Từ khi trăng vẫn là nguyệt-Những đoản văn của Nguyệt Saigon(Ubee Hoàng)

tạp bút

logo thi ca1

“Từ khi trăng vẫn là Nguyệt”

Những đoản văn của Ubee Hoang

cropped-img_9771

Ubee Hoang

Người đàn bà

chợ đêm Miền Tây3

Người đờn bà dừng xe trên phố khuya Sài Gòn để khóc vài phút rồi đi tiếp. 

Người đờn bà đứng trên sân khấu nhỏ hoe hoe ánh đèn trong tà áo dài tím, nghe Thuỵ đọc lời dẫn cho bài hát tiếp theo sẵn khoe một đoạn Thuỵ biên về cổ. Người đờn bà lại khóc. 

Tôi thở phào và sau bấy lâu tôi phớt mọi sự thúc hối để mặc kệ lờ sự gắng gượng để biên cái gì đó thì tôi đã có thể vui trong một đêm mà chính tôi cũng có nỗi buồn riêng. Có lạ không khi tôi luôn thở phào khi nhìn thấy nước mắt, lệ sầu đối với tôi chẳng là đớn đau gì ghê gớm. Bởi ai từng đi qua đỉnh-vực dâu bể cuộc đời, cuộc tình thì mới thấu, nỗi đau lớn thường khô cong khoé mắt, chầu chực rơi ra ướt nhoè một lần để biết rằng buồn này sắp qua ấy chứ. Nước mắt có gì ghê gớm đâu mà người ta ngại nó quá, sợ mình thôi mạnh mẽ ư? Hay sợ mình uỷ mị? Tôi cho rằng nước mắt là thứ cần cho đời. Khóc để biết cảm xúc là thứ nhìn thấy được. Và tôi gặp được cảm xúc của chính mình.

Cô ấy khóc và tôi nhẹ lòng. Chẳng hề liên quan tới những ưu tư cô mang. Mà là nỗi lo riêng tôi. 

Còn nhớ, lần đầu gặp cô ấy, một chiều nơi quán vắng Người Sài Gòn. Cô đến với tôi trong tâm thế của người đờn bà mà cứ một bước ra ngoài kia là tôi gặp được một phường những cô gái dáng hình như thế. Nhỏ bé, tóc búi lọn vào một chiếc kẹp, kiểu búi mà những cô gái thị dân phố này khước từ có lẽ đã lâu lắm, chỉ còn thấy lại ở những chị bán buôn, gánh, chợ. Áo khoác, vớ da chân, giọng phố núi thanh thanh, nhè nhẹ và kiệm ngữ điệu. Tôi mỉm cười mặc kệ cái hình thức cô đã chọn khoác để gặp nhau lần đầu thử giọng. Tôi chủ quan mà nghĩ đôi khi tôi vẫn chơi trò này hòng mong người ta chịu một bước nữa bước qua cái nhìn để thấy nhau thực sự. Tôi hoài nghi về sự thử lòng này của cổ. Hôm đó loa và mic đều hư đợi sửa nên hẳn là không ổn. Tôi cũng vờ không nói. Cô bước lên sân khấu, một chút lúng túng, cô cất giọng 

“Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ, buổi chiều ngồi ngóng những chuyến xe qua…”

Tôi chợt ngoái đầu tìm kiếm, rõ ràng chiều hôm ấy quán thưa người. Nghe như ngay đây cô Khánh Ly vừa cất giọng. Phía sau sân khấu có một đôi cửa lớn, đêm xuống phông màn mới được hạ, ban ngày được cuộn lên cao, chiều chiều cửa thường mở để đón gió. Chiều đó không có nắng, ánh sáng cũng liêu xiêu hắt rọi. Cổ đứng trên đó, hoàn toàn ngược sáng khiến gương mặt chẳng tỏ, có gì đó như thể sắp đặt khi dung nhan đứng trước sáng nhưng lại tối. Rồi cứ thế cô hát, tôi thôi nhìn cô, tôi nhìn mơ hồ vào một điểm bất định nào đó mà như trôi tuột về một quán Văn của thời mà tôi còn chưa thành hình nên chẳng dám gọi miền ấy tên Miền Hồi Ức. 

