Tự lực văn đoàn “nhóm lợi ích ” trong đời sống văn nghệ ,văn học !

TÀI LIỆU

logo sách

Tự lực văn đoàn,

một “nhóm lợi ích” trong đời sống văn nghệ

Lại Nguyên Ân

Lại Nguyên Ân

Văn hóa Nghệ An

Trong dịp nhớ về 80 năm ra đời Tự Lực văn đoàn (TLVĐ), có khá nhiều bài viết, nghiên cứu thảo luận về văn đoàn này; song như thường lệ, số lớn ý kiến thường chỉ thiên về kể công lao, đóng góp của TLVĐ, xem nó như một tấm gương; ít thấy ai đặt hoạt động TLVĐ vào đời sống văn nghệ đương thời để mô tả, nhận định các hoạt động cụ thể của nó; cũng ít thấy ai chú ý tìm hiểu xem TLVĐ được cảm nhận ra sao trong tầm nhìn của những người đương thời, nhất là những đồng nghiệp viết văn làm báo, hoặc công chúng văn nghệ thời ấy.

Thiết nghĩ, nếu xem xét hoạt động của TLVĐ từ tầm nhìn gần, không lý tưởng hóa, người ta sẽ thấy TLVĐ ra đời và hoạt động như một nhóm lợi ích.

Khái niệm “nhóm lợi ích” được sử dụng vào nghiên cứu ở lĩnh vực xã hội nhân văn, song chỉ mới thường được dùng để xem xét các hoạt động kinh tế xã hội hơn là các hoạt động văn hóa nghệ thuật. Nhưng thật ra, trong loại hình đa dạng các nhóm lợi ích, bên cạnh nhiều loại khác, người ta cũng kể tới các nhóm có tổ chức trong các lĩnh vực tôn giáo, khoa học và văn hóa (nhà thờ, các giáo phái, các hiệp hội khoa học, các hội văn nghệ sĩ, v.v…). [1]

Những nhóm văn nghệ sĩ được liên kết một cách tự do, tự nguyện, theo đuổi các hoạt động văn hóa-xã hội có hoặc không có lợi nhuận, hầu hết đều có thể xem như các nhóm lợi ích. Ta thấy rõ, chẳng hạn, một tờ báo tư nhân không thể là một “xí nghiệp công ích”; nó do một người hoặc một nhóm bỏ vốn đầu tư và điều hành hoạt động, hưởng lợi hoặc chịu thiệt hại từ kết quả hoạt động của mình.

, Ngày Nay (1935; 1936-1940), và nhà xuất bản Đời Nay (1934-1945).TLVĐ gồm 7 thành viên: 1/ Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), 2/ Khái Hưng (Trần Khánh Giư), 3/ Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), 4/ Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), 5/ Thế Lữ (Nguyễn Đình Lễ), 6/ Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), 7/ Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu); các thành viên này cùng với nhiều người khác trong gia đình Nguyễn Tường và một số người thân khác của các thành viên, hoạt động trên 2 tờ tuần báo Phong Hóa (1932-1936)

2c8b427620bb446eba4a1c1b94a98d32

Nhóm Tự lực văn đoàn: Xuân Diệu, Khái Hưng, Nhất Linh, Thế Lữ (từ trái sang)

So với nhiều nhóm nhà văn khác, khi tụ khi tán, suốt những năm 1930-1945, thì cơ sở ấn loát kể trên của TLVĐ tỏ ra vững vàng hơn hẳn. Tuy nhiên, các cơ sở báo chí xuất bản này không hoạt động như một cơ sở kinh doanh ấn loát bất kỳ nào đó.

Người ta biết, chẳng hạn, nhà xuất bản Tân Dân của Vũ Đình Long hoạt động xuất bản sách báo như một tổ chức sản xuất kinh doanh ấn phẩm, chủ yếu là các loại ấn phẩm văn học; doanh nghiệp này làm ra khá nhiều loại ấn phẩm, cả đều kỳ (tuần san, bán nguyệt san, nguyệt san) lẫn không đều kỳ (sách), quy tụ sự tham gia của khá nhiều nhà văn, dịch giả, nhà biên khảo; tuy vậy, doanh nghiệp này lại không tính đến, thậm chí không chấp nhận sự tập hợp các nhà văn tại đây theo các dấu hiệu đồng thuận về những tư tưởng hay thị hiếu nghệ thuật nhất định. Do vậy, giữa ông chủ Tân Dân và các nhà văn cộng tác với các ấn phẩm của nhà Tân Dân chỉ có các quan hệ lao động (thuê người làm và làm thuê) hoặc thương mại (mua bản thảo, bán bản thảo) mà trong đó sự xung đột lợi ích là khá thường trực (dù không lớn, chủ yếu chỉ xoay quanh vấn đề định mức hoặc cách tính nhuận bút), sự cộng đồng lợi ích tuy vẫn có nhưng là tương đối nhỏ; còn lại, hầu như không có gì gắn bó họ với nhau thành một nhóm lợi ích.

Trong khi đó, các tờ Phong Hóa, Ngày Naynhà xuất bản Đời Nay ưu tiên hoạt động như công cụ, như phương tiện của nhóm tác gia trong TLVĐ. Nó ưu tiên đăng tải tác phẩm của các thành viên trong nhóm, sau đó mới dành chỗ đăng một số tác phẩm của các cộng tác viên, tức là những người ngoài nhóm ấy, chỉ có liên hệ hoặc thân hoặc sơ với hầu hết hoặc một vài thành viên của nhóm. Ngay sau khi sắp hoàn tất việc đăng báo, các tác phẩm của các thành viên sẽ được chuyển sang khâu in thành sách. Chính nhờ được đặt vào quy trình liên tục này về ấn loát nên các tác phẩm của các nhà văn trong TLVĐ đều được công bố trọn vẹn, hầu như không tác phẩm nào bị dở dang, mất mát (trừ những tác phẩm mới chỉ đăng trên Ngày Nay, kỷ nguyên mới, 1945, ví dụ truyện dài Xiềng Xích của Khái Hưng). Trong sự tiếp cận của các giới sự tầm nghiên cứu hậu thế, đây là một lợi thế khá lớn của các nhà văn trong TLVĐ so với phần đông tác giả đương thời, tác phẩm thường đăng tải trên nhiều tờ báo khác nhau, thường bị gián đoạn do các báo bị đóng cửa hoặc có thay đổi thành phần tòa soạn, rốt cuộc là số tác phẩm bị thất lạc, mất mát không ít.

Cùng với việc đảm bảo tốt khâu công bố tác phẩm cho các nhà văn trong nhóm, TLVĐ còn chú trọng tạo dư luận, gây tiếng vang cho các nhà văn thành viên, xây dựng uy tín, giá trị cho sự nghiệp văn chương của họ. Đây là một chiến lược nhiều mặt, được hai tờ báo Phong Hóa, Ngày Nay và các thành viên TLVĐ ráo riết thực hiện theo nhiều cách, nhất là trong dăm bảy năm đầu từ khi nhóm này xuất hiện.

Chẳng hạn, người ta có thể thấy, từ khi ra đời (1933) đến khoảng 1938, TLVĐ có chiến lược hạ uy tín những tác gia khác, ngoài văn phái mình.

PhongHoaNgayNay

Trước hết, việc này nhắm vào những người già, những tác gia thuộc thế hệ trước.

Vì sao một trong những thói tật khá phổ biến ở xã hội đương thời là tật nghiện rượu, lại không được các biếm họa trên Phong Hóa gán cho hai gã Lý Toét, Xã Xệ hư cấu, như đối với nhiều thói tật khác, mà lại gán cho một Tản Đà cụ thể? Điều này, vào năm 1937, Vũ Trọng Phụng có lời giải:

Xưa kia, muốn cho Thế Lữ nổi tiếng về thơ mới, Tự Lực văn đoàn đã phải dùng đến cách làm cho thiên hạ tưởng Nguyễn Khắc Hiếu là một kẻ không có tư cách nhân phẩm gì nữa, khốn nạn vô cùng”. [2]

Cố nhiên, đến những năm 1938-39, TLVĐ sẽ thay đổi thái độ, trên Ngày Nay sẽ có những bài khen ngợi thơ Tản Đà, rồi nhà Đời Nay đề nghị in thơ Tản Đà thành các tập tuyển, v.v… Nhưng ở thời đầu TLVĐ, việc nhóm này đả kích Tản Đà, là điều thấy rõ; đó cũng là lúc phong trào thơ mới đang khởi lên, việc bài xích thơ cũ, khuếch trương thơ mới được xem là một nhiệm vụ lớn mà TLVĐ muốn giành lấy trọng trách.

