Đọc lại bài thơ “Nguyện cầu ” của Vũ Hoàng Chương-Nguyễn Cang

ĐỐT LÒ HƯƠNG CŨ

ánh trăng với em

ĐỌC LẠI BÀI THƠ ” NGUYỆN CẦU”

của Vũ Hoàng Chương.

cang     

Nguyễn Cang

Vũ hoàng Chương

Ta còn để lại gì không?

Kìa non đá lở, này sông cát bồi

Lang thang từ độ luân hồi

U minh nẻo trước xa xôi dặm về

Trông ra bến hoặc, bờ mê

Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương

Ta van cát bụi bên đường

Dù nhơ, dù sạch đừng vương gót này

Ðể ta tròn một kiếp say

Cao xanh liều một cánh tay níu trời

Nói chi thua được với đời

Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu

Tâm hương đốt nén linh sầu

Nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi

Ðêm nào ta trở về ngôi

Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian

Một phen đã nín cung đàn

Nghĩ chi còn mất, hơi tàn thanh  âm.

       Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương

Trước hết xin tóm tắt tiểu sử thi sĩ Vũ Hoàng Chương:

    Ông sinh năm 1915 tại Nam Định. Cha mẹ ông đều là những người hay chữ, yêu thơ văn và âm nhạc. Ông học chữ Hán ở nhà rồi lên học Tiểu học ở Nam Định. Sau đó ông học tiếp tiếng Pháp để vào trung học. Năm 1931, ông nhập học trường Albert Sarraut Hà Nội, đậu tú tài năm 1937. Năm 1938 ông vào học trường luật nhưng không lâu thì bỏ trường đi làm phó kiểm soát Sở Hỏa Xa Đông Dương.

Năm 1941 ông lại bỏ Sở Hỏa Xa để đi học cử nhân toán ở Hà Nội , rồi lại bỏ dở một lần nữa để đi dạy học. Cũng trong suốt thời gian nầy ông sáng tác nhiều thơ và kịch. Ông lập ra ban kịch nói, đi trình diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội năm 1942. Cũng chính trong thời gian nầy ông gặp Đinh Thục Oanh là chị ruột nhà thơ Đinh Hùng và thành hôn với bà nầy. Sau tháng 8/1945 ông về Nam Định cho trình diễn vở kịch Lên Đường của Hoàng Cầm. Có một thời gian ông theo kháng chiến, nhưng khi kháng chiến nổ ra ác liệt, ông bỏ hàng ngũ, tản cư về Thái Bình. Đến năm 1950, thấy tình hình không ổn vì Pháp hành quân ruồng bố khắp vùng quê hẻo lánh , bắt người trong gia đình, nên ông bỏ về Hà Nội .

Năm 1954 ông di cư vào Nam làm nghề dạy học và tiếp tục sáng tác thơ văn cho tới 30/4/1975. Sống tại miền Nam tự do, ông sáng tác không ngừng, đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật toàn quốc năm 1959, sau đó sang dự hội nghị Thi Ca Quốc Tế tại Bỉ. Ông cũng từng dự Hội Nghị Văn Bút Á Châu (1964)tại Bangkok Thái Lan. Năm 1965 dự hội nghị Văn Bút Quốc Tế tại Nam Tư. Năm 1967 dự Hộ Nghị Văn Bút Quốc Tế tại Cote d,Ivoire.

Từ năm 1969-1973 ông giữ chức vụ chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Năm 1972 ông lại đoạt giải thưởng Văn chương toàn quốc lần thứ hai, và được vinh danh là “thi bá” Việt Nam. Sau khi miền Nam Việt Nam sụp đổ, ông bị bắt giam tại khám Chí Hòa. Được một năm, ông bị bệnh nặng, được đưa về nhà, năm ngày sau thì mất (6/9/1976) tại Sài Gòn,  chấm dứt cuộc đời của một nhà thơ lớn Việt Nam mà suốt đời chỉ làm cái việc dạy học và sáng tác thơ văn. Bài “Nguyện Cầu” được viết nhiều năm trước đó, phải chăng    điềm báo trước nó sẽ vận vào mệnh số của ông năm 1975?