Cô khoe tôi bằng giọng khiêm nhu đầy tự hào rằng có bài báo nào đó người ta gọi cô là “Khánh Ly Phố Núi”. Tôi gật đầu đồng ý nhưng có điều gì đó dường như chư phải, cũng chẳng có lý lẽ nào để nói cho cô hay một nửa còn lại của sự đồng ý đó của tôi khi chừng như cô muốn gắn mình với danh hiệu này. 

Với dòng nhạc Trịnh, tôi chủ quan cho rằng đó là dòng nhạc dấu hiệu cho hay sự mới biết suy tư của những lớp người trẻ thời hậu chánh biến miền Nam. Lớp người mà bằng dòng nhạc Trịnh có thể tự định vị mình có một nội tâm biết yêu, biết buồn sâu sắc, đẹp đẽ, biết trăn trở với cuộc đời, với phận người…Tôi và rất nhiều bạn bè trang lứa của mình cũng đã từng có lúc như thế và bây giờ tôi thấy lớp người trẻ ấy ngày càng nhiều hơn. Và rồi một ngày khi tôi thật sự cảm nhận được nỗi đau của cuộc tình mang lại, cuộc đời để lại trong tâm hồn mình trên da thịt mình những vết sẹo đớn đau, tôi đi qua sự sinh, sự sống, sự chết. Tôi tìm Trịnh để nghe nhưng không tìm thấy sự ủi an, tôi không tìm thấy sự sẻ chia, nhạc Trịnh khi ấy với tôi như thể một người bạn tâm giao nay đã khác, những lời ca kia quá chênh vênh đối với tôi hay chính tôi cảm thấy lạc lõng, hời hợt như một vòng tay ôm không đủ chặt đối với nhạc Trịnh cũng không hiểu nữa. Ai yêu nhạc Trịnh, ai lần mò tìm hiểu về ông đều biết về những cuộc tình của ông đã qua. Đẹp một cách vô cùng thơ và vô cùng văn nhưng vẫn cứ chưa mấy người, chẳng mấy trần và kể cả đau nó cũng đau thênh thang chẳng đời. Khi nghe Khánh Ly hát Trịnh, tôi mơ hồ ấy là tri kỷ hát lời tình chứ không là tình nhân hát lời nhau. Tôi nghe Hạ Huyền của Giang Trang, tôi ngắm trang hát trên sân khấu. Chất giọng mênh mang đầy thiền tính như dùng nhạc Trịnh để đưa người nghe đến một cõi nào đó vậy. Nét đẹp và tiếng ca của Giang Trang cứ như làn gió, không ai đưa tay bắt được gió, chạm được gió mặc dù vẫn cảm thấy rõ rệt gió thổi qua tung bay làn tóc mình, mơn trớn da thịt mình. Có điều gì đó vẫn không sờ chạm, hiện hữu được. 

