Phố cũ(Pleiku) ta về-Ký sự của Hồ Thuỷ

tạp bút

WA-Logo3

 

 

 PHỐ CŨ(PLEIKU) TA VỀ

Kính Tặng Linh Mục Nguyễn Vân Đông

Hồ Thủy

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Máy bay đáp xuống phi trường Cù Hanh lúc hai mươi giờ mười lăm phút. Từ đó đi taxi về thành phố thành phố  khoảng chừng 5km mà thôi. Những con đường rộng với biết bao ánh đèn màu, hai bên đường nhà cữa nằm sát nhau đủ dáng đủ kiểu tạp nham. Cuộc sống của Phố Núi về đêm thật nhộn nhịp; xe cộ chạy xuôi chạy ngược, các cô gái chàng trai với áo quần tóc tai đủ màu đủ kiểu ngồi trên những chiếc xe gắn máy đời mới phóng nhanh ào ào nói cười hố hố…không còn chút gì của một Pleiku trầm lặng dễ thương khi ngày đó “phố xá không sang nên phố tình thân “…của ba mươi tám năm về trước.

Chúng tôi đến Pleiku chỉ có ba người. Đúng ra theo dự tính là bốn; gồm có: anh Tấn, Ngọc Hải, Đổ Thùy và tôi: hồ Thủy. Nhưng gần đến ngày lên đường thì Đổ Thùy phải ở lại vì chồng cô ấy bị bịnh, thế là chỉ còn ba đứa chúng tôi.

images (77)


Pleiku cách SàiGòn 650km; giá vé máy bay cũng không phải là “cao quá tầm tay với”; nhưng để chuyến đi này được hoàn thành đúng với tâm nguyện của chúng tôi thì mọi người cũng phải lên chương trình, vạch kế hoạch và chuẩn bị khá nhiều thứ. Thật tình mà nói chúng tôi đều ở tuổi “U60”, tự cho phép mình được nghỉ hưu…dù không phải là “cán bộ công nhân viên”; cũng chẳng đi làm bên ngoài mà chỉ làm việc…gia đình theo kiểu amateur. Thu nhập không nhiều  ngoài cái mặt bằng cho mướn tháng vài triệu, nên trong việc chi tiêu đứa nào cũng phải cân nhắc đắn đo từng chút.
Khi lên kế hoạch đi Pleiku thì mục đích điểm đến của chúng tôi là các trại mồ côi người dân tộc của các soeurs như :Vinh Sơn 2, Vinh Sơn 4, Vinh Sơn 6…ở các vùng xa tận KonTum, cách thành phố Pleiku 54 km. Ở Pleiku Ngọc Hải quen thân với Cha Nguyễn Vân Đông; là Linh Mục Giám Đốc Caritas, và là chánh xứ của giáo xứ Thăng Thiên, nên chương trình được sắp xếp như sau: khi chúng tôi đến Pleiku thì sẽ nghỉ lại tại “khách sạn Nhà Thờ Thăng Thiên”,  qua hôm sau cha Đông sẽ cho tài xế lái xe đưa chúng tôi lên KonTum; đến các trại mồ côi…

Chúng tôi đã chuẩn bị cho chuyến đi này cách đây mấy tháng, từ việc “quyên góp” các người quen thân ở trong nước một số đồ đạc như áo quần củ; thuốc men và thức ăn…tùy lòng hảo tâm của mỗi người, đến việc “Alô” cho bạn bè ở phương xa…với một mong muốn là “góp gió thành bão”. Đồ đạc được gởi “chành” đưa lên Pleiku trước, còn chúng tôi sẽ đi máy bay với túi xách áo quần.

Anh Tấn là một tay câu cá có trình độ “cao thủ” ở SàiGòn, ngày ngày anh vô các hồ câu để câu cá thư giãn, câu xong đem…cho vì vợ anh ở nhà rất ngại làm cá. Một buổi chiều qua nhà Ngọc Hải chơi bàn về chuyến đi Pleiku, lan man nói đến chuyện câu cà, Ngọc Hải đưa ra một ý kiến rất thực tế:
– Anh Tấn nên câu thật nhiều cá Trê rồi thẩy qua cho Hại, Hải sẽ làm thành khô để đưa lên cho các trại mồ côi. Cá trê dễ làm lắm; chỉ cần đổ dấm với chút muối vô thùng là lát sau chúng nó sạch hết nhớt, Hải chỉ cần cạo nhớt rồi cắt bỏ đâu, xẻ đôi con cá…ướp muối với rượu ngũ gia bì một đêm; sáng ra đem phơi nắng…
Anh Tấn vổ tay:
– Vậy thì hay quá chừng…câu cá trê rẽ tiến nhất trong các loại cá mà lại dễ câu nhất. Mỗi ngày anh chỉ tốn chưa đầy hai trăm ngàn là câu được hơn chục con cá trê bự bành ky…trong khi câu các loại cá khác vừa mắc; vừa khó câu…mặc dù anh có là câu thủ đi chăng nữa.
Vậy là ngày nào anh Tấn cũng đi câu cá Trê theo “đơn đặt hàng” của Hải, và Hải thì cứ thế mà trổ tài làm…khô. Kèm theo số khô cá Trê “cây nhà lá vườn” thì Thùy, Hải, Anh Tấn còn ra tận vựa cá khô ở Long Hải mua thêm ba thùng khô cá Nục để gởi đi. Tôi là người “dở ẹt” nhất trong số bốn người vì tôi…không biết làm gì cả, chỉ biết hà tiện từng đồng; cắt xén những chi tiêu không cần thiết để dành những đồng tiền “còm cõi” ấy ngõ hầu có thể giúp đở chút đỉnh cho các trại mồ côi. Thật tình thì chỉ như “muối bỏ biễn” mà thôi…nhưng của ít lòng nhiều mà.