Bài thơ Nguyện Cầu được sáng tác trong trường hợp nào? Sau đây ta thử đi tìm xuất xứ của nó. Tập thơ “Mây” xuất bản năm 1943 làm rúng động giới thưởng ngoạn thơ văn bởi những bài thơ trữ tình lãng mạn đầy đau thương của tác giả. Vũ Hoàng Chương bị bế tắc trong cuộc sống và trong tình yêu. Ông đau đớn xót xa cho những mối tình tan vỡ nên đăm ra tuyệt vọng. Tư tưởng yếm thế bị dồn nén tối đa làm tim ông đau nhói. Đến khi đất nước bị chia hai (1954), như vết dao cắt đôi cơ thể con người, làm ông đau đớn và hoang mang. Từ đó ông trở nên bi quan cho cuộc sống, cho thân phận con người nên tinh thần dao động cực độ. Ông không còn say sưa với rượu, vũ trường để lẫn trốn, hoặc làm nơi trú ngụ tinh thần. Chính trong hoàn cảnh đất nước chia đôi, tâm trạng bàng hoàng mà bài thơ Nguyện Cầu được sáng tác. Nguyện Cầu là thi phẩm đầu tiên in trong tập thơ Rừng Phong, xuất bản năm 1954. Tôi cho rằng đây là bài thơ hay nhất trong tập thơ và cũng là thi phẩm hay nhất trong sự nghiệp văn chương của Vũ Hoàng Chương.

13173_1586491948270629_5868238741570140584_n

Bài thơ mang hương vị thiền của thể lục bát. Lúc trẻ tuổi, ông thường ăn chơi, say sưa trụy lạc nhưng càng lớn tuổi ông quay về tu học, thiền định. Khi sáng tác bài thơ nầy Vũ Hoàng Chương muốn trút bỏ hết tham sân si, để huớng về cửa Phật nên thơ cũng mang âm hưởng triết lý Phật giáo sâu xa.

Cả bài thơ như lời nhắn gởi để răn mình, răn người và răn đời.

Ta còn để lại gì không?

Kìa non đá lở, này sông cát bồi.

Mở đầu bằng một câu hỏi tu từ nghe ngậm ngùi thê thiết, xót xa, thương cho thân phận bọt bèo, khi mất đi rồi ta còn để lại gì cho hậu thế? Với một thủ pháp đặc biệt, tác giả gợi lên tánh tò mò nơi người đọc, muốn biết nhà thơ sẽ để lại gì cho đời sau khi mất đi? Câu hỏi không có lời giải đáp dứt khoát. Tác giả đặt câu hỏi cho chính mình mà không cần trả lời, nhưng theo quan niệm đông phương thì khi chết, ta cần để lại một cái gì cho đời, cho thế gian, cho con cháu. Ta để lại gì ? Cho ai? Như trong bài thơ “Chí nam nhi” của Nguyễn Công Trứ, ông muốn tạo công danh và để lại tiếng tăm cho đời: “Trong vũ trụ đã đành phận sự/Phải có danh gì với núi sông”, hay Cao Bá Quát, trái lại, chán cảnh bon chen danh lợi, tức nhiên ông không bận tâm việc để lại tài sản gì cho mai sau: 

Cổ lai danh lợi nhân,

Bôn tẩu lộ đồ trung;

Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu,

Tỉnh giả thường thiểu, túy giả đồng.

(Xưa nay phường danh lợi,

Bôn tẩu trên đường đời;

Gió thoảng hơi men trong quán rượu,

Say cả hỏi tỉnh được mấy người ?)

Suy luận theo hướng nầy thì khi mất đi người ta muốn để lại nhà của, ruộng vườn, tài sản, tiếng tăm, danh vọng… còn Vũ Hoàng Chương chỉ để lại kho tàng thơ văn nghệ thuật, tức tiếng nói của con tim mà thôi. Mặt khác, đây có thể là ý của tác giả bài nầy, người ta quan niệm đời người như giấc chiêm bao mà thế gian nầy là cõi tạm, khi chết đi là trở về với các bụi. Thân xác nầy không đáng kể: Thành trụ hoại  diệt, được áp dụng vào đời sống con người vì đó là định luật của vũ trụ tự nhiên.

Câu thơ:”Kìa non đá lở, này sông cát bồi”, nói lên đời sống vô thường của một kiếp người hay của một vị “Trích tiên”, lấy giới hạn là một trăm năm, rồi cũng đi về cõi vĩnh hằng, nó bay vèo như một giấc mộng. Sông còn có thể cạn đá còn có thể mòn do tác động của thiên nhiên, và khi  thời gian kéo dài thì con người làm sao tồn tại vĩnh viễn cho được? Điều nầy hơi khác với cảm xúc của bà Huyện Thanh Quan, khi đứng trước thành Thăng Long xưa, cho rằng thời gian có thể tàn phá mọi thứ nhưng sông núi thì vẫn trơ trơ đứng vững như thách đố với thời gian:

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương.