Nhạc Trịnh dễ hát, dễ nhớ, dễ đàn nhưng để những tín đồ của dòng nhạc này nghe được và ngoái lại trước một giọng hát đúng chất thì lại chẳng có được mấy người. Nguyệt cũng là một trong số ít ỏi được chấp nhận ấy. Nhưng, rất nhiều lần tôi tự hỏi, tại sao lại là Trịnh? Tôi chừng như chẳng hề ưa thích khi ai đó lại gọi Nguyệt là “Khánh Ly phố núi”, tôi lại hỏi “tại sao?”. Đờn bà ở độ tuổi đã nghiêng về phía còn lại của một nửa đời người sáu mươi năm đã an bề mọi sự mới lần nữa thực sự khởi động nghiệp hát, chọn cho mình một dòng nhạc cũ thôi thì cũng chẳng gọi là muộn mằn gì song tôi lại băn khoăn liệu Trịnh là vì chất giọng giông giống cô Khánh Ly thôi chăng? Thời gian đầu ở Người Sài Gòn người ta yêu cầu Nguyệt hát nhiều bài Trịnh, tình ca, da vàng…Người ta thích thú như một phát hiện. Tôi đề nghị Nguyệt hát Phạm Duy,Vũ Thành An, Ngô Thuỵ Miên, Hoàng Thi Thơ, Từ Công Phụng, Nguyễn Văn Đông…Và rồi, lần đầu tiên Nguyệt cất giọng “anh nhớ gì không anh những trai hùng đi giúp non sông, trên bốn ngàn năm qua dãi sơn hà đôi phen thạch mã…” tôi ngẩn người như thể đây mới là một Nguyệt mà tôi cần gặp. Tôi len lén đi tìm Nguyệt, tôi len lén cầm tay cô chạy qua những nẻo đường trên tấm dư đồ nhạc xưa. Ở mỗi đại lộ mang tên một người nhạc sĩ khác không là Trịnh tôi nhặt được một mảnh ghép về tấm chân dung của Nguyệt. Nguyệt không biết điều đó, tôi sợ chạm đến phần tôi thường rất lớn nhưng lại vô cùng mong manh của người nghệ sỹ nên nhân danh yêu cầu công việc và thính giả chứ chẳng dám rủ Nguyệt cùng tìm màu để vẽ lại chân dung của chính mình một cách thật nhứt, đẹp nhứt, đúng nhứt. 

Đêm nọ, cô tìm đến tôi trong một đêm, ánh mắt rũ xuống như những nhành me ngoài cửa, ánh mắt cứ rũ rượi treo lập loè trên ngọn bạch lạp và đòng đưa cháy liu riu ở đó. Tôi im lặng, có vị khách nào đó thấy cô, họ lại mong nghe cô hát. Cô chẳng từ chối mà vẫn hát, vẫn một bản nhạc Trịnh, cô ca vẫn hay, vẫn nụ cười mim mỉm không tươi như mọi khi , chẳng ai mảy may nhận ra cách sân khấu mấy bước, ngọn bạch lạp vẫn cháy, nỗi buồn của cô vẫn đang đặt tại đó. Tôi chợt nhận ra tư chất nghệ sỹ làm nghề trong con người nhỏ bé này, nhưng tôi vẫn ước mong giá như người đờn bà chín trong cô chịu mang cả nỗi buồn ban nãy của mình lên sân khấu để buông những câu nhạc buồn để cho cuộc đời này thật là người. Và giá như đừng là Trịnh, hãy là những nỗi sầu muộn thống thiết nhứt, chân thành nhứt. Tôi đã không gợi ý về mảnh ghép diễm lệ tôi từng nhặt được của cô trong một đêm của Trúc Phương “buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời…”. Cô đã không. Đêm đó, trên phố khuya Sài Gòn vàng vọt ánh đèn, có một người đờn bà dừng xe giữa đường, tấp vào lề đường tự mình mưa một cơn đau tình rồi lái xe về lặng lẽ, cô đơn. 