Có thể nói, TLVĐ, thông qua các biếm họa, hý họa, các mục vui cười trên Phong Hóa, đã tỏ rõ một ý hướng liên tục bôi nhọ thể diện khá nhiều nhân vật uy tín đương thời. Trong số ấy, Tản Đà chỉ là một, và hẳn chưa phải là đối tượng hàng đầu. Bởi, ngay từ đầu, được nhắm đến thường xuyên ở các trang châm biếm, hý hước của Phong Hóa là bộ đôi Vĩnh – Quỳnh.

Nước Nam có hai người tài

Thứ nhất sừ Ĩnh thứ hai sừ Uỳnh

Một sừ béo múp rung rinh

Một sừ lểu đểu như hình cò hương

Không vốn liếng chẳng ruộng nương

Chỉ đem dư luận bán buôn làm giàu

Bây giờ đang xỉa xói nhau

Người cầu lập hiến, kẻ câu trực quyền

“Thưa các ngài, thực vi tiên,

Muốn xem chiến đấu, quẳng tiền vào đây [3]

Bài thơ châm biếm này phải chăng là “hiền lành”, “vô hại”, theo như lời bình của không ít phê bình gia hậu thế? Thưa không! Bởi sự lược quy nghề làm báo vào nghề “buôn bán dư luận”, – xưa cũng như nay, dù là câu đùa cũng vẫn cứ nhuốm màu xuyên tạc độc ác; vả chăng, tại sao văn phái Tự Lực lại loại trừ mình khỏi nghề “buôn bán dư luận” trong khi chính mình cũng làm báo? Ở đây, tư tưởng chính trị của Phạm Quỳnh về một nền “quân chủ lập hiến”, của Nguyễn Văn Vĩnh về thiết chế “cai trị trực tiếp” của chính quyền Pháp, – vốn là hai đề xuất có trọng lượng trong những thảo luận đương thời về tương lai chính trị Đông Dương, – đã bị nhóm Tự Lực đả kích phủ định. Vậy nên, có thể nói, nếu từ thời ấy cho đến tận cuối thế kỷ XX, một bộ phận lớn của công chúng người Việt vẫn còn giữ những định kiến bất công đối với hai nhân vật hàng đầu này của văn hóa Việt Nam thời hiện đại (Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh), thì, góp vào việc xây dựng những định kiến ấy, phổ cập định kiến ấy vào công chúng, không thể không có phần công sức đáng kể của Phong Hóa, Ngày Nay, hai cơ quan của TLVĐ!

e00a6ff4a5d640dc83e3bd40669ce9a3

Tuần báo “Phong Hóa”, đóng cửa sau bốn năm hoạt động

Ngay Phan Khôi, cùng thế hệ Tản Đà, người đã rất sớm nhận ra và lên tiếng khen giọng điệu báo chí mới mẻ của Phong Hóa, [4]nhưng đáp lại, Phong Hóa luôn dùng lối diễu cợt để giữ khoảng cách, để dứt khoát gạt Phan Khôi về phái già. Bỏ qua rất nhiều trò chọc ghẹo vốn là đương nhiên khó tránh khỏi của thể tài hài báo, ít ra vẫn có một sai lạc không thể biện hộ, ấy là việc Phong Hóa và TLVĐ tạo ra thành ngữ “lý luận Phan Khôi” với hàm ý chế nhạo.

Trong khi tư duy lô-gích là cái thiếu nhất ở người Việt, trong khi Phan Khôi là nhà báo thể hiện sự cố gắng nhiều hơn hết để nghĩ mới về mọi sự mọi việc, trong khi chính TLVĐ cũng hướng tới cái mới, duy lý, tiến bộ cho văn hóa xã hội Việt, thì chính họ lại dựng lên thành ngữ này, hùa theo luồng định kiến thông tục cũ kỹ trong giới cầm bút vốn đặc trưng cho xu thế thù ghét lý tính, bài xích lý luận của số đông với tâm thế gia trưởng thủ cựu; ở phương diện này, Nhất Linh (nếu ông là tác giả chính của thành ngữ này) chỉ đứng ngang với những cây bút tầm thường, và tỏ ra thấp hơn Phan Khôi rõ rệt.

Nhưng khi đó Nhất Linh và các thành viên TLVĐ đã hành động theo lợi ích nhóm, mà chiến lược là hạ uy tín của những “đàn anh” trong báo giới văn giới, bất kể là ai.

Mãi đến năm 1939, người ta mới thấy Ngày Nay in một bài của Phan Khôi về “lịch sử tóc ngắn” với lời dẫn vừa phải. [5] Đó có thể xem là cử chỉ giải hòa của TLVĐ đối với người đàn anh này chăng?

Một trong những cách nữa để TLVĐ tạo sự chú ý đến sáng tác của các nhà văn trong nhóm là gây ra những sự cố. Tố cáo cây bút nào đó, càng có tên tuổi càng tốt, dường như đã “ăn cắp” tác phẩm của nhà văn nhóm mình, ‒ là một thủ đoạn đắc sách. Theo cách này, đầu năm 1936, Phong Hóa phao lên rằng Nguyễn Công Hoan đã “chịu khó sưu tầm để viết Lá Ngọc Cành Vàng giống Nửa Chừng Xuân, và Cô Giáo Minh giống hệt Đoạn Tuyệt”. [6]

Cách tạo dư luận ở đây là tận dụng, lạm dụng văn trào lộng, hý hước, để khi bị chất vấn theo lối nghiêm chỉnh thì trả lời: đấy chỉ là một câu khôi hài. Nhưng họ biết, lời nói đùa có thể được công chúng tin chắc hoặc ngờ ngợ tin là thật, vì thế dù sao Nguyễn Công Hoan cũng phải lên tiếng, tuy ông chỉ nhấn mạnh rằng ý tứ truyện Cô Giáo Minh trái hẳn với Đoạn Tuyệt. [7]Đến lượt Khái Hưng đáp lại, khăng khăng giữ nhận định riêng: hai cuốn Cô Giáo MinhĐoạn Tuyệt “giống nhau lắm”, rồi đánh trống lảng, chuyển câu chuyện sang trò chơi phán đoán về giá trị: cuốn nào hay hơn sẽ còn lại, tất nhiên là lộ rõ cái ý: sách của tác giả TLVĐ nhất định phải hay hơn! [8]

Đặt trong tình trạng khá đa dạng về văn phái, về báo chí văn học đương thời, giọng điệu khẳng định tác phẩm của văn phái mình hay hơn các văn phái khác, báo mình xử sự tốt đẹp hơn báo khác, ‒ hầu như là một kỹ thuật phòng ngự-phản công rất mực phổ cập. Các báo Phong Hóa, Ngày Nay của TLVĐ không nằm ngoài ứng xử ấy. Khác với thái độ công bằng của Phan Khôi trong vai trò “Ngự sử đàn văn”, các trang Phong Hóa trên đó Hàn Đãi Đậu nhặt nhạnh “những hạt đậu dọn” trong vườn văn thiên hạ, thường lưu ý bắt bẻ những sai sót, lầm lạc trong thơ văn các tác giả khác, chứ gần như không khi nào động đến tác phẩm các thành viên TLVĐ.