LM Nguyễn Văn Đông

Cha(LM) Nguyễn Văn Đông


Khi chúng tôi đến nhà thờ thì cha Đông đã đi ngủ nên không được gặp Ngài. Ba chúng tôi được sắp xếp ở lại trong một căn phòng có sáu cái giường; mỗi cái rộng chừng tám tất, không có nệm mà chỉ có một chiếc chiếu nylon, một cái gối vừa nặng vừa cứng và một cái mền. Nằm trên chiếc giường gổ ba đứa nói đùa với nhau:
– Ngủ như thế này để ăn năn đền tội.
– Để hãm mình chịu khó…
Tôi cười:
– Ôi chao…ngon gấp vạn lần khi Thủy đi di tản ở trong rừng; nằm trên đất; trên đá;trên lá cây rừng…ấy chứ.
Giấc ngủ không đến dễ dàng như tôi mong muốn, giữa  khuya trời bổng dưng đổ cơn mưa lớn, mưa ào ào trút nước xuống thành phố Pleiku như chào đón tôi; một ” Người Pleiku năm cũ” của ba mươi tám năm về trước; khi tôi còn là một giáo sư rất trẻ và đầy nhiệt huyết; khi anh Tấn còn là một anh lính Không Quân hào hoa phong nhã…
Không để ý mới thấy thời gian trôi qua sao nhanh quá; mới đó mà đã ba mươi tám năm chúng tôi đã phải rời xa “Phố núi cao; phố núi đầy mây” thân yêu này vào một ngày đầy kinh hoàng khũng khiếp…không bao giờ quên.
Tiếng mưa rơi thánh thót; buồn buồn trên mái tole của nhà nghỉ đã đưa tôi vào giấc ngủ mặc dù các cơ xương khớp của tôi đau như bị ai đánh đòn.

cantay6

Bệnh nhân phong cùi ngưới sắc tộc(thiểu số) Tây Nguyên

Tôi và Hải thức dậy khi tiếng chuông nhà thờ vang lên rộn ràng ngân nga; dồn dập vui tươi như thúc dục các con chiên đến Thánh Đường. Tôi cùng Hải đi dự lễ còn anh Tấn vẫn đang ngủ.
Vị Linh mục cữ hành thánh lễ khoảng chừng hơn bảy mươi tuổi; tôi đoán đó là cha Đông. Sau thánh lễ gặp cha ngoài nhà nguyện, Hải giới thiệu cha với tôi và tôi vui vì biết mình đoán không lầm. Ba đứa chúng tôi được mời vô nhà ăn để ăn sáng, với sự “năn nì ỉ ôi” của Hải nên cha Đông đồng ý sẽ đi với chúng tôi đến những trại mồ côi; mặc dù Ngài rất bận ( đây cũng là những trại mồ côi luôn được cha lo lắng chăm sóc.). Ngoài việc đem quà cho các cháu nhỏ; cha còn hứa sẽ đưa chúng tôi lên viếng Đức Mẹ Măng Đen; một địa danh nỗi tiếng với rất nhiều phép lạ mà Đức Mẹ đã ban cho những ai thành tâm đến với Mẹ, cũng như tình yêu thương bao la của Đức Mẹ dành cho những con người khốn khổ, nhất là những bệnh nhân cùi hủi. Chúng tôi rất mừng vì sẽ được cha Đông đưa đi viếng Đức Mẹ Măng Đen.
Ăn sáng xong thì đưa đồ đạc lên xe (số đồ mà Hải đã gởi chành, được cất trong kho của nhà thờ). Tôi thật cảm động khi Tuyết Nhung là cô bạn xưa của tôi; làm thư ký của trường trung học Pleiku khi tôi đang là giáo sư ở đó. Tuyết Nhung nghe tôi từ SàiGòn lên thăm các trại mồ côi ở Kontum, vội vàng chở đến mười bốn thúng mì gói (trong số thùng mì này có phần đóng góp của bạn Nhung) và một thùng bột ngọt; gọi là đóng góp một chút lòng thành. Sau khi đã đưa hết đồ lên xe chúng tôi lên đường trực chỉ thành phố Kontum. Tôi thầm nghỉ: đây sẽ là một chuyến đi hứa hẹn rất nhiều điều thú vị…