Người ta ít yêu cầu cô hát Trịnh dần, thay vào đó là những bản bolero mà qua dây thanh âm của cô chúng trở nên đẹp và tình quá đỗi nhưng lại cũng chân thành quá vô cùng, chẳng hề luyến láy hữu ý nhẽo nhợt nhưng vẫn ướt sượt u sầu, nhớ nhung, si mê của những kẻ đương yêu. Tôi hay cười một mình, tôi hay dẹp điện thoại để ngắm nhìn và nghe cô những lúc này. Tôi thích những bàn tay đưa nhẹ và đôi mắm nhắm nghiền đôi lúc khi cô thả hồn mình vào bài hát, khác hẳn với những thênh thang, mênh mang vô hồn hoặc quá thiếu những oằn oại, đam mê, say đắm xác thân nên những cuộc tình chừng như mãi lửng lơ khi cô hát Trịnh. Liệu thần dân của Trịnh có hờn tôi không khi tôi cứ thấy phàm là con người khi yêu, ta khao khát những âu yếm hiện hữu, những da thơm, tóc mềm, những vuốt chạm đi qua trên từng ngón tay chứ nếu chỉ là con tim yêu mộng tưởng thôi thì nỗi đau kia cũng muôn vàn mộng tưởng. Và có lẽ bởi tại điều đó mà tôi cứ tin rằng bỏ bên ngoài những thiên kiến về hồ sơ cuộc đời cá nhân của người nhạc sĩ, bỏ qua loại âm nhạc vị chánh trị thì đến một lúc sầu đau đủ nhiều, đam mê đủ bạo liệt, trăn trở với đời đủ lớn người ta cần những thứ gia vị âm nhạc đậm đà hơn và rồi bấy mươi năm qua, dân Việt vẫn chẳng có một khu vườn âm nhạc nào đẹp hơn mảnh đất xưa nên người ta vẫn tìm đến với bolero, với những đại lộ mang dấu yêu phàm trần của những cuộc tình có tên, có vết thương đau, có cuồng si với chia xa, có hạnh phúc , những bản nhạc mà cuộc yêu thật thơ rằng “cửa tâm tư là mắt nên khi đối mặt chuyện buồn dương gian lẩn khuất” lại cũng “nguyên thuỷ loài người” với những “ngôn ngữ tình làm bằng dấu đôi tay”  và dẫu là “trên đôi vai thanh xuân ướp hôn nồng bên gối đắm say, ánh sao trời theo gió rụng rơi đầy” , hay có “yêu nhau trong lo âu” thì vẫn “có yêu nhau ngọt ngào tìm nhau“. 

Một đêm khác của Sài Gòn, trên chính sân khấu nhỏ nhuộm ánh đèn vàng đỏ ấy, Nguyệt khóc, giọt nước mắt cô giải thoát cho chính tôi. Người đờn bà đi cùng tôi qua những đại lộ âm nhạc ở một chốn nhỏ khoảng thời gian không mấy lâu nhưng quả thật có mặn mà cùng nhau, tôi chờ mong mãi một ngày cô mang hồn người biết yêu, biết đau lên sân khấu, hát lên bài ca bằng chất giọng duy nhứt và rằng cô cũng người như bất cứ ai, đờn bà như bất cứ ai, cũng yêu cũng đau để khi cô hát cô chỉ là Nguyệt thôi và khi cô hát, cô hát cho cuộc đời mình, hát cho những cuộc tình người. Người ca sỹ có quyền được buồn vui theo bài hát, theo tâm trạng chứ nào phải quá khó như kịch sĩ. Chỉ có thế người ta mới nhớ tới cô như một Nguyệt nguyên bản chứ không hề là một bản sao của bất cứ ai để rồi cứ đặt lại trái tim trên bàn nước để bước lên sân khấu với một chất giọng đầy tính liên tưởng, gợi nhớ. 

Đã bao tiếng ca vàng vọt đi qua chốn này,có kẻ thành danh có kẻ bỏ nghề. Hôm nay Người Sài Gòn có Nguyệt và tôi cũng cho phép mình tin ngày mai dân Sài Gòn cũng có Nguyệt. Nguyệt của những cuộc tình vàng sống với cuộc đời như thể sinh ra để yêu, sống để yêu và chết cũng vì yêu chứ không chỉ Nguyệt của một Trịnh chưa từng biết cô tồn tại trên đời suốt quãng đời mình. Tôi dám tin bởi tôi nhớ mãi đêm tôi gửi đi tệp bản thảo của quyển sách này cho lần xuất bản trước với một phiên khúc cuối đầy u hoài nhuốm màu tuyệt vọng bằng tựa “Sài Gòn Bây Giờ Cúi Mặt Xa Nhau” khi chứng kiến những đổi thay của phố song vẫn khe khẽ hy vọng với tấm bìa “Sài Gòn Vẫn Hát”. Sài Gòn đáp tình tôi bằng một không gian mới của Người Sài Gòn được tìm thấy, mở lại, vẫn ấm vàng một chốn riêng tư như thể bộ lạc của những kẻ yêu đương lạc thời và rồi hằng đêm vẫn lên đèn hát cho nhau những bản tình ca chưa bao giời lỗi thời, những niềm yêu chưa bao giờ cũ. Mỗi lần có bạn nước ngoài hỏi về tấm phông màn sân khấu “Sài Gòn Vẫn Hát” tôi chuyển ngữ rằng “Saigon keep singing” thay vì “Saigon still singing”. Khéo là duyên, hẳn là nợ bởi lần này, Sài Gòn Vẫn Hát với bản phái sanh ra đời thì có những nơi chốn xưa chúng tôi từng qua, từng biên lại nay đã không còn ở chốn cũ, người cũ kẻ còn ở kẻ cũng đã xa Sài Gòn, gác nhỏ cũng đổi thay địa chỉ nhưng rồi sau tất cả những đến – đi, còn – mất thì… Sài Gòn Vẫn Hát. 