Ta có thể cảm thông được ý nghĩ của bà vì khi trở lại thăm thành Thăng Long, thời gian xa cách không lâu lắm, nên cảnh vật chưa kịp thay đổi.

    Câu thơ tuyệt vời đầy cảm xúc của Vũ Hoàng Chương còn gợi lên hình ảnh của một cuộc đổi thay khôn lường: “Thương hải tang điền”(Ruộng dâu biến thành biển xanh, hay ngược lại) là đề tài muôn thuở cùa các thi nhân Việt Nam. Điều nầy cho thấy mọi sự vật trên đời đều chịu sự chi phối của lực “vô thường” nghĩa là không có gì là vĩnh cữu. Ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo ăn sâu vào văn học cổ điển Việt Nam nên trong Cung Oán Ngâm Khúc, tác giả Nguyễn Gia Thiều cũng đã than lên rằng:”Phong trần đến cả sơn khê/ Tang thương đến cả hoa kia cỏ nầy” để diễn tả nỗi đau thương bất hạnh của người cung nữ tưởng rằng nàng sống vui trong nhung lụa tràn đầy hạnh phúc, nhưng không! Cho nên cuộc đời được mất là lẽ thường.  Nhà thơ Tú Xương cũng có những suy nghĩ như thế khi dừng chân ngủ đêm cạnh bờ sông cũ  ở Nam Định.  Con sông Vị Hoàng  giờ không còn nữa nó đã bị lấp lâu rồi! ( chỉ sự thay đổi bất ngờ). Trong đêm thanh vắng ông lắng nghe tiếng ếch kêu như có tiếng ai gọi đò bên kia sông (tưởng như tiếng kêu gọi của nghĩa quân nổi lên chống Pháp: ẩn dụ) khiến ông giật mình tĩnh giấc, lòng bàng hoàng thương cho thân phận người dân mất nước (Pháp đô hộ, chỉ một sự mất mát). Không kìm được xúc cảm, ông bèn sáng tác ngay 4 câu thơ tuyệt vời:

trăng nước

Sông kia rầy đã lên đồng

Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai

Đêm nghe tiếng ếch bên tai

Giật  mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.

Xưa  nay,  núi  cao  nhưng đá lở do gió thổi bào mòn, do chấn động địa chất, do con người khai thác… còn sông thì sâu nhưng bị bồi lấp mãi  cũng cạn dần nên câu nói “sông cạn đá mòn” thật hữu lý!

Trần gian là bể khổ mà đường về thì xa xôi. Ông xúc động cất tiếng than:

Lang thang từ độ luân hồi

U minh nẻo trước xa xôi dặm về.

Chữ “Luân hồi” thường dùng trong kinh Phật theo đó người ta ở thế gian nầy chịu chi phối bởi luật luân hồi, hết kiếp nầy đến kiếp khác liên tiếp. Tùy theo các hành vi đã làm trong đời nầy mà con người sẽ do nghiệp quả chi phối, tái sinh vào một trong sáu nơi (lục đạo). Người ta bị xoay vần trong lục đạo hết kiếp nầy sang kiếp khác như một bánh xe quay mãi không ngừng. Chỉ có sự tu hành đắc đạo mới chấm dứt được luật luân hồi  mà thôi ( theo tự điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Hồng Đức, Việt Nam, năm 2011). Ngày sanh xuống trần thế cũng gọi là luân hồi. Ngày xưa ở Đông phương, những người có tài năng thường tự cho mình có tiền kiếp là vị tiên trên trời, do phạm một lỗi lầm gì đó mà bị Trời đày xuống thế gian, sau khi trả nợ xong thì được trở về thượng giới. Luân hồi cũng còn có nghĩa là trôi nổi bồng bềnh như bánh xe quay tròn. Từ độ luân hồi xuống trần gian nên phải lang thang tìm cuôc sống mới. Từ ngữ “lang thang” nói lên sự khó khăn đó. Lang thang là đi không nhất định nơi nào, đi không có muc đích ( ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu? Lời bài hát). Khi đi lang thang trong cuộc đời mà không thấy con đường tươi sáng, tác giả tự soi lấy thân cho rằng do kiếp trước làm điều sai trái nên kiếp nầy phải chịu khổ sở đắng cay. “U minh nẻo trước” là trước mặt không có đuốc sáng không có đẻn soi, không có người hướng dẫn mà chỉ có mù mịt khói sương, mờ mờ ảo ảo nên không  biết chọn con đường nào mà đi. U minh là tối tăm, mù mịt. Than ôi! cứ mải mê theo đuổi cảnh sắc tạm nầy mà tưởng như chắc chắn, vững bền lúc nào cũng tràn đầy hạnh phúc , ai ngờ chốn trần gian không dễ sống mà trước mắt toàn là sương giăng khói phủ mịt mù, bít lối đi, không còn biết đường nào đúng hứơng để chọn. Hình ảnh nầy cũng giống như trong Văn cảnh  sách của Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu đã nói ra: “Tiền lộ mang mang, vị tri hà vãng” nghĩa là con đường phía trước mịt mờ mà mình chưa biết phải về đâu.