Con đường từ thành phố Pleiku đi Kon Tum không xa lạ gì với chúng tôi vì chúng tôi đã đi khá nhiều lần. Ba năm về trước chúng tôi cũng đi trên con đường này để đến trại mồ côi VS 4 và VS 6, ngày đó con đường này xầu như thế nào thì bây giờ nó cũng vẫn…xấu như vậy với những ổ gà và những đoạn nhấp nhô gồ ghề. Tuy là đường xấu như thế nhưng chuyến đi của chúng tôi bỗng dưng ngắn lại và vui thật là vui, những dằn xóc khi bánh xe lọt vào các ổ gà hay gập phải những đoạn ghồ ghề khúc khủy nhấp nhô hình như cũng không làm cho chúng tôi bị mệt; nhờ những câu chuyện vui vui; dí dõm mà cha Đông kể cho chúng tôi nghe.
Cha Đông hỏi anh Tấn:
– Tấn còn nhớ cổng Quân Đoàn 2 không?…đây này; đường này vào sân bay.
– Con không nhìn ra được những gì thuộc ngày xưa; ba mươi tám năm rồi còn gì, mọi thứ thay đổi hoàn toàn, không biết dấu tích của Sư Đoàn 6 không quân nằm đâu?
– Còn gì nữa đâu…mất tiêu hết trơn rồi.\
Tôi chợt ngậm ngùi nghỉ đến câu ” dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo…”
Hải vừa khoe vừa năn nỉ:
– Cha có rất nhiều chuyện vui, con thì được nghe nhiều rồi nhưng anh Tấn chị Thủy chưa bao giờ được nghe vì đây là lần đầu tiên anh chị được gặp cha…cha kể những chuyện vui của cha cho anh chị nghe đi cha…Cha à; hình như lúc sáng anh Tiến đi honda tới…con ngờ ngợ vì thấy giống anh Tiến nhưng sao anh này ốm nhom đen thui hà.
Cha Đông cười vui vẻ:
– Thì đúng là anh Tiến chứ còn ai nữa.
Thế là câu chuyện về anh chàng Tiến được Cha Đông và Hải thay phiên nhau kể cho hai chúng tôi nghe: Đó là một anh chàng trẻ tuổi đẹp trai, con của một ông cán bộ cao cấp ờ Sgòn; là một tay ăn chơi khét tiếng, một vũ sư với đôi chân nhảy đầm lã lướt và điêu luyện…các cô “bồ” thì nhiều vô số kể. Thế rồi một buổi chiều tình cờ anh này đi ngang qua nhà thờ Đức Bà; thấy có rất đông người đến dự lễ và đang say sưu nghe Linh Mục giảng. Anh tò mò đứng lại nghe. Bài giảng của vị linh mục đã làm cho anh khóc. Qua hôm sau anh đến nhà thờ Đức Bà để tìm gặp vị linh mục ấy (đó là Cha Đông), anh xin Ngài nói về Đức Chúa của cha cho anh hiểu thêm vì anh là người ngoại đạo. Không ngờ đó là cuộc gặp gở định mệnh vì sau ngày đó anh Tiến đã bỏ hết tấc cả: gia đình, những cuộc chơi, niếm đam mê qua những bước nhảy lả lướt của mình để lên Pleiku học đạo với Cha Đông; sau đó anh trở lại đạo và theo cha làm việc tông đồ; bác ái. Anh tận tụy phục vụ những người nghèo hèn; khốn cùng nhất trong xã hội. Khi cha Đông ngỏ ý giao cho anh trông coi một trại dành nuôi dưỡng những bệnh nhân tâm thần, anh vui vẻ đón nhận và xã thân phục vụ họ mà không e ngại những khó khăn sẽ gặp.
Cha Đông kể:
– Hôm nọ có một người diên rất hung dữ đi vào sân nhà thờ la hết phá phách, cha nghỉ là phải nhốt anh ta vào một cải chuống như chuồng chó thì mới có thể đưa được anh ta vô trại tâm thần của anh Tiến, cha điện thoại cho anh Tiến kể về người điên này, ngay lập tức anh ấy chạy xe hon da đến nhà thờ, cha chỉ người điên và giao cho anh Tiến; sau đó thì cha phải đi công chuyện…ai ngờ qua hôm sau cha hỏi thì anh ấy nói là đã đưa về trại của anh rồi. Cha ngạc nhiên hỏi anh đưa đi bằng cách nào? Anh nói là anh chở người điên về trại bằng xe honda; anh còn tắm rửa sạnh sẽ; chải tóc; thay quần áo cho anh ta nữa..
Cha Đông và Hải kể về anh Tiến với sự cảm phục và đầy yêu mến. Anh Tấn và tôi lặng người đi vì xúc động khi được nghe chuyện của anh Tiến: đó là một con người có tấm lòng bao la với sự hy sinh cao cả, đã dành trọn cuộc đời mình để xã thân lo cho những con người bất hạnh bị xã hội rẽ rúng; khinh miệt và xa lánh.
Cha Đông kể cho chúng tôi nghe về Linh Mục Bác Sĩ Nguyễn Viết Chung, một bác sĩ tài giỏi với sự nghiệp sáng chói, cuộc sống giàu sang phú quí dồi dào vật chất tiền bạc. Thế nhưng vị bác sĩ tài ba này đã từ bỏ tất cả, mặc cho sự ngăn cấm; khóc lóc của cha mẹ (vì gia đình của bác sĩ là người ngoại đạo), Anh vẫn tìm hiểu về Đức Chúa; sau đó thì anh theo đạo, đi tu và cuối cùng trở thành một linh mục, Ngài đã xin bề trên cho Ngài được đến một nơi nghèo nàn xa xôi hẻo lánh để phục vụ cho những con người khốn khổ nhất trong xã hội, vừa là một Linh Mục, vừa là một bác sĩ nên Ngài đã chữa hai thứ bịnh cho con người :tâm hồn và thể xác. Nơi ngài sống và làm việc là trại bịnh sida ở tận trong sâu của vùng…Kontum
Chỉ mới nghe kể về hai con người cao cả này thôi mà tôi đã cảm thấy việc mình làm…như chuyến đi kontum lần này thật nhỏ bé; chẳng đáng là gì, ví như chúng tôi chỉ là những hạt cát tí xíu so với tảng đá lớn.
SỐNG ĐÚNG NGHĨA LÀ SỐNG VỚI THA NHÂN; CHO THA NHÂN VÀ VÌ THA NHÂN