Sự hoạt động liên tục của các trang này – bên cạnh tác dụng cảnh báo giới viết văn viết báo đương thời về nhiệm vụ làm sáng sủa câu văn tiếng Việt – còn mang lại những kết quả chỉ có lợi riêng cho TLVĐ, tạo cho văn đoàn này và các thành viên của nó một thế đứng trên, thế đứng đàn anh, áp đảo đối với các cá nhân nhà văn cũng như các văn phái khác, đương thời. Các tờ báo của TLVĐ có mặt liên tục trong gần 10 năm, cho nên áp lực mà họ tạo ra trong đời sống văn nghệ đương thời là rất mạnh, khiến họ mặc nhiên được xem như nhóm văn nghệ chi phối diện mạo văn học những năm 1930-40. Chỉ cần đọc hồi ức Nguyên Hồng về lần đầu tiên được gặp Thế Lữ, khoảng 1934-35 ở Hải Phòng, cảm nhận cảnh người anh họ sang trọng, tài cao, học cao, hỏi han ban phát và khích lệ người em họ nghèo khó ham học ham viết, [9] là có thể hiểu vì sao, khi nói tới Vũ Trọng Phụng, báo Ngày Nay lại sẵn sàng miệt thị ông là “nhà văn xã hội kỳ quặc” chuyên “lòe độc giả bằng cái học vấn sơ học của mình”. [10]

Giới nghiên cứu hậu thế hiện nay thường hướng cái nhìn ngưỡng mộ về di sản của TLVĐ, song cũng nên biết một phần dư luận đương thời đối với văn đoàn này ra sao. Người ta không khó để thấy được tìm được những ví dụ loại này ở báo chí Hà Nội đương thời.

Xin dẫn một số ý kiến độc giả gửi tới Hà Nội Báo, biểu đồng tình với việc báo này phê phán TLVĐ, nhân những tranh luận giữa tuần báo này với Phong Hóa, từ đầu năm 1936 cho tới khi Phong Hóa bị đóng cửa.

Các độc giả này kể ra ba cái tội của báo Phong Hóa là:

1/ chế diễu cái ngu dốt của dân quê:

Bọn Lý Toét, Xã Xệ không phải là bọn độc ác, không phải là cái “họa” cho xã hội, trái lại họ hiền lành, tâm hồn ngay thật, một hạng người vô sản khổ sở đáng thương hơn đáng cười […] Thế sao Phong Hóa lại nêu ra làm trò? [….] lấy cái thông minh (!) của mình mà chế diễu cái ngu dốt của người, có nên không?” (ý kiến ông Thiện Quả); [11]

2/ chế diễu những người tàn tật:

Chế diễu cái say của thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã là quá lắm rồi, vì đó là cái đời tư của người ta, nhưng đến cái lỗ mũi to và hơi đỏ đỏ ở trên mặt nhà thi sĩ ấy, thì đã có tội tình gì, mà có một độ, các ông đưa ra làm đầu đề cho biết bao bức hí hước? […] Trên mặt báo Phong Hóa, đã biết bao lần, các ông đưa những người ấy ra làm trò cười cho một hạng người dư ăn dư để! Thật ra cái pha trò ấy, người có chút ít giáo dục, ai chịu được? Một bức tranh vẽ một người mù bị sa hố chẳng hạn, có thể làm cho một đám trẻ con đua nhau cười rũ rượi. Rồi đám trẻ con ấy hẳn phải nhờ Phong Hóa mà biết khinh ngạo người tàng tật nghèo khổ?!” (ý kiến ông Phạm Văn Tính); [12]

3/ dìm đồng nghiệp:Không có một cách cạnh tranh bất chính nào là Phong Hóa không dùng tới, để dìm đồng nghiệp xuống. Bất kỳ một tờ báo nào mới ra cũng bị Phong Hóa nói xỏ nói xiên, nói châm nói chọc, có khi kéo cả đại đội ra để công kích. Họ công kích như vậy để làm gì? Cốt cho đồng nghiệp lùi đi, để trên bãi cỏ xanh, chỉ còn một mình họ ăn…” (ý kiến ông ĐặngThế Xương).[13]

Như vậy, có thể nói, trong tầm nhìn của công chúng đương thời, tiếng nói của TLVĐ không phải chỉ có một chiều được hưởng ứng, đồng tình, mà còn gây không ít những phản cảm, phản kháng.

Nhìn vào hoạt động ngôn luận của các thành viên TLVĐ, có thể thấy rõ rằng, khi đang hoạt động trong văn đoàn, họ luôn luôn giữ thái độ nhất quán của văn đoàn đối với mọi vấn đề, mọi sự việc trong đời sống văn nghệ. Chỉ sau khi đã ra khỏi quỹ đạo của TLVĐ, họ mới bộc lộ ý kiến riêng, thái độ riêng.

Trường hợp Thế Lữ hay Xuân Diệu bộc lộ khá rõ ứng xử ấy.

Đứng trong TLVĐ, Xuân Diệu trước sau bảo vệ quan niệm thơ mới của “trường phái Tự Lực”, tức là bảo vệ lối thơ mới kiểu Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận,… chứ không thừa nhận thành tựu sáng tác thơ của các tác giả ngoài văn đoàn, bất kỳ là ai. Xuân Diệu từng viết các bài mang tính luận chiến chống kiểu thơ tượng trưng, siêu thực của Hàn Mặc Tử, Bích Khê, điều này có thể giải thích được, vì hướng của các nhà thơ này đưa thơ đi ra khỏi phạm vi lãng mạn duy lý quen thuộc với “trường phái Tự Lực”. Nhưng ngay đối với những nhà thơ khá tương đồng về kiểu sáng tác, ví dụ Huy Thông, thì “trường phái Tự Lực” cũng bài xích. Thế Lữ trong vai Lê Ta của những dòng “tin văn … vắn” đã không ít lần bới móc những ý tứ tiểu tiết dường như là vô lý trong thơ Huy Thông, chẳng hạn Lê Ta rất cố gắng chứng minh cô Tần Ngọc mà nhà thơ Huy Thông gửi gắm tâm sự kia, thật ra là một nữ nhân vật bịa tạc! Sự việc ấy xét ra chẳng có gì hại gì đến luân lý, nhưng sở dĩ bị bới móc, có thể chỉ vì Huy Thông là người thuộc nhóm Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư, nhóm gắn với tờ Hà Nội Báo vốn xung khắc với TLVĐ.

Mãi đến năm 1946, khi Xuân Diệu là nhà báo tham gia phái đoàn Phạm Văn Đồng sang Pháp, có gặp Phạm Huy Thông và đem bài thơ “Chào sứ giả của tự do” thi sĩ này tặng phái đoàn về đăng bán nguyệt san Tiên Phong (của Hội văn hóa cứu quốc). Rồi năm 1955, cựu thành viên TLVĐ ấy mới lần đầu tiên viết về nhà thơ này, khẳng định “Huy Thông là một thi sĩ Việt Nam nổi tiếng đã gần 25 năm nay. Tác giả Tiếng địch sông Ô để lại cho những người đã đọc thơ mình một cảm tưởng hùng mạnh, trẻ trung đến nay chưa xóa nhòa trong trí nhớ.[14]Vẫn còn “trong trí nhớ”, tức là Xuân Diệu đã biết từ lúc Tiếng địch sông Ô ra đời, nhưng nhất quyết không nói đến viết đến, khi Xuân Diệu còn là người của TLVĐ, vì đó là thành tựu sáng tác của một tác gia ngoài văn đoàn mình!

Nhìn chung, thái độ thường là kẻ cả, trịch thượng của các thành viên TLVĐ đối với các nhà văn và các nhóm văn nghệ khác đương thời, một mặt tạo cho họ uy thế, sự thán phục, sự lắng nghe, sự bắt chước, học theo làm theo, từ phía những cây bút khác, nhất là số người đang tập tành nghề viết; nhưng mặt khác cũng tạo khoảng cách giữa các nhà văn trong TLVĐ đối với các nhà văn khác. Khoảng cách này có thể đã khiến hầu hết các nhà văn trong TLVĐ xem thường, không tính đến, không xem xét, không tiếp nhận kinh nghiệm từ các nhà văn ngoài TLVĐ; đây là điều không hay, thậm chí có hại cho con đường sáng tác của họ.