đò trăng1

Tác giả , lão “trích tiên”, sau  một thời gian lặn hụp trong cõi trần ai đầy khổ lụy, nay muốn quay về để quên đi những ngao ngán của cưộc đời. Nhưng quay về đâu? Đâu là chốn cũ quê nhà? Đó là thượng giới nơi mà mình đã rời bỏ  từ lúc bị đày. Về tiên cảnh đâu có dễ một khi thời gian  bị đày chưa hết hạn! “Xa xôi dặm về” ý nói: đường về xa lắt xa lơ không biết bao giờ mới tới, một khó khăn không vượt nổi! Từ “xa xôi” vừa chỉ khoảng cách thật xa vừa chỉ trở ngại vô cùng to lớn.

Ông bâng khuâng cho cuộc sống đầy hư ảo:

Trông ra bến hoặc bờ mê

Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương.

Nhìn ra chỉ thấy bến bờ của sự mê hoặc. Mê là vô minh là tăm tối; hoặc là phiền não, mê loạn. Như vậy trước mắt ta là chốn u minh phiền não, lừa dối; nó làm ta bị mê hoặc không còn biết lối ra tức là ta thiếu tuệ giác nên không biết đâu là bờ giác ngộ bến an vui. Trong kinh điển Phật giáo cũng có câu khuyên người hãy quay về với cái thiện, cái tâm giác ngộ để tìm thấy sự bình an trong lòng :”Khổ hải mang mang, hồi đầu thị ngạn” nghĩa là bể khổ mênh mông, quay đầu là bờ. Bờ đây là bờ giác ngộ, bờ tịnh độ, bờ giải thoát. Một khi đã “kiến đạo” rồi thì mình sẽ biết con đường nào trở về, mình không còn hoang mang sợ sệt nữa.

“Nghìn thu” là một ngàn năm; nửa chớp: chỉ thời gian thật nhanh như tia chớp, như tiếng tít tắc kim đồng hồ. Một tia chớp đã là cực nhanh mà ông lại cho rằng một ngàn năm đi qua chỉ bằng nửa tia chớp, thì thật là lạ lùng đối với nhận thức thông thường của chúng ta.

Đời người lấy tuổi thọ cao nhất là trăm năm, đến khi sắp chết mới nhận ra đời là cõi tạm, là mộng ảo. Tuy nói là trăm năm nhưng nó đi qua nhanh lắm, Nguyễn Công Trứ ví nó như bóng đèn (dễ vỡ), như mây trôi (tan biến rất nhanh), như gió thổi (cái vèo), giấc mộng (qua mau):

Ôi nhân sinh là thế!

Như bóng đèn, như mây nổi

Như gió thổi như chiêm bao

Ba mươi năm hưởng thụ biết chừng nào

Sực tỉnh giấc nồi kê chưa chín.

Vậy mà cũng không nhanh bằng nhận thức của nhà thơ họ Vũ.

Tác giả dùng chữ nghĩa thật cao siêu chứng tỏ ông đã “ngộ” được lẽ trời, hiểu được triết lý sâu xa của đạo Phật và đạo thiền.

“Nghìn thu” đem đặt vào nửa tia chớp. Câu thơ có yếu tố tuệ giác, là tinh thần của kinh Hoa Nghiêm, và ngược lại , một sét-na cũng chứa đựng cái vô cùng! Trăm năm cũng chỉ bằng một giấc mộng, ngàn năm cũng chỉ có thế. Ta thấy được giá trị của thời gian. Còn không gian thì sao? “Bốn bề một phương”, là cái không gian mênh mông, nhưng  bốn phương cũng có thể gom lại thành một phương! Một ý tưởng thật cao siêu của nhà thơ họ Vũ. Mặt khá, nhìn hạt bụi ta có thể thấy nó chứa cả đất trời trong đó. Xin được chia xẻ ý nầy qua câu nói của nhà sư Khánh Hỷ (1067-1142) ở Việt nam vào thời Lý thật thâm sâu, khó hiểu:

Càn khôn tận thị mao đầu thượng

Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung.