Nguyệt vẫn là Nguyệt! 

-Sài Gòn tháng tám 2016-

MƯA

saigon đêm mưa

 

Lang thang ăn vặt Sài Gòn chiều, lê từ công viên Lê Văn Tám ăn xuôi xuống Phan Đình Phùng gặp trời đổ cơn mưa mùa tầm tã. Ngồi dưới tấm ni lông nhỏ phần phật đong gió, tiếng mưa bạt tiếng người. Cô – giọng Bắc Kỳ nhè nhẹ, cô có nụ cười và khuôn miệng duyên duyên trò chuyện. 

Ngày đó, sau bẩy lăm, cô từ miền Bắc di cư vô Sài Gòn, học nghề may định học xong về lại ngoài Bắc làm nghề. Dè đâu duyên đưa tới rồi ngụ luôn thị thành này và nghề mưu sanh lại là xe bò bía nuôi hai đứa con trưởng thành nay vẫn cứ xe nầy, hai vợ chồng bán cùng nhau bất kể ngày nắng hay mưa. Cô bảo, ngày nắng bán cũng bốn năm trăm cuốn mỗi ngày, giàu hổng giàu nhưng sống được. Ngày mưa ít lại chứ vẫn bán. Tương nhà nấu từ đậu chứ không mua tương đen của phở về bán vì xe nầy bán từ thời của má chồng tới nay sáu mấy năm rồi. 

Ông chú ở đâu đi về, thấy vạt ni lông gồng mình dưới gió mưa giật, nước tạt tứ bề. Đẩy vợ vô hiên nhỏ chỗ tôi đứng núp rồi tính tới tính lui đòi tháo tấm ni lông che lại. Cô can, đợi tạnh hẳn làm. Giọng ổng nói hơi vất vả, khó khăn nhả chữ đặng tiếng không méo, ít cà lăm. Nghe ổng cãi mà thấy thương vô cùng cái tiếng “em”-“tui”. Cô co ro đút tay vô áo khoác, ngồi thu lu góc hiên mim mỉm cười lắc đầu “ổng cứng đầu lắm con”. 

Ổng giựt pừng pực mấy đầu mối treo tấm ni lông rồi tháo vát máng, cột lại các đầu mối, men theo mái hẹp của chiếc xe di động nhỏ. Đầu còn lại ổng lấy cái ghế làm trụ. Vẫn thiếu một góc vì tấm ni lông hình chữ nhật, một cách tự nhiên ổng đưa cái đầu dây tụi tôi ổng bảo “giữ cho chú”. Ổng đi dắt chiếc xe máy vô làm trụ, ổng cột xong đầu dây cuối cùng thì cũng vừa ướt chèm mẹp, tóc bết dẹp lép trên trán. Ổng hua tay nói cô:

-Em thấy chưa, cứ cãi. Tui nói rồi, thấy chưa. Rộng rãi nè, đứng không ướt mà còn kê được một bàn nữa, đúng không con. 