Các nhà thơ mới trong TLVĐ, – chủ yếu là Thế Lữ và Xuân Diệu – chứng tỏ được vai trò dẫn đầu ở giai đoạn đầu của phong trào thơ mới; sáng tác của hai ông có thể được xem là đỉnh cao của thơ mới thời đầu, tạm gọi là kiểu thơ lãng mạn duy lý (cảm xúc lãng mạn, ngôn ngữ duy lý).

Nhưng phong trào thơ mới không dừng lại ở đó. Từ những năm 1938 – 1940, trong phong trào vừa thấy có hướng siêu thực, tượng trưng (trường thơ Bình Định, “trường thơ loạn”, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên), vừa thấy có hướng tìm lại chất trừu tượng phương Đông (nhóm Xuân Thu Nhã Tập, với Phạm Văn Hạnh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh), vừa thấy có hướng tìm lại hồn thơ và chất liệu thơ Việt dân gian (nhóm Bắc Hà với Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Giản Chi, Nguyễn Bính), v.v…

Trong tình hình ấy, nhóm thơ TLVĐ tuy có phát hiện thêm được một số giọng thơ mới (Huy Cận, Tế Hanh) làm tăng thanh thế cho nhóm mình, nhưng có vẻ như cả hai người chủ trì, Thế Lữ, Xuân Diệu, quá tự tín, chỉ lên tiếng phê phán chứ không thừa nhận sự hữu lý của các hướng phát triển mới trong phong trào thơ tiếng Việt. Việc nhà Đời Nay in tập thơ Mây (1943) của Vũ Hoàng Chương chưa đủ tỏ độ cởi mở của TLVĐ đối với các nhà thơ ngoài nhóm ấy. Trong khi đó, chính sáng tác thơ của hai cây thơ chủ chốt này của TLVĐ đã bắt đầu tỏ ra khô cạn. Sau khi cho in Mấy vần thơ, tập mới (1941), Thế Lữ cạn nguồn thơ, chuyển sang hoạt động sân khấu, và trên thực tế cũng dần dần rời khỏi TLVĐ. Còn Xuân Diệu thì sau tập Thơ Thơ (1938), bản thảo tập Gửi hương cho gió đã không được nhà Đời Nay của TLVĐ đứng in, phải đưa in ở nhà xuất bản Thời Đại (1945), tên tác giả Xuân Diệu ở tập này không còn gắn với TLVĐ như tập trước mà chỉ còn gắn với bộ đôi Huy – Xuân. Sau tháng Tám 1945, Xuân Diệu dần dần gắn với bán nguyệt san Tiên Phong của Văn hóa Cứu quốc, và hoàn toàn cách ly với địa chỉ 80 Grand Buddha (Quán Thánh) khi ấy là tòa soạn của tờ Ngày Nay, kỷ nguyên mới !

viendanbieu

Các nhà văn trong TLVĐ từng khiến giới viết truyện đương thời cảm phục và gắng sức đua theo, vì kiểu tiểu thuyết luận đề là do họ đề xướng và cho ra mắt những sản phẩm đầu tiên. Song, mô hình tiểu thuyết luận đề chỉ có thể là điểm xuất phát chứ chưa thể là giải pháp cho mọi vấn đề của sáng tác văn xuôi tự sự bằng tiếng Việt ở thời đại mới. Những tiểu thuyết luận đề đầu tiên ra mắt chừng vài ba năm là đã thấy xuất hiện các sáng tác cùng kiểu thức ấy của những cây bút ngoài TLVĐ. Quá trình văn học diễn ra trong chưa đầy 20 năm đã làm xuất hiện một nền tiểu thuyết khá phong phú với rất nhiều tác giả và tác phẩm. Tuy vậy, điều đáng nói lại là, nếu như các cây bút văn xuôi trong TLVĐ đã in dấu vào mô hình thể tài tự sự này ở điểm khởi đầu, thì chính họ lại không có sản phẩm nào nằm trong sự kết tinh của cả quá trình phát triển ấy. Quả thật, không có tác phẩm nào đáng gọi là kiệt tác trong số các tiểu thuyết TLVĐ. Bởi nếu nói đến kiệt tác ở văn xuôi tự sự hư cấu giai đoạn ấy, người ta chỉ kể được Số Đỏ (của Vũ Trọng Phụng) và Chí Phèo (của Nam Cao), hai tác phẩm của hai nhà văn ngoài văn đoàn Tự Lực.

Lý giải điều này là việc không dễ.

Tuy vậy, có thể nghĩ tới một trong những lý do là sự quá tự tín của các nhà văn trong TLVĐ. Họ đã nghĩ một cách nghiêm chỉnh đến việc tiếp nhận kinh nghiệm sáng tác của các nhà văn Âu Tây, nhưng họ lại hầu như hoàn toàn xem thường kinh nghiệm sáng tác của giới viết văn người Việt cùng thời với mình.

Chẳng hạn, về ngôn ngữ, họ chủ trương và thực hành việc viết bằng một thứ tiếng Việt trong sáng, giản dị, dễ hiểu, song họ hầu như không để ý đến việc những người viết văn đương thời thể nghiệm hoặc xử lý ra sao đối với chất liệu đời sống Việt Nam hoặc chất liệu ngôn ngữ tiếng Việt. Hoặc, họ có hầu như ngay từ đầu những ý tưởng về nhu cầu thoát khỏi chế độ đại gia đình để tìm đến kiểu gia đình hạt nhân, vốn phù hợp với sự phát triển con người cá nhân của một lớp thanh niên mới xuất hiện trong xã hội thuộc địa Âu hóa những năm 1920-30; song họ có khá ít sự hiểu biết về các tầng lớp dưới, ở cả thôn quê lẫn đô thị cũng đương thời ấy. Thế nhưng họ lại xem thường những khảo sát về những lớp người ấy do các nhà văn nhà báo bên ngoài văn phái họ thực hiện.

Công việc viết phóng sự cho báo chí chẳng hạn, đem lại cơ hội cho người viết đến trước ít ra hai vấn đề lớn của sáng tác tiểu thuyết: sự nghiên cứu đời sống và sự miêu tả ngôn ngữ.

Đời sống mà nhà văn nhà báo tiếp cận theo lối phóng sự đưa lại những nhận xét, nhận định về người và việc, những xu hướng, thói tật, vấn đề, v.v… mà rồi ra chính họ có thể đưa trở lại trang viết với mức độ hư cấu rộng rãi hơn.

Cũng chính diện mạo cụ thể của con người các vùng miền mà nhà văn nhà báo xúc tiếp khi thực hiện các phóng sự buộc họ phải xử lý các dạng biệt ngữ, phương ngữ (so với các chuẩn mực nào đó), phải dần dà làm công việc miêu tả ngôn ngữ – tức là cho thấy những con người đương thời đang nói năng ra sao. Những thực hành loại này đã từ báo chí đi vào văn chương, từ phóng sự đi sang tiểu thuyết. Từ Nguyễn Công Hoan đến Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, rồi Vũ Bằng, Nguyễn Đình Lạp, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, v.v…, trên thực tế đã thể nghiệm cái thao tác mà M. Bakhtin coi như một trong những nội dung chính của sự sáng tạo trong nghệ thuật viết tiểu thuyết. [15]Một trong những điểm đặc sắc của Số Đỏ và Chí Phèo, có thể nói, là đặc sắc về ngôn từ tự sự, những đặc sắc cho phép các tác phẩm này không chỉ tiêu biểu cho xu hướng “tả thực” mà còn có khả năng mở sang văn xuôi tư sự thuộc các xu hướng hiện đại, thậm chí “hậu” hiện đại !

Trong khi đó, có vẻ như các tác gia trong TLVĐ hầu như đứng ngoài sự nghiên cứu đời sống, đứng ngoài hoạt động miêu tả ngôn ngữ. Mấy tác gia hàng đầu của tiểu thuyết TLVĐ như Nhất Linh, Khái Hưng dường như quá tự tín khi đưa ra các luận đề mà họ cho là các vấn đề chính của xã hội và con người Việt Nam đương thời. Cố nhiên họ đã có lý – và đã đắc thắng – trong một thời gian nhất định. Song việc coi thường những đồng nghiệp “học vấn sơ học” tìm tòi ra sao trên những vấn đề của đời sống Việt, và cả những màu sắc ngôn từ, ở những vùng miền cụ thể, đã khiến những sáng tác về sau của họ yếu dần về độ sâu sắc của các vấn đề đời sống con người, nhạt nhòa dần về màu vẻ của ngôn từ nghệ thuật.