(乾坤盡是毛頭上

日月包含芥子中)

(Càn khôn ở trên đầu một sợi lông

Cả nhật nguyệt chứa trong lòng hạt cải).

Theo tài liệu văn học , vua Trần Thái Tông (1218-1277) có viết trong bài tựa quyển Khóa Hư Lục , như sau:

“Chư nhân đẳng! xứ xứ đại quang minh tạng; cơ cơ bất nhị pháp môn”(Hỡi các ngươi! Nếu biết cách học đạo thì chốn chốn là tạng đại quang minh, mọi vật là pháp môn bất nhị).

Như vậy ta hiểu được “bất nhị pháp môn” là pháp môn không “hai”, sẽ thấy thiên sai vạn biệt thống nhất làm một (nhất thể) trong một cái nhìn sâu thẳm! Muốn đạt được lý lẽ nầy người ta phải tu luyện để thấy được đàng sau hiện tượng của sự vật tức bản chất thực của nó mà thiền gọi là “chân không” và trong kinh Phật gọi là “ngộ”(giác ngộ), lúc đó người ta nhìn thấy tất cã mọi thứ đều là “một” từ con người cho tới cỏ cây.

Vậy “bốn bề một phương” bao hàm ý nghĩa nầy.

Cụm từ  nầy  còn có thể diễn tả theo một cách khác là: giữa cảnh trời đất mênh mông, chỉ còn một phương duy nhât mà ta phải  bước tới,  hiểu theo đạo Phật là con đường giác ngộ tìm về với chính mình.

Tiếp theo nhà thơ khẩn khoản:

Ta van cát bụi bên đường

Dù nhơ dù sạch đừng vương gót nầy.

trăng saigon

Thơ văn Trung Quốc nhất là đời Đường có nhiều vị tự  cho  mình   là “trích tiên” như Tô Đông Pha, Đào Tiềm, Lý Bạch…còn ở Việt nam thì có Vũ Hoàng Chương. Danh hiệu “trích tiên” làm cho họ có một lối sống khá đặc biệt là chẳng màng vật chất,  chẳng muốn vướng bận vào chốn bụi trần hay bon chen danh lợi, dầu danh lợi nầy chứa đựng điều tốt hay xấu.  Tác giả đã vượt lên trên cái phạm trù được/mất,vinh /nhục,sống/ chết… khiến ông an bần lạc đạo, chẳng bận tâm gì tiếng đời thị phi. Được hay mất chẳng làm cho ông lo lắng. Nhưng đã lỡ bước chân vào chốn trần ai bể khổ thì không ít thì nhiều cũng phải tiếp xúc, liên kết, gắn  bó với tha nhân, chắc chắn ông cũng bị vướng vào những hệ lụy. Ông chỉ xin những hệ lụy đó dù trong hay đục, tốt hay xấu cũng đừng vướng vào chân ông, để ông giữ được sự thanh cao trong sạch mãi mãi.

Chữ “van” có nghĩa là van xin, cầu xin một việc gì, lời lẽ thống thiết, tác giả sử dụng rất tài tình và chính xác, nói lên nỗi đau đớn , tuyẽt vọng của mình.

Ông trở nên tiêu cực :

Để ta tròn một kiếp say

Cao xanh liều một cánh tay níu trời.

Giữa những ngổn ngang của cuộc đời, tâm hồn tác giả hoang mang, mất định hướng, cảm thấy mình bất lực . Tranh chấp nội tâm giày xéo hình hài, ông như đang treo lơ lững giữa hai thực thể đối lập nhau: ước muốn giải thoát linh hồn và thực tế đắm chìm trong bể khổ luân hồi; ước muốn vươn tới thiện mỹ và thực tế cám dỗ vây quanh. Chán nản, mệt mỏi, tâm thức rối loạn vì khổ lụy nên nhà thơ muốn tìm sự yên ổn tinh thần trong men cay hơi rượu, chỉ có say sưa mới mong thoát khỏi vòng nghiệp chướng đang vây hãm ông.

