thể thấy lĩnh vực công nghệ, đặc biệt là Công nghệ thông tin là lĩnh vực Tiếng Việt đang bị dồn ép đến chân tường nhiều nhất. Ồ nhưng đó mới là một lĩnh vực , thực sự là đâu đâu cũng thấy việc người ta lạm dụng quá mức Tiếng Anh. “Siêu sao” thì dùng “superstar”, điện thoại di động thì “mobile phone”, “vụ bê bối” thì “scandal”. Ví dụ như câu “Vụ bê bối của các ngôi sao” thì lại viết kiểu “Tây” hơn như “Scandal của Superstar” … Trên các mặt báo tràn ngập từ Tiếng Anh, dùng một cách vô tội vạ, mục đích là gì? Viết cho người Việt đọc, người Việt hiểu, có nhất thiết phải bê những từ Tiếng Anh thô kệch mà vốn ngôn ngữ Việt hoàn toàn có thể thể hiện một cách đầy đủ, thậm chí là hay đi chăng nữa, vào bài viết không?

Lại một lần nữa, có ai không cười thì đọc mấy cái dòng “nửa Tây, nửa Ta” thế này ? Chẳng hạn là một lời giới thiệu. “Hi mọi người! Mình là abc,xyz, mình rất vui được làm quen với everybody. Mình đang study ở abcxyz High School. Mình rất confident trong các extracurricular activities. Hiện nay mình đang cope up with chương trình học rất killer của trường… Nhưng mình tin với capacity của mình, mình sẽ hoàn thành completely cái syllabus đó.” Xin khẳng định một điều, không hề ngoa dụ, không hề bịa đặt! Đó là điều có thật trong thực tế, thậm chí còn buồn cười hơn nhiều nữa kia! Cứ một từ Việt lại tương 2,3 từ Tiếng Anh vào, đọc lên chẳng hiểu nó là cái thể loại gì nữa. Sự lạm dụng quá mức Tiếng Anh này có thể gặp nhiều nhất ở du học sinh mà tỷ lệ theo mình khẳng định, phải đến tuyệt đại đa số.

Hiện nay còn có hiện tượng đang báo động mức độ mà mình dùng từ “nguy hiểm”, đó là giới trẻ bắt đầu có xu hướng dùng Tiếng Anh để gọi chính mình! Tên cha sinh mẹ đẻ, tên Việt không dùng, mà chỉ thích những cái “nickname” như Vic, Sakura, Ken … Họ chối bỏ cái tên khai sinh của mình để đến với những nick name hào nhoáng, thích dùng nó mọi lúc mọi nơi. Chả lẽ, họ không còn là người Việt Nam nữa hay sao?
Mình không hề có ý loại bỏ ngoại ngữ trong lời ăn tiếng nói hằng ngày. Mặt khác còn ủng hộ nếu nó được dùng đúng cách … Đúng cách là sao? Là dùng ngoại ngữ để làm giàu cho ngôn ngữ của nước mình. Chẳng hạn như có một số câu khó mà tự nói ra như: “Mình không bao giờ từ bỏ, phải cố lên!”, nghe có vẻ hơi “chuối chuối”, nếu dùng “Never Give Up” hay “Never Cry Craven” thì nó sẽ dễ dàng hơn. Hay chẳng hạn là dùng từ Tiếng Anh để tạo sự vui vẻ, ví dụ như từ “Hê lô” nghe sẽ thoải mái hơn từ “Xin chào”. Nói tóm lại, phải dùng ngoại ngữ như một công cụ, để làm phong phú thêm cho ngôn ngữ nước mình, chứ không phải là thay thế ngôn ngữ nước mình.
Thực tình mà nói, khi viết bài này mình cảm thấy xấu hổ với chính mình. Thường ngày mình vẫn hay kiểu viết tắt “không” thành “k”, “được” thành “đc”, hay là thích dùng từ Tiếng Anh thay cho Tiếng Việt như nhiều người khác. Ngôn ngữ công nghệ thì viết Tiếng Anh vô tội vạ, một từ Tiếng Việt lại xen một từ Tiếng Anh. Trong những bài viết thì đá đưa mấy từ vào theo kiểu thói quen: “bài viết” thì cứ thích dùng “bài post”, hay như cái tái bút thôi, cũng thích dùng từ P/S (postscript) như một kiểu bắt chước tiếng Tây … Đôi lúc tự thấy mình thật đáng cười và cũng thật đáng trách!