img_0816

Từ Kontum đến trại Vinh Sơn 4 chỉ 13 cây số, con đường vừa nhỏ vừa uốn lượn quanh co, đồi núi chập chùng; nếu chưa từng đi thì cũng không thể nào biết được ở nơi hoang vắng lắm đèo dốc này lại có đến hai trại mồ côi vì không có bãng hiệu; bởi nhà nước không cho phép. Đến trại Vinh Sơn 4, chúng tôi xuống xe. Mùa nghỉ hè nên các em lớn phải đi làm rẫy, chỉ còn lại bà xơ già bị bịnh thấp khớp và hai xơ trẻ. Các em nhỏ gặp chúng tôi thì mừng rở lắm, sau khi cho quà xuống xe , nói ít câu thăm hỏi, trao thuốc men, ít tiền…xong thì chúng tôi phải lên xe để qua Vinh Sơn 6. Đi một đoạn thì quẹo phải, sâu vô chừng hơn 2km thì đến Vinh Sơn 6, soeur Hồng Ân là người Việt; gặp lại “người quen củ” là ba đứa tôi thì mừng lắm. Phía sau trại có thêm hai dãy nhà mới mà cha Đông là người đã bỏ công sức tiến bạc ra để xây dựng; vì ngày càng có nhiều trẻ mồ côi. Nhớ ba năm trước chúng tôi cũng đã đến thăm nơi đây, lúc đó chỉ có một căn nhà gổ tạm bợ với ba mươi mấy em, nay thì…đẹp và rộng rãi; khang trang hơn nhiều, chúng tôi mừng lắm.
Không thể ở chơi lâu hơn như dự tính ban đầu vì “Đức Mẹ Măng Đen” đang chờ chúng tôi. Thế là phải lên xe sau khi  được xơ Hồng Ân tặng cho hai nhánh chuối sứ và một bọc chuối lẻ.

Đường đến Đức Mẹ Măng Đen phải qua một đoạn đèo vừa xấu vì những ổ gà, lại còn uốn khúc ngoằn nghèo như con rắn. Xe chạy qua một rừng thông với đồi núi khá đẹp và rất hoang sơ hẻo lánh; chúng tôi thật ngạc nhiên khi thấy có rất nhiều biệt thự được xây dựng ở nơi này…có cái đã hoàn tất, có cái còn dở dang nhưng hầu hết đều bỏ hoang để cho cỏ dại mọc um tùm. Nhìn thật kỷ, suy đoán tùm lum chúng tôi cho rằng: nơi đây chẳng có Thiên Thời; Địa Lợi; Nhân Hòa gì hết, mặc dù phong cảnh đẹp, khí hâu mát mẻ nhưng lại quá  xa xôi cách trở ngại…đủ điều…ai mà đến đây mua biệt thự để ở? có mà ở với…ma…Biết đâu chừng…ngủ một đêm sáng ra chỉ còn là cái xác không hồn vì bị…cướp nó giết…Đúng là một lũ khùng khi làm dự án biệt thự nghỉ dưỡng ở cái xứ quá hẻo lánh hiu quạnh này.
Đài Đức Mẹ nằm bên khúc quanh của một đoạn đường đèo, tương truyền rằng khi xe ủi đất muốn ủi con đường này đi thẳng theo kế hoạch nhưng hể xe ủi đất chạy đến đây thì chết máy, cứ như thế mà không sao ủi được. Anh Tài xế biết có sự lạ nên cho xe ủi chạy vòng qua khúc đường đó; và xe ủi không gặp trục trặc gì nữa. Sau đó thì biết là có tượng Đức Mẹ bị những kẻ vô thần xô ngã để nằm vùi dưới đất bao nhiêu năm trời.

IMG-2809 (1)