Các tiểu thuyết của họ có văn phong sáng sủa, mực thước, nhưng cả tác giả, người kể chuyện lẫn các nhân vật trong truyện đều nói cùng một giọng, mọi nhân vật đều nói như nhau, hầu như không cho thấy các sắc thái giọng nói.

Đấy chỉ là một trong số những dấu hiệu về sự khác biệt, song lại là khác biệt về “bí kíp” của sự nhạt nhẽo ngày càng lộ rõ trong ngôn ngữ của các tác gia văn xuôi TLVĐ, so với những sắc giọng đậm và mặn, có khi thô lỗ, có khi tục tằn, in dấu khẩu ngữ, biệt ngữ, phương ngữ trong mạch văn của không ít tác gia ngoài TLVĐ.

Mà đấy chỉ là một trong những ví dụ về hệ quả của thế đứng cách bức, trịch thượng và xa lạ, của TLVĐ so với những nhà văn đương thời ngoài nhóm ấy.

Điều đó gây thiệt hại cho họ, cho văn chương, chứ không phải cái gì khác.

Tháng Tám – tháng Chín 2013

Chú thích

[1] Về khái niệm “nhóm lợi ích”, tác giả có tham khảo 2 tài liệu: 1/ V.I. Pantin, Gruppy interesov // Federalnyj obrazovatelnyj portal, 14 Maja 2012 (chữ Nga); 2/ Alan Phan, Lợi ích từ … các nhóm lợi ích // tuanvietnam.vietnamnet.vn, 26/5/2011 (chữ Việt).

[2] Vũ Trọng Phụng: Để đáp lời báo “Ngày Nay”: Dâm hay là không dâm // Tương Lai, Hà Nội, s. 9 (25.3.1937)

[3] Phong dao mới // Phong Hóa, Hà Nội, s. 14 (22 Septembre 1932), tr. 2.

[4] Bài có lẽ sớm nhất của Phan Khôi về Phong Hóa là bài “Vẽ hình” trong mục “Những điều nghe thấy” ký Thông Reo (Trung Lập, Sài Gòn, ngày 5 và 6 Février 1933).

[5] Xem: Phan Khôi: Lịch sử tóc ngắn // Ngày Nay, Hà Nội, s. 149 (15 Fevrier 1939).

[6] Xem: Xuân thủ đâm ân // Phong Hóa, Hà Nội, s. 172 (31 Janvier 1936), tr. 3 (Lưu ý: đây là nhại mấy từ “Xuân thủ đàm ân” /= đầu xuân nói việc ơn ích/ mà các báo đương thời thường đặt làm tên mục thông tin những việc thăng thưởng cho quan lại, viên chức; tòa soạn Phong Hóa ghi chú từ “đâm” là “nẩy ra đâm ra”; đây là một trong rất nhiều mục châm biếm, hài hước thường xuyên trên báo Phong Hóa).

[7] Nguyễn Công Hoan: Từ “Đoạn Tuyệt” đến “Cô Giáo Minh” // Hà Nội Báo, Hà Nội, s. 9 (4 Mars 1936), tr. 8-9.

[8] Khái Hưng: Cùng ông Nguyễn Công Hoan // Phong Hóa, Hà Nội, s. 177 (6 Mars 1936), tr. 4 (đăng lại trên Hà Nội Báo, s. 11, ngày 18 Mars 1936, tr. 9-11)

[9] Nguyên Hồng: Nhà thơ ở Ngõ Nghè (trích hồi ký “Bước đường viết văn”, 1970) trong sách: Thế Lữ, Cuộc đời trong nghệ thuật, Hà Nội: Nxb. Hội Nhà Văn, 1991, tr. 57-68.

[10] Nhất Chi Mai: Ý kiến một người đọc: Dâm hay không dâm? // Ngày Nay, Hà Nội, s. 51 (14 Mars 1937), tr. 137 [báo đánh số trang theo thứ tự trong bộ báo cả năm]

[11] Tội trạng báo “Phong Hóa” // Hà Nội Báo, Hà Nội, s. 13 (1 April 1936), tr. 11 – 12.

[12] Tội trạng báo “Phong Hóa” // Hà Nội Báo, Hà Nội, s. 14 (8 April 1936), tr. 8.

[13] Tội trạng báo “Phong Hóa” // Hà Nội Báo, Hà Nội, s. 15 (15 April 1936), tr. 21.

[14] Xuân Diệu: Thi sĩ Phạm Huy Thông, chiến sĩ của hòa bình // Văn nghệ, Hà Nội, s. 65 (11.3.1955), tr. 1, 8.

[15] M.M. Bakhtin: Ngôn ngữ tiểu thuyết, in trong: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết. Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu. Hà Nội: Trường Viết văn Nguyễn Du, 1992, tr. 78-139.

Nguồn: Văn hóa Nghệ An

Tự lực văn đoàn, ngôi sao rực rỡ trên bầu trời văn học

Khúc Hà LinhAnh em nhà Nguyễn Tường Tam “Nhất Linh” ánh sáng và bóng tối

09:06′ SA – Thứ sáu, 09/07/2010

Tự lực Văn đoàn là tổ chức văn chương tự lực. Họ tự lực về tài chính, không chịu ảnh hưởng của nhà cầm quyền. Họ tự lực về chuyên môn và khuynh hướng nghệ thuật. Họ tự tôn người chủ soái, cùng nhau tuân theo quy chế hoạt động mà họ cùng nhau đặt ra. Lãi ăn lỗ chịu, cùng nhau gánh vác. Vì thế, khi thuận lợi thì phát triển, khi khó khăn thì lùi vào thế thủ. Sau khi sảy đàn tan nghé, Thạch Lam mất năm 1942, Hoàng Đạo chết bên Tàu năm 1948, Khái Hưng chết năm 1946, Nhất Linh lưu vong nước ngoài… Tự lực văn đoàn không hoạt động chứ không tuyên bố giải tán. Nhất Linh trở lại Sài Gòn không hoạt động chính trị mà tập trung vào văn nghệ. Ông làm Chủ tịch Hội Bút Việt, mở Nhà Xuất bản Phượng Giang, sáng tác mới, ra giai phẩm Văn Hoá ngày nay in lại tác phẩm của Tự lực văn đoàn…

Nói lại sự kiện này để thấy rằng, Tự lực văn đoàn chỉ chấm dứt sau ngày Nhất Linh mất, tức là sau ngày 7-7-1963, khi người chủ suý của nó vĩnh viễn ra đi.

Nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng Tự lực văn đoàn chỉ hoạt động có hiệu quả trong 10 năm (1932- 1942). Có thể là họ tính từ ngày tờ Phong Hoá ra đời đến khi thạch Lam mất vào 27 tháng 6 năm 1942? Dù như thế thì trong khoảng một thập niên, Tự lực văn đoàn đã làm nên sự nghiệp rực rỡ, đóng một dấu son đậm trong văn đàn nước nhà. Chỉ đáng tiếc, về cuối kết cục thật ảm đạm, bởi một số người trong nhóm đã xa rời tôn chỉ văn chương khi mới thành lập. Mấy tháng trước khi Thạch Lam qua đời, ngôi nhà cây liễu đầu làng Yên Phụ bên ven hồ Tây đã vắng dần các văn nhân. Nhất Linh đã hoạt động chính trị đang ở Trung Quốc; Hoàng Đạo và Khái Hưng bị Pháp bắt đi an trí; Thế Lữ sợ liên can cũng bỏ đi; nhà thơ Huyền Kiêu đã về quê Vân Đình, chỉ còn Nguyễn Tường Bách và Đinh Hùng ở gần òn lui tới. Thạch Lam dạo ấy đang ốm một mình lặng lẽ, có lần dặn bạn còn lại: Mật thám giăng lưới và rình mò quanh nhà đấy, các anh hãy tạm lánh đi kẻo liên luỵ.