Thật sự, vui cho quá khứ, buồn cho hiện tại, và lo lắng cho tương lai của Tiếng Việt. Sự trong sáng, sự giàu đẹp sẽ còn đâu khi giới trẻ đang “bóp méo”, xuyên tạc và “thủ tiêu” Tiếng Việt với tốc độ “chóng mặt”. Đáng buồn hơn nữa, đáng xấu hổ hơn nữa, khi họ không nhận ra, hoặc cố tình không nhận ra, mặt khác còn tự hào với những thứ quái quỷ mình nghĩ ra, đắc ý với sự phá hoại ngôn ngữ dân tộc mà từng ngày họ đang thể hiện.
Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn.
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá !
Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình…

ĐỌC LẠI Ý KIẾN VỀ VIỆC HOC TIẾNG TÀU

 

“Cần dạy chữ Hán để giữ sự trong sáng của tiếng Việt”

PGS. TS Đoàn Lê Giang (ĐH KHXH&NV – ĐHQG TP.HCM) cho rằng, muốn dùng tiếng Việt trong sáng thì học sinh phải học chữ Hán. Do vậy, cần phải đưa chữ Hán Nôm vào dạy học sớm cho học sinh.

Cần thiết đưa Hán Nôm trở lại trường học

Phát biểu tại Hội thảo Vai trò của Hán Nôm trong văn hóa đương đại diễn ra hôm 27/8, ông Giang cho rằng, trong số các quốc gia thuộc khu vực đồng văn (các quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc – PV) chỉ có Việt Nam là từ bỏ chữ Hán hoàn toàn nên thế hệ sau ít hiểu biết về quá khứ dân tộc.

dạy chữ Hán trong trường phổ thông, môn Hán Nôm
PGS. TS Đoàn Lê Giang cho rằng nên đưa chữ Hán Nôm vào dạy trong nhà trường phổ thông. Ảnh: Lê Văn

Từ bỏ chữ Hán cũng là lý do khiến thanh niên Việt Nam đơn giản nhất, học hành hời hợt nhất, các nhà khoa học xã hội của Việt Nam cũng kém nhất so với học giả các nước và nước ta nghèo nhất, lạc hậu nhất so với Nhật, Hàn hay Trung Quốc.

Ông Giang dẫn ví dụ, ở Nhật, người tốt nghiệp phổ thông phải biết ít nhất 1.945 chữ Hán, đến hết ĐH thì phải biết khoảng 3.000 chữ. Trung Quốc cũng yêu cầu số lượng tương tự. Hàn Quốc thì hết phổ thông, học sinh phải biết khoảng 1.000 chữ. Chỉ có Việt Nam là không đặt ra yêu cầu này.

Ông Giang cũng cho biết, nghiên cứu của một trung tâm nơi ông được mời dạy chữ Hán Nôm cho học sinh tiểu học cho thấy, những học sinh được học chữ Hán Nôm hình thành và phát triển nhân cách tốt hơn những học sinh khác không được học.

Trước đây chúng ta cứ nói rằng không dùng chữ Hán để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt nhưng hiện nay phải nói ngược lại, phải học chữ Hán để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” – ông Giang nhấn mạnh.

Đồng tình với quan điểm này, PGS. TS Trịnh Khắc Mạnh (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) khẳng định, việc dạy Hán Nôm trong nhà trường phổ thông dứt khoát là phải đặt ra. Theo ông Mạnh, việc không có tri thức về Hán Nôm khiến hiện nay nhiều từ ngữ tiếng Việt bị nói sai.

Bên cạnh đó, hầu hết các môn học hiện nay đều có tính liên thông, kế thừa từ bậc phổ thông lên đại học, riêng môn Hán Nôm là không có. Việc dạy các văn học cổ hiện nay chỉ dạy thông qua phiên âm chứ không đưa nguyên văn Hán Nôm vào đã dẫn đến nhiều sai sót trong cách dạy cũng như cách hiểu văn học cổ.

TS Nguyễn Tô Lan (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) cũng khẳng định cần phải dạy chữ Hán Nôm sớm cho trẻ.

Kinh nghiệm cho thấy, ngay từ khi còn rất nhỏ, các các em đã đối mặt với việc phải nhận thức chữ nào là chữ Hán, chữ nào là âm Hán – Việt. Vì vậy, nếu đã không hiểu từ cái gốc rồi thì sau này lớn lên học rất là khó” – bà Lan nhận định.

PGS. TS Hà Văn Minh (Phó chủ nhiệm Khoa Ngữ văn, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội) cũng khẳng định, “cần đưa, nên đưa và thế tất sẽ đưa” Hán Nôm vào dạy trong trong trường phổ thông.