Tượng Đài Đức Mẹ đứng giữa đồi núi hoang sơ, chung quanh đài Đức Mẹ người ta đến khấn xin ơn rất đông; chung quanh tượng đài được người hành hương cắm đủ loại hoa tươi đủ sắc màu; không chổ nào là không có hoa…khói hương tỏa bay nghi ngút, phía trong là rừng thông đầy bóng mát và hằng trăm ghế đá xếp từng hàng. Nhìn lên tượng Đức Mẹ thì không lớn lắm; bề cao của Mẹ chừng một mét mà thôi, nhưng lạ một điều là khi chúng tôi đứng dưới tượng đài Đức Mẹ để chụp hình thì thấy trong hình bỗng dưng Đức Mẹ cao lớn như người thật; dù chúng tôi đứng ở góc cạnh nào: đứng gần; đứng xa; hay sát bên hông hoặc ở  phía trước…vv…Phải chăng đó là phép lạ?
Gặp những đoàn hành hương viếng Đức Mẹ, cha Đông không ngại tự giới thiệu về mình và sự tích Đức Mẹ Măng Đen. Ngàikể cho cúng tôi biết lý do tại sao mặt của Đức Mẹ bị méo mó, hai tay Đức Mẹ bị cụt:
– Tượng đài Đức Mẹ được một số binh sỉ trấn đóng ở Kontum dựng lên từ năm 1971, thời gian đó nơi đây giống như là vùng Địa đầu giới tuyến, hai bên đánh nhau ác liệt lắm. Sau này khi vc chiếm đóng, một số tên vô thần đã bắn vào đầu Đức Mẹlàm nát khuôn mặt và cụt hai cánh tay rồi chúng nó giật sập, Đức Mẹ bị vùi ở trong đống đổ nát một thời gian dài. Sau này khi được Mẹ báo mộng thì người ta đã đào bới và tìm thấy tượng Đức Mẹ. Nhiều người cố gắng làm lại khuôn mặt của Mẹ giống như trước nhưng đành chịu, khuôn mặt của Mẹ cứ bị méo mó…còn hai tay của người thì không ai có thể gắn vào được, hể gắn tay vào là sút ra nên cuối cùng phải làm theo ý của Đức Mẹ là để hai tay bị cụt và khuôn mặt thì méo mó u buồn đau khổ…
Cha Đông kể tiếp sau khi nghỉ một chút:
– Cách đây mấy năm cha đưa một số người dân tộc bị bịnh cùi đến đây viếng Đức Mẹ, vừa trông thấy Đức Mẹ họ khóc quá chừng rồi nói với cha :”- pốc Đông ơi…đây là Đức Mẹ của người cùi chúng con, Đức Mẹ cụt tay như chúng con, mặt Đức Mẹ méo mó buồn rầu đau khổ như chúng con…đây chính là Mẹ của người Thượng cùi chúng con”. Nghe họ nói mà cha xót xa trong lòng…
Kể xong câu chuyện cha khởi xướng cho mọi người Công Giáo đang có mặt đọc kinh lần hạt Mân Côi. Buổi trưa theo dự tính thì cha sẽ đãi chúng tôi một bữa cơm ở nhà hàng, thế nhưng tình cờ Ngài gặp được gia đình anh Lộc là giáo dân cũ  của cha, gia đình anh năn nỉ mời cha và chúng tôi cùng ăn cơm “tay cầm” với gia đình anh. Thế là bữa ăn được dọn ra trên một tấm bạt dưới bóng mát của rừng thông. Chưa bao giờ chúng tôi được ăn một bữa ngon đến như vậy; dù thức ăn chỉ là bánh mì; thịt heo quay, chả giò chiên, gà luộc; bánh tráng, bánh chưng kèm thêm những chén nước mắm, nước tương…
Sau buổi ăn trưa đầy tình thân ái, chúng tôi chào tạm biệt gia đình anh Lộc và lên đường trở về Pleiku, nhưng khi đến Kontum phải ghé vô Vinh Sơn 2 để “xuống” chút quà cho soeur Jang; luôn tiện thăm đứa con gái nuôi của chúng tôi đang tập sự làm Gía (soeur), cháu đã tốt nghiệp cấp ba cách đây bốn năm, học mấy năm tiếng Anh, tiếng Pháp và làm hướng dẫn viên du lịch mỗi khi có đoàn nước ngoài đến Kontum, ngoài ra thì cháu dành hết thời gian để chăm sóc các em nhỏ trong trại.

Trên đường về Cha Đông kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện thật vui; mặc dù cha kể một cách dí dỏm, hài hước nhưng qua những câu chuyện Ngài kể; tôi biết Ngài là một con người rất tinh tế; giàu lòng nhân ái, khiêm nhường và có một sức làm việc bền bỉ không biết mệt, vì Ngài không chịu nghỉ ngơi.
Cha nói:
– Tôi luôn dạy cho các con đang đi tu tận hiến cuộc đời mình cho Chúa là phải biết sống khiêm nhường, yêu thương và phục vụ mọi người hết lòng; hết sức mình, phải biết làm những công việc hèn mọn nhất…dù đó là việc dọn nhà xí…