Gần đây có những công trình nghiên cứu, đánh giá cống hiến của họ tương đối công bằng, theo tinh thần công minh của lịch sử.

Nhìn tổng quát, Tự lực văn đoàn là nhóm người có tài năng, tâm huyết, có cùng chí hướng trong sự nghiệp đổi mới cách tân văn chương. Tự lực văn đoàn đã nói lên khát vọng dân tộc dân chủ của quần chúng; đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, đòi tự do hôn nhân, quyền sống của phụ nữ và chống lại lề giáo phong kiến trói buộc. Tự lực văn đoàn chủ trương cải cách xã hội, đồng cảm nỗi khổ của người lao động và đả kích gay gắt bọn tham quan ôm chân Pháp. Họ đề cao tinh thần dân tộc, có hoài bão về một nền văn hoá dân tộc, trên cơ sở kết hợp truyền thống và hiện đại, giữa phương Đông và phương Tây… Đồng thời họ chống lai căng, phủ nhận xã hội thối nát đương thời.

Một ưu điểm rõ rệt nhất là họ có tài tổ chức. Tổ chức bộ máy gọn nhẹ và hiệu quả. Họ thu phục con người bằng tình tương thân tương ái. Tự lực văn đoàn lập ra quỹ cứu tế tương trợ ban biên tập, hoặc trị sự khi ôm đau, xảy việc tang gia, hoạ hoạn, có khi trừ vào lương cũng có trường hợp cho không, để cho các thành viên an tâm làm việc. Họ trân trọng, cư xử tử tế với cộng tác viên, tạo cho mọi người lương cao, và làm việc hết mình vì mục tiêu chung. Họ tổ chức hoạt động nghiệp vụ báo chí, in ấn, phê bình, đặt giải thưởng… một cách bài bản, chuyên nghiệp. Họ là những người năng động. Với con số biên chế chưa đến 10 người, nhưng Tự lực văn đoàn đã làm việc của hai cơ quan xuất bản: Họ vừa làm báo vừa in sách của nhóm, lại cho in thuế kiếm lời. Đó là chưa để làm quảng cáo phát hành rộng rãi đáp ứng nhu cầu bạn đọc trong nước. Khi báo bán chạy họ biết làm kinh doanh, cho gọi cổ phần, mỗi cổ phần 500 đồng, và mua nhà in với những thiết bị khá đồ sộ. Khi Nhà Xuất bản Đời Này có máy in, Nhất Linh đã có tầm nhìn xa chủ đường xin Chính phủ cấp đất cho Tự lực văn đoàn ở vùng Cầu Lính, gần núi Tam Đảo, Vĩnh Yên. Nếu có đất sẽ cử người quản lý khai khẩn trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng cho Tự lực văn đoàn một cơ sở kinh tế, để người trong Tự lực văn đoàn, đặc biệt những người đang là công chức có thể thoát ly công việc nhà nước, sống được bằng sáng tác văn chương. Họ dự kiến lập đồn điền, xây trường học, nhà trẻ, câu lạc bộ, phòng thuốc v.v…, mua sắm phương tiện, tạo nên cuộc sống văn minh. Đó là những ý tưởng tiến bộ, có mầm mống xã hội chủ nghĩa.

Nhưng đơn xin đất bị nhà cầm quyền bác bỏ.

Tự lực văn đoàn có quan điểm, tư tưởng tiến bộ trong văn chương, thể hiện trong 10 điều tôn chỉ khi thành lập:

1- Tự mình làm ra những sách có giá trị văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu sách này chỉ có tính cách văn chương thôi, mục đích để làm giàu văn sản trong nước.

2- Soạn hay dịch những sách có tư tưởng xã hội, chú ý làm cho người và xã hội ngày càng hay hơn.

3- Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân.

4- Dùng một lối văn dễ hiểu ít chữ Nho, một lối văn thật sự có tính An Nam.

5- Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ.

6- Ca tụng những nét hay vẻ đẹp của nước nhà với tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có cách trưởng giả quý phái.

7- Tôn trọng tự do cá nhân.

8- Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa.

9- Đem phương pháp khoa học Tây ứng dụng vào văn chương An Nam.

10 -Theo một trong 9 điều trên đây cũng được, miễn là đừng trái ngược với những điều khác.

Họ dùng các loại hình nghệ thuật như văn, thơ, hí họa, ảnh thời sự, truyện cười… để đả phá tàn dư lạc hậu trong xã hội, thúc đẩy xây dựng đời sống mới. Họ luôn luôn tìm tòi sáng tạo nhiều nghệ thuật làm báo để hấp dẫn bạn đọc. Trên báo Ngày Nay, các chuyên mục đã thực sự gây chú ý của bạn đọc: Vấn đề thuộc địa, mỗi số đi vào một khía cạnh có ý nghĩa chính bị diễn ra trên đất nước. Mỗi tuần lễ đều ghi lại nhưng thông tin mọi mặt đời sống. Mục Người và việc nêu ra các vụ việc xảy ra với những lời bình luận sâu sắc. Đặc biệt mục Trông và tìm đã lay động nhiều suy nghĩ của người quan tâm tới vận mệnh của đất nước. Ngoài ra còn các tiểu mục như Xã giao, Phụ nữ, Trào phúng cười nửa miệng và Lượm lặt. Lại còn cả Điểm sách, Điểm thơ, Tin thơ. Dí dỏm nhất là mục Tập tranh vân đẩu. Dưới bút danh Tứ Ly, các bài viết ngắn, sắc lạnh mà hóm hỉnh, sâu cay, đả kích các nhân vật trong xã hội thượng lưu bấy giờ, như nghị viên Ngô Trọng Trí, Phạm Kim Bảng, Bùi Trọng Ngà, Nguyễn Đình Cung, Tô Văn Lượng, cho đến ông Phủ Hàm, dân biểu Phạm Huy Lục đến các ký giả Bùi Xuân Học, Phạm Bá Khánh… Họ vừa quan liêu, hợm hĩnh, ba hoa, nịnh hót bề trên và thiếu nhân cách, lại lên mặt dạy đời. Mục Hạt sạn được chăm chút thường xuyên có ý nghĩa văn hoá, nó giống như mục dọn vườn bây giờ, hài hước những câu văn sai, hỏng, hoặc cách dùng từ sai ngữ pháp, cốt làm cho trong sáng tiếng Việt. Phần còn lại là giới thiệu tác phẩm văn học, tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự điều tra, dịch thơ Đường, giới thiệu tinh hoa văn học nước ngoài qua một số truyện dịch tiêu biểu…

Họ tổ chức các cuộc thi tìm hiểu văn chương, thi ô chữ như các trò chơi thời bây giờ. Một lần Thạch Lam, Thế Lữ, Khái Hưng, Hoàng Đạo viết chung một truyện ngắn. Ban đầu tổ chức bốc thăm xem ai được viết đoạn truyện đầu tiên. Người ấy có quyền chọn tiêu đề và viết phần một. Căn cứ vào cốt truyện ấy mà người viết tiếp đoạn sau phải ăn nhập với đoạn trên của người khác, thành tác phẩm mạch lạc. Họ đăng lên bốn kỳ báo và ra cuộc thi nếu ai chỉ ra số báo nào, là của nhà văn nào viết. Nói đúng sẽ có giải. Giải thưởng tuy giản dị mà có ý nghĩa. Giải nhất được tặng một năm báo và bốn cuốn sách của Nhà Xuất bản. Giải nhì tặng một năm báo và giải ba được tặng nửa năm báo. Kết quả cuộc thi có 632 người dự. Giải nhất trao cho ông Đỗ H giải nhì ông Đinh Hữu Định, giáo học ở Ninh Giang, giải ba là cô Lê Thị Xuyến ở địa chỉ 19 rue Hl. Pétain. Khi xảy ra cuộc bút chiến giữa hai tờ báo Ngày Nay và Tân Việt, thì họ lại nghĩ ra cách thành lập Ban thẩm phán danh dự để họp và phân xử có lý có tình rồi tường trình trên mặt báo. Chính việc này coi như một cú hích làm cho báo bán rất chạy thời bấy giờ.