Một mặt tác giả van xin cái xấu đừng vướng bước chân một mặt ông đánh liều níu trời bằng cánh tay xương xẩu để mong Trời kéo ông lên tiên giới. Trời cao xanh, ta muốn với tay lên níu lấy để trở về quê hương chốn cũ, vì chân ta đã dẫm lên trần gian ô trọc lẫn phiền não, nên không muốn vướng vào nữa, chỉ có trời xanh mới cứu ta ra khỏi chốn trần ai bễ khổ nầy mà thôi.

Từ “níu” dùng rất đắt , gợi lên hình ảnh một người níu tay một người để xin cứu vớt, hoặc giữ không cho đi…

Trong bài “đánh cờ” Hồ Xuân Huơng dùng chữ “níu” rất đặc sắc, nó gợi hình ảnh hai người đánh cờ, nàng thua nhưng vẫn muốn níu ( giữ chặt) con cờ trong tay chàng không cho chàng nhấc tay lên!

Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu

Thua thì thua quyết níu lấy con.

Khi vui nước nước non non,

Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.

Tiếp theo ông ngao ngán :

Nói chi thua được với đời

Quản chi những tiếng ma cười đêm sâu.

Cuộc tranh chấp nào cũng có kẻ thắng người bại, mà đời người như một canh bạc, ai cũng muốn thắng chẳng ai muốn thua, kẻ thắng thì vui sướng kẻ thua thì bị tổn thương, ta đây đã chán cảnh bon chen nầy nên không muốn vướng vào chuyện: được /mất, hơn /thua, thành/ bại.Ta muốn đứng ngoài vòng cương tỏa. Danh vọng chỉ là mộng ảo, phù du, thấy đó rồi mất đó. Khổ nỗi ta chịu kiếp luân hồi ở trần gian nên phải làm bạn, kết thân với đủ hạng người, rồi tranh sống, va chạm với bọn người ma quỉ, ti tiện, không có lương tâm nên ta phải chịu cảnh u buồn, để rồi ta tìm an ủi trong men rượu. Mỉa mai thay họ cũng là những thi nhân như ta, nay trở thành kẻ ác tâm. Thôi, sá chi những hạng người nầy!

Trăng sáng

Tứ thơ trong nhóm từ ngữ  “Ma cười đêm thâu” rất sống động, gợi tả cảnh đêm thâu có tiếng ma cười thật rùng rợn! Ma đây cũng chính là người thua cuộc trong canh bạc đời và cũng có thể là hạng người xấu xa trong xã hội. Câu thơ có ý thật đẹp mà tứ cũng hay qua cách diễn đạt thật tài tình, sâu sắc. Phép ẩn dụ, so sánh ngầm được triệt để áp dụng làm tăng thêm sức biểu cảm nơi người đọc. Tác giả so sánh hạng người gian trá như loài ma quỉ  chuyên lường gạt, làm việc mờ ám, chúng đắc thắng vui cười trong đêm sâu thẳm.

Lúc nầy tác giả không còn thiết tha gì với cuộc sống hiện tại mà chỉ muốn “về quê” thôi:

Tâm hương đốt nén linh sầu

Nhớ quê dằng dặc ta cầu đấy thôi.

Ông  dùng lời thơ, câu văn để gói ghém tâm sự của mình, chỉ mong được bày tỏ, gởi gắm như một lời cầu nguyện đến cao xanh. Sống ở trần gian đầy phiền não ông muốn quay về chốn cũ nơi tiên giới. Nỗi nhớ càng ngày càng tăng, nó ray rức như xé con tim. Ta có cảm tưởng tác giả không còn có thể chịu đựng lâu hơn nữa, ông phải cầu cứu tới thượng đế thôi. Giống như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, chán cảnh trần gian nên than với  chị Hằng, xin lên cung trăng ngồi chơi với chị:

    “Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!

    Trần thế em nay chán nửa rồi

     Cung quế đã ai ngồi đó chửa?

      Cành đa xin chị nhắc lên chơi”.

   

Vũ Hoàng Chương đêm ngày nhớ quê, mong sớm trở về để hưởng thú vui tao nhã chốn thần tiên, nên đánh bạo “nguyện cầu”, giống như những người tịnh độ chay trường niệm Phật để cầu mong sau nầy mãn phần, được tái sinh về miền Tây phương cực lạc, nơi đó mới chính là chốn bình yên vĩnh viễn.

Ông thao thức đợi chờ :

Đêm nào ta trở về ngôi

Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian.