Ngài cười lớn khi nói đến câu “dọn nhà xí” rồi nói tiếp:
– Để cha kể cho Tấn Thủy nghe chuyện này…chu choa ơi, cha xây mấy cái nhà xí cho các bổn đạo, có bồn nước để dội cầu, có giấy để chùi, có luôn cái giỏ để đựng giấy…thế mà người ta không ý thức được những việc đơn giản mình phải làm…họ cứ đi bừa bãi, vức giấy lung tung mà cũng chẳng ai chịu dội cầu sau khi đi vệ sinh xong…làm cha và các thầy, các ông; các bà phục vụ… thay nhau chùi rữa…
Tôi rùng mình:
– Ghê quá…không lẽ tình trạng đó kéo dài hoài sao cha?
Cha cười:
– Đâu có; sau bao nhiêui ngày cùng khổ sở, một bữa nọ cha nghỉ ra được một chiêu tuyệt vời,…hà…hà…chiêu này thiệt là…hết ý…ha…ha…ha…cha thật không ngờ luôn…
Anh Tấn nôn nóng:
– Chiêu đó như thế nào hả cha? con tò mò quá.
Cha Đông ngừng cười và kể về chiêu đối phó của mình:
– Cha sai mấy thầy viết cho cha mấy tờ khẩu hiệu to đùng dán ở trong cánh cữa của nhà xí với năm điều viết lên đó; chỉ cần bước vô nhà xí; đóng cửa lại là đọc được ngay năm điều ấy, đó là:
1/- Mời an tọa
2/- Tác xạ chính xác.
3/- Ngân phiếu bỏ thùng.
4/- Dẫn thủy nhập điền.
5/- Thượng lộ bình an.
Từ khi dán giấy đó lên cửa nhà xí thì những người phục vụ trong nhà thờ, kể cả cha và các thầy không ai còn phải chịu cái cảnh…phải đi dọn nhà xí mỗi ngày nữa; vì khi vô trong đó người nào cũng tuân thủ năm điều ghi trên giấy.
\    Chúng tôi cười quá chừng, tôi hỏi cha:
– Nhưng nếu có những người không biết chữ thì sao?
-À…cha cũng nhắc nhở cho giáo dân trong nhà thờ về năm điều mà cha đã cho viết lên giấy, dán trong cửa nhà xí nữa…với lại người không biết đọc thì cũng biết đánh vần lỏm bõm…không đến nổi nào. Nói chung thì từ ngày dán tờ giấy đó lên cửa nhà xí thì mọi chuyện rất là…ổn.
– Cha thông minh quá chừng.
Cha Đông cười vui vẻ:
– Trời…có những chuyện tréo ngoe…cười ra nước mắt ấy chớ. Như chuyện có hai bà giúp việc cho nhà xứ; một buổi sáng cha kêu hai bà tới và than thở: “- Này hai bà…cha chỉ có một món quà nhưng ở đây có đến hai bà…cha lưỡng lự không biết dành món quà đó tặng cho bà nào đây?”. Hai bà nhao nhao dành nhau:”- Cha tặng cho con đi cha…”, “- Áí chà chà.., cha không thể tặng bà này mà bà kia không có…như vậy đâu còn công bằng nữa; thôi vậy; để được công bằng thì bốc thăm nhé?” Hai bà vổ tay reo to như con nít:”- Dạ…đúng đó cha, bốc thăm là công bằng nhất”.
Cha ngừng kể; uống một ngụm nước, sau đó Ngài cười  và kể tiếp:
– Thế là cha vô trong viết hai cái thăm, sau đó ra ngoài gặp hai bà, cha giao hẹn:”- Cái thăm nào có chữ X là được quà, cái thăm nào có số 0 là không được nhận quà…” Bà Tứ dành rút thăm trước rồi đến bà Lạc. Khi mở mãnh giấy ra bà Lạc vổ tay vui mừng reo:”- A ha…hên quá con được nhận quà rồi…đây nè cha…thăm của con là chữ X”. Còn bà Tứ thì buồn xo:”- Xui quá…con bốc trúng chữ O…chẳng được quà của cha…” bà Lạc hí hửng: “- Quà của con đâu cha?” “- Quà cha để đằng sau nhà; đi theo cha nhận quà”. Thế là một bà tò mò đi theo cha để xem món quà ra làm sao còn một bà thì hí hững đi theo để nhận quà. Khi đến nhà xí cha mở cửa chỉ cho bà Lạc: “- Đây là món quà của cha…bà hảy làm vệ sinh sạch sẻ cái nhà xí này nhé.”…Ấy thế là bà Tứ cười reo:”-Mừng quá…con tưởng mình xui nhưng ai ngờ lại hên…”, còn bà Lạc mặt mủi thì buồn xo nhăn nhó:”- Cha chơi khăm con rồi, con tưởng đâu mình hên; ai ngờ lại xui quá chừng…”
Chùng tôi thích thú vì câu chuyện đầy ý nghĩa sâu xa này, nó như một triết lý sống của cuộc đời; rất là thâm thúy.