Tự lực văn đoàn, ngôi sao rực rỡ trên bầu trời văn học

Khúc Hà LinhAnh em nhà Nguyễn Tường Tam “Nhất Linh” ánh sáng và bóng tối

09:06′ SA – Thứ sáu, 09/07/2010

Tự lực văn đoàn đã thổi luồng gió mới mẻ vào bầu không khí văn học nước ta. Phong trào Thơ mới có mảnh đất màu mỡ phát triển ngày càng rực rỡ. Nghệ thuật dựng truyện, diễn biến tâm lý các tuyến nhân vật truyện ngắn, tiểu thuyết đã tinh tế điêu luyện. Lĩnh vực hội hoạ, ảnh mỹ thuật có bước nhảy dài, nâng cao so với trước. Câu văn trong sáng, giản dị mới mẻ, hình ảnh chân thực không sáo rỗng, không lệ thuộc vào lối văn biền ngẫu, cổ lỗ lổn nhổn những chữ Nho, hoặc lòng thòng lôi văn Tây dịch.

Từ cách đây hơn bảy chục năm, các nhà văn Tự lực văn đoàn đã quan tâm tới đời sống cơ sở, cụ thể là đời sống làng quê. Báo chí của họ có những chuyên đề sát sao gần gũi với con người. Từ chuyện gà nuôi bị toi, bị đi tướt, dịch tả đến chuyện ruộng đất chật hẹp, người nông dân phải dời làng di dân, cho đến chuyện nước lụt và thuỷ triều đê điều, đều được đưa vào các chuyên đề có phân tích, diễn giải. Chúng ta có thể hiểu vì sao Tự lực văn đoàn đã chiếm được cảm tình của bạn đọc nhiều nhất. Chúng tôi rất tán thành ý kiến của Lê Thị Đức Hạnh khi đánh giá về thái độ chính trị của Tự lực văn đoàn do Nhất Linh đứng đầu (Tạp chí văn học, số 3- 1991). Nhất Linh không hề theo giặc, thực chất là ông nhất quán chủ trương chống Pháp theo tư tương của mình. Bằng cớ là trên tờ Phong Hoá, Ngày Nay, cơ quan ngôn luận của Tự lực văn đoàn đã đăng nhiều bài đả kích bọn quan lại ôm chân Pháp, những chân dung ông nghị gật với đủ cả hình động và phẩm chất rất đáng nực cười. Các câu chuyện châm biếm Pháp tạo dựng cho Bảo Đại hồi loan, và đả kích bóng gió giặc Pháp thông qua hàng loạt bài của Hoàng Đạo, hàng loạt biếm hoạ của Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, hoặc tiểu phẩm cười cợt, thơ trào phúng của Tú Mỡ đã làm hả hê bạn đọc lúc bấy giờ…

Xin nhắc lại một vài chi tiết để bạn đọc nhớ lại. Một lần báo Ngày Nay ra số đặc biệt. Hoạ sĩ Gia Trí vẽ bìa cảnh một cái lều tranh xơ xác ngoài có người đàn bà lam lũ và mấy đứa trẻ bụng ỏng đít vòn trông thật thảm thương. Bên dưới có dòng phụ đề: “Bố cu mẹ đĩ rúc vào nằm”. Nhà chức trách cho là có ý nói xấu chế độ ra lệnh đình bản ba tháng, còn định đưa chủ báo Nhất Linh ra toà, sau lại thôi, nhưng cảnh cáo nặng nề. Một lần khác có bức hí hoạ, vẽ Lý Toét ôm con gà mái từ nhà quê ra Hà Nội biếu ông Thống sứ. Nhà cầm quyền suy diễn rằng con gà mái dịch ra tiếng Việt nghĩa bóng là “kỹ nữ” có ý châm chọc Thống sứ có máu háo sắc. Họ làm ầm lên. Phong Hoá đầu năm 1936 bị đóng cửa. Trong khi các báo khác như: Nam Phong nhận trợ cấp của Pháp mỗi tháng 600 đồng, báo Trung Bắc Tân Văn mỗi tháng được trợ cấp 500 đồng (mỗi lạng vàng khi đó là 30 đồng) thì Tự lực văn đoàn hoàn toàn tự lực. Đến khi làm đơn xin Chính phủ cấp đất cho toà báo, bị Pháp gạt toẹt không cho. Thế nhưng Ngô Văn Phú, chủ báo Đông Pháp được quan thầy cấp cho mấy trăm mẫu ruộng bãi bồi ở Thái Bình. Sau này vào Sài Gòn, Nhất Linh cũng không chấp nhận chính quyền Ngô Đình Diễm, ông chống đối quyết liệt, đã lấy cái chết để cảnh cáo chế độ chà đạp tự do của con người.

Chỉ hoạt động chưa đến 10 năm. Tự lực văn đoàn đã gây ảnh hưởng mạnh mẽ và toàn diện trong đời sống văn học thời bấy giờ. Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu thưởng thức thông tin, văn nghệ của quần chúng, mà còn thu hút các văn nghệ sĩ tài năng nhiều ngành: văn, thơ, nhạc hoạ, kiến trúc tham gia sáng tác. Chỉ riêng về lĩnh vực văn hoá tư tưởng thời bấy giờ, Tự lực văn đoàn có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội.

Nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà phê bình cả hai miền Nam Bắc đã bỏ công sức tìm hiểu, đánh giá về phong trào văn học này với nhiều khía cạnh khác nhau. Theo chỗ chúng tôi biết, chỉ nói tới vấn đề khái quát “Dấu ấn của một văn đoàn” đã có sáu chuyên luận (Phạm Thế Ngũ, Trương Chính, Phan Cự Đệ, Lê Thị Đức Hạnh, Trịnh Hồ Khoa, Tú Mỡ). Chỉ một chân dung của Nhất Linh có tới 10 tác giả khảo luận, như Vũ Ngọc Phan, Bùi Xuân Bài, Bạch Năng Thi, Thế Phong, Thế Uyên, Vũ Hạnh, Tường Hùng, Nguyễn Mạnh Côn…

Chỉ một con người Khái Hưng trong cuốn sách “Khái Hưng nhà tiểu thuyết xuất sắc” có tới ba chục bài của gần ba chục tác giả: Vũ Ngọc Phan, Trần Khánh Triệu, Dương Nghiễm Mậu, Hồ Hữu Tường, Vu Gia, Nguyễn Vỹ,…

Chỉ một Thạch Lam, mà đã có 13 tác giả để tâm nghiên cứu viết bài, như: Nguyễn Tuân, Phạm Văn Phúc, Phong Lê, Hà Văn Đức, Hồ Dzếnh, Thế Lữ, Đỗ Đức Thu, Đinh Hùng v.v… (Con số này chắc chắn chưa thể nào đầy đủ). Các nhà nghiên cứu mỗi người một vẻ, với đủ các góc nhìn khác nhau: có khi thì đi sâu vào cách tân trong văn xuôi Tự lực văn đoàn, có khi đi sâu vào khuynh hướng lãng mạn phản kháng trong Nhất Linh, lại có bài Nghĩ về lá rụng trong văn Khái Hưng…

Trương Chinh trong bài Dưới mắt tôi, ca ngợi Khái Hưng có lối văn giản dị thanh tao, bóng bẩy nhưng trong sáng, nhịp nhàng nhưng không mát vẻ tự nhiên. Nhiều câu văn phảng phất âm điệu thơm tho, thấm vào hồn ta như mùi hương đượm (Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 24B- NXB KHXH- 1997).

Hoàng Xuân Hãn, từng là Chủ tịch Tiểu ban chính trị trong Phái đoàn Việt Nam ở hội nghị Đà Lạt năm 1946 (do Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng Ngoại giao là Trưởng đoàn) trên Tạp chí Sông Hương số 37- tháng 4/1989 phát biểu: “Tôi nghĩ rằng những nhà văn học, sử gia sẽ phải thừa nhận giá trị của thành viên trong nhóm Tự lực văn đoàn và phải bắt đầu lại việc xem xét nghiên cứu các tác phẩm của họ… Tự lực văn đoàn là nhóm cải cách đầu tiên của nền văn học hiện đại.”