Tụi tui “dạ” đồng thanh xong nhìn “giang sơn” ổng vừa mới căng xong thì phì cười. Mưa rả rích không có dấu hiệu giảm, gió vẫn tát từng cơn, mấy lần cái ghế nhỏ nhón hai chân tưởng lật theo gió mà lại không. Cái chỗ nhỏ xíu xiu mà ổng đang đứng dang hai tay như thể vua chúa đứng thị uy, tự hào dưới vương triều tự lập và thần dân của mình rồi đôi ba lần hỏi đi hỏi lại câu lập cập vì giọng nói nhả chữ không tròn “đúng hông? Đúng hông?”.

-Em đứng vầy hông ướt nè, em cứ cãi tui. 

Cô mỉm cười kèm cái liếc duyên dáng kiểu con gái Bắc đưa ngang chú giấu chút thẹn thùng với tụi tôi khi ông chú đáp câu hỏi “cô là bà xã chú hả chú?” Ổng chu chu cái miệng kéo đầu cô “mi miếng cho coi nha”. 

-Chú kể thiệt con nghe, hồi nớ chú tán sao mà cô chịu vậy chú? 
-Có một tháng là cưới liền, con có nghe “cưới vợ là cưới liền tay, chớ để lâu ngày thiên hạ dèm pha” chưa?
-Dạ rồi, cô, hồi nẳm sao mà cô chịu chú vậy cô?
-Hồi đó đâu có tán nhau con, hồi đó cha mẹ đặt đâu con cái ngồi đó. Có người quen mai mối là lấy thôi con. Ngày xưa ổng chưa nhậu, chịu làm lắm.
-Con, chú bán bò bía từ năm mười ba tuổi nghe con.

Hoá ra xe bò bía này là nghề nhà chú. Sáng sớm, cô dậy sớm, làm tương đậu. Tương được nấu từ đậu xanh, đậu nành, đậu đỏ rang lên rồi lại ngâm xay nấu…Củ sắn đậu thì bào rồi nấu chín nóng theo xe. Còn rau cũng mua mỗi ngày, không để qua đêm được. Lạp xưởng cũng tự làm. Món ăn đơn giản nầy của người Tàu chợ lớn. Đậu phải nóng, tương phải ấm ăn liền vầy mà lại hàn tính chứ không nhiệt cơ thể. Bao năm nay cứ tương đậu mà nấu là thành hương vị gia truyền chứ không cần thêm bớt thành phần gì rườm rà cho nó mất cái gốc bò bía. Cô bảo, thấy vậy chứ bánh tráng biết mua cuốn mới ngon. Nào hành tím phi, đậu phộng rang…tủn mủn, vụn vặt mà không thiếu được.

Sài Gòn này, món gì ở đâu về đây cũng thành tràn trề gia vị, thành phần, phóng khoáng như thị dân xứ này, vậy mà cái món ăn chơi dân dã cũng được mấy chục năm không bị biến tấu, nuôi sống và thành nghề của biết bao gia đình, vài thế hệ lớn lên với món này chứ bộ. 

Mưa thưa dần nhưng vẫn. Tôi nghêu ngao ca đôi ba câu bolero nhạc mưa. Cao hứng lấy điện thoại ghi lại chơi tiếng mưa thì ông chú cũng ngẫu hứng kéo cái ghế nhựa gõ lóc cóc, tôi tiếc gì mà không ca hết bản “nửa đêm ngoài phố” dù chiều Sài Gòn mới chết trên đường cách đây có đôi giờ chứ đã ngã khuya đâu. Tôi khèo người bạn, khoe cứ như thể Bolero là đặc sản vườn nhà mình hông bằng.

-Có thứ nhạc gì như Bolero đâu thấy hông, cứ cắc cụp là hát hoài được hoài, khỏi cần cây đàn cũng ra điệu, ra tiết tấu nữa.

Giữa lòng chợ Phú Nhuận, mưa làm bốc lên cái mùi hăng hắc của cống, mùi chợ gồm thức ăn sống, chín quyện nhau rất đặc trưng của bất kỳ khu chợ nào. Tui hít hà khiêm tốn nghe hơi mưa, hơi đất rồi chào cô, chào chú chạy ù ra xe. Ổng với theo

-Mai tầm 6h ghé nha, chú cuốn đãi 2 cuốn đặc biệt. 