4(18)

Đúng bốn giờ rưởi chiều thì chúng tôi về đến nhà thờ Thăng Thiên, cha Đông phải dọn bài giảng để chuẩn bị dâng thánh lễ ban chiều, còn ba đứa chúng tôi đã thắm mệt vì bị “nhồi xóc” suốt một chặng đường dài. Ngọc Hải không kịp tắm rửa thay đồ mà cứ thế ” phóng lên giường” nằm dài; còn tôi thì nhanh chân chiếm cứ cái nhà tắm; sau đó thì leo lên giường thư giãn. Bây giờ thì cơn đau các cơ xương khớp bất đầu hành hạ tôi…khổ sở vô cùng mỗi khi [phải trở mình, nhưng nếu không lăn qua trở lại cái thân mình thì mỏi không chịu được. Nằm mãi cũng mệt, tôi alô cho Tuyết Nhung, Nhung đến chở tôi đi lòng vòng thành phố.
Pleiku chỉ đẹp và thơ khi có “Em Pleiku má đỏ môi hông”; và ” ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông…”.Nay thì Pleiku thay đổi hoàn toàn, bài thơ của anh Nguyễn Hữu Định ” Còn chút gì để nhớ” ngày ấy thì nay chỉ còn là huyền thoại mà thôi. Không còn những hàng thông cao “lặng đứng hứng bụi xa”, không còn những ngôi “nhà lẩn trong cây còn phố xá thì ẩn trong mây”. Không thể kiếm đâu ra ở phố núi cao này hình ảnh những người dân tộc mang gùi trên lưng đi thành một hàng dài; đàn ông đóng khố, phụ nử ở trần lộ ngực; phía dưới quấn xà rông; còn các em nhỏ thì ở truồng. Phố núi cao của tôi ngày xưa; của ba mươi tám năm về trước đã mất hoàn toàn, bây giờ chỉ là một thành phố với đủ thứ đèn màu hoa lệ như bao thành phố khác trên đât nước VN này, nó trở nên quá bình thường với những màu sắc diêm dúa của những ngôi nhà đủ kiểu. Vì Phố Núi Cao của chúng tôi ngày ấy nên thơ lắm, dễ thương lắm với những nét mộc mạc hoang sơ của một cô Sơn Nữ…nay thì cô Sơn Nử ấy đã trở thành người phố thị…xanh xanh đỏ đỏ. Tôi không tìm đâu được một chút gì của một Pleiku ngày xa xưa ấy vì thế nên tôi buồn khi cảm thấy lòng mình không còn chút vấn vương mà chỉ là nỗi tiếc rẻ vì sự thay đổi hoàn toàn của thành phố Pleiku này.
Nhung đưa tôi về lại nhà thờ vì đã đến giờ cơm tối. Chúng tôi hẹn gặp nhau ngày mai.    Cơm xong tôi lên phòng nghỉ nhưng lại thêm một đêm khó ngũ vì thân xác đau nhức, tâm hồn xót xa khi nghỉ về Pleiku của ngày xưa và Pleiku bây giờ.
Sáng Chúa Nhật có lễ Đồng Tế tạ ơn của hai Linh Mục vừa được chịu chức, hai linh mục này là “con” của cha Đông, cha nhận đở đầu cho hai người này khi họ vừa mới nhập dòng. Trong buổi lễ cha Đông đã có một bài giảng ngắn gọn nhưng đầy tuyệt vời và đầy ý nghĩa. Ngài xoáy mạnh vào hai chữ Chạnh Lòng của con người. Biết Chạnh Lòng là biết xót thương, biết xót thương biết tha thứ, biết tha thứ là biết cảm thông và chia sẻ. Chữ Chạnh Lòng của Ngài nói bao gồm tất cả những gì tốt đẹp nhất của con người. Ai không biết Chạnh Lòng thì sẽ có một trái tim chai đá lạnh lùng; đó là điều thật kinh khủng…và sẽ là nguyên cớ cho mọi sự tội…
Bài giảng của cha làm chúng tôi vô cùng cảm kích và xúc động. Ngài đã nói rất đúng :Sống là phải biết chạnh lòng. Sau buổi lễ chúng tôi ăn sáng cùng với cha. Sáng nay cha đãi tiệc mừng hai vị linh mục mới nên Ngài đã mời rất đông người đến dự. Ba đứa chúng tôi thấy trong hội trường đông quá nên “lủi” ra nhà sau, cả ba đứa thích nhất là món cháo trắng ăn với chà bông cá nên ” xin nhà bếp” ba tô nhỏ cháo trắng…ngon thật ngon. Ăn sáng xong thì cha cho tài xế đưa chúng tôi đi thăm các trại xã hội do cha thành lập; những trại này dành để nuôi dưỡng những con người bị bỏ rơi; những thân phận yếu hèn bệnh tật, mất trí; điên khung…nhiều lắm và nhiều lắm những công việc Bác Ái Xã Hội mà Ngài đã làm; đang làm và tiếp tục làm. Chúng tôi được đi thăm nghĩa trang Đồng Nhi do cha xây dựng trong khu vực nghĩa trang của thành phố, (ở Kontum cha cũng thành lập một nghĩa trang như thế, và vợ chồng anh Phong là chủ khách sạn Family đang trông coi). Tại nghĩa trang Đồng Nhi này tôi được gặp anh Phụng, một người chạy xe ôm, anh cho tôi xem xấp hình của những thai nhi bị phá bỏ mặc dù các cháu đã có đủ hình hài, hoặc khi vừa sinh ra thì bị người mẹ liệng bỏ đâu đó…các cháu đã bị chết khi vừa có sự sống.  Nhìn những tầm hình của các cháu mà lòng tôi đau xót quá, tôi không thể diễn tả được hình hài của mỗi một tấm ảnh bởi vì nó quá kinh khủng; tôi nghiệp và vô cùng đau đớn, lúc đó tôi chỉ biết chảy nước mắt thương xót….anh Phụng kể:
– Em theo cha Đông ngay từ những ngày đầu khi Ngài thành lập nghĩa trang Đồng Nhi này. Có những tối đang nằm ngủ em nghe tiếng các cháu kêu…chỉ cho em biết nơi các cháu bị vứt, khi đến nơi thì em thấy ngay xác của cháu, em đem về chôn cất…những ai đến viếng có lòng hảo tâm thì phụ với em tiền xây mộ cho các cháu…
Từ giã Phụng sau khi đọc kinh cầu xong, chúng tôi được tài xế đưa đến thăm đồn điền cà phê của các soeurs dòng Phao Lồ; thăm nhà nuôi dưỡng dạy nghề cho các cháu không may mắn, trại nuôi người điên mà anh Tiến đang trông coi…nhiều nơi để đến thăm lắm…Nhưng thật tiếc cho tôi vì tôi đã hẹn với Tuyết Nhung đến dự một cuộc họp mặt của các văn nghệ sỉ Liên Trường Pleiku nên không đi cùng với Anh Tấn và Hải được… Đành hẹn lại lần sau.