Phan Cự Đệ trong cuốn “Tự lực văn đoàn con người và văn chương” – NXB Văn Học -1990 nhận xét: Thành công của Tự lực văn đoàn trong xây dựng nội tâm nhân vật tinh tế hơn so với nhiều tiểu thuyết trước đó kết cấu hiện đại hơn theo quy luật tâm lý, không theo chương hồi. Ngôn ngữ giản dị, trong sáng giàu khả năng diễn đạt, gần gũi tâm hồn dân tộc.
Các nhà nghiên cứu dễ nhất trí khi nói về tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, rằng họ có công lớn trong việc đổi mới nền văn học vào những năm ba mươi của thế kỷ trước, đổi mới từ quan niệm xã hội cho đến việc đẩy nhanh các thể loại văn học trên con đường hiện đại hoá làm cho ngôn ngữ trở nên trong sáng và giàu có hơn.

“Các tác phẩm của Tự lực văn đoàn thấm đượm tinh thần nhân văn, tinh thần chống lễ giáo phong kiến, chống các hủ tục. Cùng với ý thức đả kích những kẻ xu phụ thực dân, châm biếm thói hư tật xấu trong xã hội là tinh thần cảm thông với những nỗi khổ cực, sự lam lũ bần cùng của người lao động; tinh thần đề cao tự do cá nhân, giải phóng phụ nữ, hướng theo những tư tưởng nhân đạo, bình đẳng bác ái của thời kỳ Mặt trận Dân chủ” (Viện Văn học – Văn chương Tự lực văn đoàn tập 1, NXB GD, 1999).

Nhà thơ Huy Cận từng là cộng tác viên của Tự lực văn đoàn trong Hội thảo về văn chương Tự lực văn đoàn do trường Đại học Tổng hợp và Nhà Xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp tổ chức tháng 5 năm 1989, đánh giá: “Tự lực văn đoàn đã đóng góp lớn vào văn học sử Việt Nam… Đã góp phần lớn vào nghệ thuật tiểu thuyết, vào tính hiện đại của tiêu thuyết, đóng góp vào tiếng nói và câu văn của dân tộc.”

Với Nhất Linh, ông đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển tiếng nói, câu văn dân tộc, làm cho nó ngày càng trong sáng hơn, giàu đẹp hơn, đã đưa tên tuổi ông vào lịch sử văn học dân tộc: Đoạn Tuyệt là một kiệt tác trong văn học Việt Nam hiện đại (Trương Chính). Với Hoàng Đạo đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại.

Với Khái Hưng, đó là một nhà tiểu thuyết có biệt tài, và người ta có thể gọi ông là nhà văn của thanh niên. Ông rất am hiểu tính tình tuổi trẻ. Phần đông thanh niên trí thức Việt Nam là những độc giả trung thành của ông và phụ nữ chiếm số đông nhất. (Nhà văn hiện đại, tập 2 – NXB KHXH, 1989).

Còn văn chương Thạch Lam, là lòng nhân hậu, niềm thương xót đồng bào.

Trong nhóm Tự lực văn đoàn, Hoàng Đạo là người lý thuyết, Nhất Linh là người thực hành, Khái Hưng đả phá vào nếp sống cũ để tiến tới một đời sống mới… còn Thạch Lam một người yêu thương đồng bào, xót xa từ tâm can tỳ phế.

Nhiều bạn bè, kể cả người trong gia đình đều nói sách Thạch Lam bán ế nhất, nhưng văn của ông viết hay nhất trong Tự lực văn đoàn.

Thạch Lam được thừa hưởng đức hiếu thuận của mẹ, vẻ lịch lãm, từng trải của cha, đã hình thành một phong cách sống khác với các anh chị em trong nhà.

Nhà văn Vũ Bằng kể lại:

Thạch Lam yêu sự sống hơn bất cứ ai. Anh quý từ cốc nước chè tươi nóng, trang trọng đưa lên miệng uống một cách gần như thành kính, tiếc từ một cái kẹo vừng rơi xuống đất, nhặt lên phủi bụi rồi ăn ngay một cách chậm rãi như thế vừa ăn vừa ngẫm nghĩ cảm ơn trời đất đã cho mình sống để thưởng thức ngon lành như vậy. Anh cẩn thận từng câu nói với cô bán hàng vì sợ lỡ lời có câu nào không chu đáo khiến cho người ta tủi thân mà buồn.

Thạch Lam đi đứng nhẹ nhàng, dường như sợ nếu bước mạnh thì đất nó đau. Anh lặng lẽ và anh khiêm nhường, lúc nào cũng coi mình bé nhỏ. Thạch Lam là một người độc đáo có tài lại khiêm nhường, người nhỏ mà nhân cách lớn.

Một người như thế không thể là người lý thuyết, chỉ là nhà tư tưởng, như con chim kia, lấy mỏ rút ruột mình để nuôi một đàn con.

Vũ Đức Phúc trong cuốn “Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại 1930-1954”, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội – 1971, đã có góc nhìn công bằng lịch sử khi nói về Thạch Lam:

Thạch Lam rõ rệt là người ít nhiều có khuynh hướng Nghệ thuật vị nhân sinh: “Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đó sự thoát ly hay sự quên; trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa tố cáo và đổi mới cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn” (Lời nói đầu tập Gió đầu mùa, 1937). Quan điểm đó hoàn toàn trái với quan điểm của Thiếu Sơn, Hoài Thanh và Lê Tràng Kiều. Rõ ràng là Thạch Lam đã chú ý chống lại hai luận điểm chính của Thiếu Sơn về chức năng của văn nghệ: quên cuộc đời, thoát ly vào cõi mộng… Nhất Linh, Hoàng Đạo không thuộc phái nghệ thuật vị nghệ thuật, nhưng họ “vị nhân sinh” theo một kiểu riêng. Tiểu thuyết của hai người là “tiểu thuyết có luận đề” (trang 112 sách đã dẫn).

Quả như Vũ Đức Phúc nhận xét, tư tưởng nghệ thuật vị nhân sinh đã được thể hiện rõ trong tiểu thuyết “Hai vẻ đẹp” (1936) của Nhất Linh. Nhân vật chính trong truyện là Doãn – một hoạ sĩ. Lúc đầu chàng nghĩ rằng mục đích nghệ thuật chỉ là vẻ đẹp, làm cho cuộc đời thơ mộng. Sau đó về một thôn quê, gần với cuộc đời lao động cày cuốc nắng mưa, chàng đã phát hiện ra một điều “Chính những cái khổ của người chung quanh sẽ đem lại cho chàng cái nhẽ để mà sống.”

Phong Lê, trong Tuyển tập truyện ngắn Thạch Lam – NXB Văn học 2004 cũng nhận định:

Nửa thế kỷ đã qua, mà đọc truyện Thạch Lam, cảm về câu văn Thạch Lam, tôi thấy cứ như là câu văn hôm nay; và tôi còn dám chắc chưa hẳn đã có nhiều người viết hiện nay, với số trang ít ỏi, lại nêu được ngần ấy vẻ đẹp chứa trong cốt truyện, tình cảm, tâm hồn, câu văn ấy của những Nhà mẹ Lê, Cô hàng xóm, Tối ba mươi, Hai chị em, Hai lần chết… tôi cho đó là những trang hay trong văn học 1930- 1945, nó không kém chút nào những trang hay của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Tô Hoài”.

Với tiêu đề Thạch Lam, trong Tuyển tập truyện ngắn Thạch Lam – viết tháng 10 năm 1957, nhà văn Nguyễn xuân đã nhận xét:

Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc… Thạch Lam có đem sinh sắc vào tiếng ta… Thạch Lam là một nhà văn quý mến, cuộc sống, trang trọng trước cuộc sống. Ngày nay đọc Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học…

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s