Ông Minh cho hay, “kỳ thi quốc gia của Hàn Quốc từ 40 năm nay đều có môn Hán Văn Hàn Quốc, không có cớ gì chúng ta lại không. Hàn Quốc còn có một bộ giáo trình dạy Hán Nôm cực kỳ bài bản từ phổ thông“.

Bên cạnh đó, ông Minh cũng cho rằng, việc dạy Hán Nôm cũng sẽ tham gia vào việc hình thành ít nhất là 3 nhóm năng lực trên tổng số 8 nhóm năng lực theo định hướng giáo dục mới hiện nay – giáo dục hướng tới năng lực người học thay vì truyền tải tri thức.

“Bảo quý thì quý mà bảo không quý thì cũng chả quý gì”

Làm thế nào để đưa tri thức Hán Nôm vào trong nhà trường là vấn đề được nhiều chuyên gia quan tâm bàn thảo.

PGS. TS Hà Minh cho rằng, sắp tới, ông sẽ có ý kiến trực tiếp với các trường sư phạm, với những người tham gia biên soạn SGK trong đợt biên soạn sách sắp tới về việc đưa tri thức Hán Nôm vào giảng dạy.

dạy chữ Hán trong trường phổ thông, môn Hán Nôm
PGS. TS Hà Minh đề xuất đưa môn Hán Nôm trở thành môn học tự chọn trong trường phổ thông. Ảnh: Lê Văn

Nếu cần thiết thì tôi đề nghị liên hệ tất cả các cơ sở đào tạo, nghiên cứu về Hán Nôm để có một bản kiến nghị với tư cách một hội nghề nghiệp để có tiếng nói chính thức với các cơ quan chức năng” – ông Minh đề xuất.

Ông Minh cũng đưa ra 2 phương án mà ông cho là “thiết kế khả thi” để đưa Hán Nôm vào giảng dạy trong nhà trường: Đầu tiên là đưa môn dạy Hán Nôm vào chương trình như một môn tự chọn. Bên cạnh đó, cần phải tăng tỉ trọng bộ phận văn học cổ bằng chữ Hán và chữ Nôm trong SGK mới sắp tới.

Ngoài ra, ông Minh cũng đề xuất biên soạn một một cuốn sách giáo khoa tham khảo sử dụng trong nhà trường về Hán Nôm được Bộ GD-ĐT giới thiệu sử dụng. “Chúng ta có thể có 2 cuốn một cuốn cho THCS và một cuốn cho THPT bám sát chương trình Tiếng Việt và Ngữ văn của 2 cấp học này”.

Các nhà biên soạn có thể tham khảo những từ có tần số xuất hiện nhiều để làm sao sau khi học hết THCS thì học sinh biết được khoảng 1.500 từ. Hết THPT thì biết thêm khoảng 1.000 từ nữa” – ông Minh nói.

Bên cạnh đó, ông Minh cũng cho rằng, SGK Ngữ văn nên có bảng tra cứu từ và yếu tố Hán Việt nhưng phải có nguyên văn chữ Hán Nôm và giải thích chữ Hán Nôm đó để học sinh hiểu nghĩa từ nguyên.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia chuyên gia cũng cho rằng, hiện tại, việc đưa Hán Nôm vào dạy trong trường phổ thông là rất khó.

PGS. TS Đoàn Lê Giang cho rằng, hiện tại nếu nêu vấn đề đưa chữ Hán trở lại dạy trong trường phổ thông, chắc chắn nhiều người sẽ không đồng tình nhất là trong tâm lý xã hội hiện nay.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Sỹ Toản thì cho rằng bối cảnh hiện nay là rất khó khăn để đưa môn Hán Nôm quay trở lại trường phổ thông. Ông Toản dẫn ví dụ về môn Lịch sử trước đây đã suýt không có tên trong “bản đồ các môn học” chứ đừng nói tới môn Hán Nôm.

Ngay cả việc đưa môn Hán Nôm vào như một môn tự chọn cũng cần tính toán cách nào đó vì nếu học sinh không chọn học thì sẽ khó khăn trong việc giải quyết công việc cho các giáo viên đã được nhận vào biên chế” – ông Toản nói.

Trong khi đó, PGS. TS Trịnh Khắc Mạnh thì nói rằng, người ta nói Hán Nôm giống như chiếc bình hoa trong nhà, bảo nó quý thì nó quý còn cho nó không quý thì nó cũng chả quý gì. “Chúng ta là những người trong cuộc, chúng ta thấy quan trọng còn những người ở ngoài thì họ lại cho là không cần thiết” – ông Mạnh chua chát.

Lê Văn

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s