Về lại nhà thờ, ăn cơm trưa cùng với cha Đông xong thì chúng tôi lên phòng ngủ chút xíu rồi còn phải thu dọn hành trang lên đường về lại SàiGòn…
Buổi chiều sau khi đồ đạc đã đâu vào rồi; ba đứa chúng tôi xuống ngồi hóng gió trên băng ghế đá bên hông nhà Nguyện; bất thình lình có một phụ nữ ngưởi dân tộc còn trẻ chở một đứa nhỏ khoảng chừng năm tuổi chạy ào vô sân trước nhà ăn, cô dừng xe đến ngồi xuống ghế đá cạnh đó và khóc nức nở. Anh Tấn hỏi cô mấy câu nhưng vì cô nói chuyện lơ lớ âm hưỡng của người thượng pha người kinh nên không sao hiểu được cô ta đang nói gì. Sau đó ông từ nhà thờ đi đến hỏi thăm thì mới biết rằng : hôm qua cô ta bị chồng đánh te tua bầm dập; sáng sớm hôm nay cô xách xe chở theo đứa con gái lớn chạy trốn ông chồng ưa uống rượu; mỗi lần uống say thì lôi vợ ra làm bao cát đánh đấm tơi bời hoa lá…nhà cô ta ở cách đây bốn mươi tám cây số. Nay cô ấy muốn đến nương nhờ ờ nhà thờ của “pốc Đông” ( cha Đông).
Ông từ đầu bạc la lối om sòm:
– Không được…nhà thờ không chứa chị đâu; cha Đông không cho chị ở được…đâu phải ai muốn ở trong nhà thờ là được ở…về với chồng chị đi…đừng để hắn đi tìm chị…rồi đến đây làm ầm lên thì…chết.
Chị ta im lặng cúi đầu khóc nức nở; mặc cho lời xua đuổi của ông từ; chị vẫn nhất định chờ gặp cho được “pốc Đông”. Anh Tấn thấy sự xua đuổi hung hăng của ông từ thì đâm ra Chạnh Lòng, anh từ tốn nói với ông từ:
– Bác đừng xua đuổi cô ấy như vậy, cứ chờ cho cổ gặp cha Đông cái đã; nếu bác xua đuổi cô ta; bắt cổ phải đi…lỡ như trên đường đi cổ đang khủng hoãng vì vừa bị chồng đánh phải bỏ trốn đến nhà thờ mong tìm được chốn nương thân, nhưng lại bị bác xua đuổi, lỡ như tâm trạng cô ta bất ổn rồi gặp tai nạn thì có phải bác cũng có phần trách nhiệm không nào? lúc đó bác sẽ ân hận suốt đời.
Ông từ lúc đó mới ngớ người ra; ông ta gật đầu nói:
– Anh nói đúng; thế mà tôi không nghỉ ra, thôi…chị cứ ở đây chờ pốc Đông.
Thật là may khi chị ta không phải chờ đợi lâu vì cha Đông đã xuống, chị chạy đến bên cha; khóc lóc kể lễ với cha chuyện chị bị chồng đánh (bầng tiếng dân tộc). Cha xót xa nhìn gương mặt đen đúa, thân mình ốm nhom ốm nhách tơi tã của chị; cha nói với Hải đang đứng cạnh đó:
– Ngọc Hải đưa cháu nó vào trong phòng mấy bà, xem thừ chồng nó đánh nó có bị thương ở đâu không? rồi thu xếp cho mẹ con nó tắm rữa…các bà bếp xem trong bếp còn gì ăn thì lấy cho hai mẹ con nó ăn; tội nghiệp chắc là chúng nó đói bụng lắm.
Hải đưa chị ta vô trong; một lúc sau Hải ra cho biết chị ta bị đánh thâm tím nhiều chổ đau đớn lắm; thấy tội nghiệp hết sức. Cha Đông kể:
– Bảy năm về trước nó cũng đã từng ở đây giúp cha, sau đó thì lấy chồng…mà tụi đàn ông dân tộc bây giờ suốt ngày uống rượu say xỉn lại còn ưa đánh đập vợ con nữa chớ…
Anh Tấn suy đoán:
– Có lẽ do người thượng theo chế độ Mẫu hệ; đàn bà đi làm rẫy và làm luôn những công việc nặng nhọc còn đàn ông ở nhà… rảnh rỗi quá nên cứ túm tụm nhau mà uống rượu, khi say xỉn thì đánh đập vợ con…đây chính là tệ nạn bạo hành.
– Điều đó cũng là một trong những nguyên nhân…như con bé này chỉ vì hôm kia nó đi ăn bánh xèo với bạn, gặp lúc trời đổ mưa không về kịp, mãi đến tận khuya mới về, bị thằng chồng đang say xỉn, nỗi cơn ghen nên đánh cho con vợ một trận nhừ tử. Thôi thì cứ để cho mẹ con nó ở tạm đây, vài bửa thằng chồng nó đến kiếm cha sẽ lựa lời khuyên bảo chớ biết làm sao bây giờ.
Tôi nói nhỏ với anh Tấn và Hải:
– Cha đúng …vừa là một người cha nhân hậu vừa là một bà mẹ nhân từ, vòng tay cha bao la ôm hết mọi mãnh đời khốn khó…Thủy ngưỡng mộ cha Đông quá chừng.
Hai người cùng gật đầu:
– Đúng là như vậy.
Thật trùng hợp; một sự trùng hợp rất tình cờ khi buổi sáng cha Đông giảng vể sự Chạnh Lòng thì ngay buổi chiều chúng tôi được Chạnh Lòng với cha.
Đã năm giờ chiều; chúng tôi mang hành lý xuống để ra sân bay vì bảy giờ tối là máy bay cất cánh. Sau khi ăn cháo lót dạ xong chúng tôi chào tạm biệt cha và mọi người. Lần này từ giã Pleiku, tâm trạng của tôi không giống như ba mươi tám năm về trước khi rời xa Phố Núi. Nay thì Pleiku đã thay đổi hoàn toàn, tôi tiếc lắm khi trên đường vào phi trường…không thể tìm lại được một nét gì quen thuộc của ngày xưa, mất hết rồi khung trời cũ…
…NHƯNG…
…Tôi thật vui và cảm động vì tôi đã được gặp những  người có một tấm lòng hy sinh cao cả, luôn xã thân quên  mình để hết lòng phục vụ cho những người khốn cùng; bất hạnh; khó nghèo bệnh tật…những công việc họ làm đã gieo vào lòng chúng tôi một sự cảm phục và xúc động sâu xa, điển hình là cha Đông, cha Chung, anh Tiến, anh Phụng…nếu ở lại thêm vài ngày tôi sẽ còn được gặp nhiều người nữa…
…VÀ…
…Đó chính là nét sáng đẹp trong tâm hồn của những con Người với những giá trị tuyệt vời; không có thứ gì trên  đời có thể so sánh được…(cho dù có là khung trời củ của Phố Núi ngày xưa đi chăng nữa).
Tôi bị mất những gì đẹp nhất của Pleiku ngày đó nhưng tôi lại may mắn được gặp  những người có trái tim nhân ái; luôn biết:
Chạnh Lòng Thương Xót.
Đây chính là điều còn mãi với muôn đời

nguồn Phố núi PLeiku

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s