Tôi cắm đầu chạy xuyên qua màn mưa lưa thưa, về cho kịp đêm nhạc hát với nhau nơi góc vàng vọt mỗi đêm của mình, thả lại tiếng “dạ” thiệt dài cho ổng vui chứ chắc gì mai đã lại thăm được nhau giữa nhịp đời hối hả này. Cô méc rồi, mấy chục năm hổng đổi vị, đặc biệt có chăng là từ đôi tay ổng. Ăn của cô cuốn thôi chứ ổng cuốn chắc gì dám ăn dù nghề của cô giờ là của ổng truyền. 

Cái mùi chợ, mọi lần tôi cứ chau mày, sợ lắm, ấy vậy mà lần này, sao thấy dễ thương quá đỗi. Một góc chợ, góc một đôi cuộc đời, một góc tôi đi hoang bước vào.

Sài Gòn đêm mưa tháng tám.

Tình Tôi Mục Ruỗng Tự Bao Giờ…

mưa ngoại ô

Có đôi khi cõi lòng tôi quá phàm, có thiếp đi cũng khó lòng siêu thoát nên cứ quẩn quanh với cõi đời hỉ bi bất tận. 

Chiều Sài Gòn phun hời hợt vài giọt lơ thơ chưa gọi là nước mắt, vẫn có thể ngồi để thẩn thờ dưới tán lá nhìn dòng người qua mà ngao ngán cuộc đời như thể bên trong xác thân này, một tôi đã cằn cỗi lắm. Mưa vô tình thôi mà tôi tranh thủ thở dài đắng cay. Cây me cũng thành hàng, gió hắt qua là lá chạm lá vuốt ve xào xạt. Dây tơ hồng cũng quấn quít vào nhau từng chùm sợi đong đưa buông mình trên ban-công. Không hờn sao được, dưới kia đôi trai đón đưa nhau tan sở, môi hôn đặt lên má, nón quai cài cho nhau rồi siết eo vút đi. Thứ tình nhân đồng giới mà sao cũng lại đẹp đến vậy. Xa xôi quá một tầm mắt mà như thể cảm được cái đam mê cuồn cuồn trong từng ngón tay vuốt vá, ôm eo. Cuộc đời quên tôi như quên một câu hát giữa bài tình ca. Chợt buồn!

Đã từ lâu tôi khước từ men say, nỗi u buồn thấm trong từng tế bào, say mụ mị thứ men rẻ mạt của đời này mãi khiến tất thảy mọi loại men khác đều trở nên vô vị trên môi miệng. Khói ưu tư cũng thôi vân vê quấn quít ngón tay. Sầu trong từng hơi thở, cần chi phải hít hà thêm khói cho cay nồng mắt môi. 

Cũng có lần nghe tim mình cuống quít trật nhịp, rồi có lẽ thôi. Cứ thế tôi đi, chẳng tay nào níu. Bao năm mang tim mình ẩn dật, trốn chạy mãi chỉ để mong được tìm thấy. Gặp ngờ ngợ để rồi vén môi cười buồn quay đi, lặng như tờ chẳng lời nào níu giữ. Có lẽ chẳng ai cần. 

Sài Gòn có mùa thu không nhỉ? Sao nghe lòng quạnh hiu như vào mùa. Có lắm khi ngã giá với cuộc đời, chỉ cần một vòng tay ôm an lành trong những đêm chênh vênh. Kệ trời có thu hay đông lòng nhứt định sẽ xuân. Ấy vậy mà…

“Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng

 Người thì không bắt bóng được bao giờ” (*)

Ô kìa, Đêm đang ngã sang ngày. 

Tôi ngã sang đâu cũng là ngày hoặc đêm.

-Ubee Hoang-

•••••
(*): Thơ Nguyễn Tất Nhiên

96546693ce3c382bebaf369b66bb4c46

nguồn : Ubee Hoàng ‘s Blog

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s