Thế gian nầy là cõi tạm, ta ngủ trọ một đêm, sáng ra ta sẽ trở về chốn xưa. Nơi tiên cảnh là chốn bình yên của ta, vì ta là trích tiên nên ngôi vị vẫn còn đó, đang chờ ta trở về. Một khi chán cảnh trần gian và cuộc phiêu lưu chấm dứt thì ta sẽ quay về ngay, lúc đó hồn thơ trong thi nhân mới hết luân hồi trên cõi trần nầy, tức là ta hết dong ruỗi. Về đi thôi ! không còn gì lưu luyến nữa. Tâm sự nầy cũng giống như nỗi ưu tư của nhà thơ Đào Tiềm trong bài Quy khứ lai từ (Chữ Hán: 歸去來辭, Lời từ biệt khi về) là bài phú hay và rất nổi tiếng của Đào Tiềm (陶潛, 365 – 427), một danh sĩ cuối đời Đông Tấn, (Trung Quốc). Nhưng nơi về của hai người Đào Tiềm và Vũ Hoàng Chương thì khác nhau:

Quy khứ lai hề, điền viên tương vu, hồ bất quy!

Ký tự dĩ tâm vi hình dịch, hề trù trướng nhi độc bi ?

Ngộ dĩ vãng chi bất gián, tri lai giả khả truy.

Thực mê đồ kỳ vị viễn, giác kim thị nhi tạc phi.

(Quy khứ lai từ/Đào Tiềm)

Về đi thôi hề, ruộng vườn sắp hoang vu, sao không về ?

Đã tự đem lòng cho hình sai khiến, sao còn một mình buồn bã, đau thương ?

Hiểu dĩ vãng không can nổi, biết tương lai có thể theo.

Chưa thực đi xa trên đường mê, thấy hôm nay phải còn hôm qua trái.

(Bản dịch của Trần Trọng San).

Sau cùng ông buông tất cả :

Một phen đã nín cung đàn

Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm.

Đò trăng2

Một khi phận sự đã xong và trách nhiệm đã hoàn thành thì ta có quyền trở về chốn cũ căn nhà xưa. Sự trở về nầy là điều tất yếu không có gì phải lưu luyến vấn vương, hay nuối tiếc ân hận. Khi cung đàn  đã tắt thì âm thanh cũng im luôn. Hơn nủa đời người, tác giả chỉ làm thơ viết văn cống hiến cho đời món ăn tinh thần, nay nghiệp thi ca đã hết thì nguồn thơ cũng cạn dòng, ông phủi tay reo mừng vì mình không còn vướng bận chuyện thế gian thì sá chi chuyện còn mất, được thua, chuyện để lại cái gì cho đời? bởi theo định luật tạo hóa hễ có sinh thì có diệt nên ông không cần biết, không cần quan tâm gì hết.

Điều cần lưu ý là từ câu  mở đầu:”Ta còn để lại gì không”, tác giả tỏ ra xuất sấc khi đặt câu hỏi để chúng ta tìm hiểu trả lời chứ bản thân ông, ông cho rằng chả để lại gì hết. Đến khi đọc hai câu kết ta mới thấy lóe lên ý nghĩ rằng ông có để lại cho đời cái gia tài thơ văn đáng giá. Trong câu:”Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm” thì từ ngữ “còn mất” đã nói lên điều đó.

Về mặt nghệ thuật, trong phần trên ta đã nói cánh sử dụng từ ngữ của tác giả: thật đắt, chính xác, truyền cảm. Bây giờ xin nói qua về tiết tấu bài thơ. Tiết tấu chỉ  nhịp điệu bài thơ, dựa vào chỗ ngắt đoạn. Trong âm nhạc có nhịp 2,3,4..thì trong thơ cũng có tiết tấu như vậỵ,    làm cho nhịp thơ lên cao xuống thấp tạo thành âm điệu bổng trầm.  Tiết  tấu  có khi thay đổi bất chợt goi là biến tấu, mục đích làm cho người đọc chú ý hơn. Ngắt nhịp, làm cho bài thơ có tiết tấu nhịp nhàng. Một bài thơ hay không thể thiếu nhịp điệu và tiết tấu. Nhịp điệu trở thành một ngôn ngữ đặc biệt của thơ, nó biểu đạt bao ý tình mà từ ngữ không thể nói hết được. Ta thử xét 6 câu đầu của bài thơ:

Ta còn để lại gì không?             (4/2)

Kìa non đá lở, này sông cát bồi     (4/4)

Lang thang từ độ luân hồi           (2/2/2)

U minh nẻo trước xa xôi dặm về      (4/4)

Trông ra bến hoặc, bờ mê            (4/2)

Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương(4/4)

trăng rằm

Trong cặp câu (lục, bát) thứ nhất, nhịp (4/2) câu lục, nhịp (4/4) câu bát. Nhưng đến cặp (lục, bát) thứ hai thì nhịp thay đổi (2/2/2) câu lục và (4/4) câu bát. Cặp (lục, bát) thứ 3 có câu lục ngắt nhịp (4/2 )  như lúc đầu.. Trong 6 câu nầy chỉ câu lục là thay đổi còn câu bát thì không. Lời thơ trong toàn bài  mang giai điệu buồn miên man thích hợp với thể thơ lục bát, tuy nhiên nó không đơn điệu, nhàm chán trái lại nó biến thiên theo nhip điệu câu thơ. Cách ngắt câu ngắn dài làm thay đổi cảm nhận nơi người đọc:

Lang thang từ độ luân hồi           (2/2/2)

U minh nẻo trước xa xôi dặm về      (4/4)

Nhịp ngắn, câu lục trên cho ta thấy nỗi buồn như ngừng lại, đứt khoảng , nghèn nghẹn trong lòng. Câu hai, nhịp dài nên nỗi buồn như hơi thở ra, buông trôi, thất vọng, tan vào cõi xa xôi vô định.

Ở đây phép đối cũng được áp dụng một cách khéo léo, liên tục, nhất là trong câu bát. Xét câu: “Kìa non đá lỡ /nầy sông cát bồi” : tiểu đối gồm hai vế đối nhau trong một câu; ngoài ra còn có  đối “từ” thật điêu luyện: kìa/nầy, non/sông, đá/cát, lỡ/bồi (danh từ đối danh từ, tĩnh từ đối tĩnh từ…). Đến câu bát thứ hai cũng vậy, có hai vế đối nhau và “từ” đối nhau: U minh nẻo trước/xa xôi dặm về. Đến câu bát thứ ba cũng có đối: Nghìn thu nửa chớp/bốn bề một phương v.v.

Vấn đề thưởng thức thơ: Nhiều nhà phê bình cho rằng thơ Vũ Hoàng Chương rất kén người đọc, vì thơ ông không giản dị như những bài ca dao, trái lại nó ẩn chứa sâu xa về tư tưởng và triết lý Phật giáo xen lẫn Thiền định. Trong bài thơ nầy có nhiều câu mới đọc lên nghe rất hay nhưng nghĩa thì khó hiểu khiến hạn chế một phần cảm hứng người đọc, ví dụ:

“Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương”.

Hoặc câu:

“Ta van cát bụi bên đường” v.v.

Bài thơ Nguyện Cầu đối với tôi có một ma lực khó giải thích nhất là thi tứ và từ ngữ thi ca. Tôi cố diễn tả  ý  nghĩa của những câu thơ nầy, nhưng cũng chưa thấy đủ. Bên cạnh đó còn có nhiều nhà biên khảo giải nghĩa khác nhau tùy theo sự hiểu biết của mỗi người. Xem ra thơ Vũ Hoàng Chương rất kén người đọc là vậy, tôi cũng đồng ý với nhận xét nầy của các nhà phê bình văn học. Và cho tới giờ người ta vẫn không ngừng đi tìm hiểu về thơ văn của ông.   

    Đọc xong bài thơ Nguyện Cầu ta hiểu thêm những bài thơ siêu thoát (Lữa từ bi, Nguyện Cầu…) trên ý niệm tuệ giác, luân hồi, vô thường cao siêu của Phật giáo mà trong giây phút xuất thần ông đã sáng tác dược những bài thơ thật hay, trong đó phải kể bài Nguyện Cầu nầy. Thơ hay về tứ, ý, lời và cả nghệ thuật xử dụng từ ngũ trong thi ca nữa. Thơ Vũ Hoàng Chương có nhiều thể loại khác nhau như thơ tình thơ triết lý thơ hoài cổ… nhưng mỗi thể loại đều có riêng phong cách của nó. Đặc điểm chung là lời thơ mang âm huởng đông phương của thể thơ Đường mặc dù ông sống giữa thời đại “thơ Mới” lên ngôi. Thơ ông có màu sắc sang trọng, giàu nhạc tính, dầu có cách tân nhưng vẫn mang tính hoài cổ, xử dụng nhiều từ ngữ mới, táo bạo, đạt tới mức toàn bích. Tuy bị ảnh hưởng của thơ Đường nhưng lời thơ không cỗ lỗ, xơ cứng trái lại nó hết sức truyền cảm đi sâu vào lòng người một cách tự nhiên, sâu lắng.

Nguyễn Cang (17/8/2016)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s