Về thơ “Tô Thuỳ Yên”-Trần Hữu Thục

tạp bút

logo thơ

thơ đan áo

Thơ Tô Thùy Yên, chênh vênh siêu hình/hiện thực

028E4787-30BB-4B6F-BF1D-EC75352B53B9_cx0_cy43_cw0_w144_r5

Trần Hữu Thục

Tô Thùy Yên

Tô Thùy Yên (TTY)[1]làm thơ từ hồi còn rất nhỏ. Bài thơ đầu tiên đưa đăng báo được in ở tạp chí Đời Mới do nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh chủ trương, vào lúc ông 16 tuổi. Theo ông, bài thơ đó, “chắc chắn không phải là một bài thơ hay và ngày nay tôi chẳng còn nhớ nó như thế nào nữa”[2]. Năm 1956, một bài thơ khác in ở trên Sáng Tạo – tạp chí mở ra một thời kỳ mới của văn học nghệ thuật Việt Nam: Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu. Đó là một bài thơ mà những ai yêu mến văn học nghệ thuật không thể quên. Nó là dấu mốc của một  chuyển biến sâu xa trong nền văn học miền Nam mà cũng là trong nền văn học VN. Gần 40 năm sau, tập thơ đầu tay mới ra đời: Thơ Tuyển Tô Thùy Yên, xuất bản ở Hải Ngoại năm 1995, lúc nhà thơ đã …56 tuổi đầu. Thêm chín năm nữa, tháng 8/2004, tập thơ thứ hai ra đời: Thắp Tạ. Bìa trước của tập thơ mới này ghi:

                        thức cho xong bài thơ

                        mai sớm ra đi

                        cài hờ lên cửa tặng

            Đây là bài thơ ngắn nhất của tác giả (trong lịch sử thi ca, chắc cũng không có mấy bài thơ ngắn hơn), Tặng phẩm. Lời thơ nghe như có ý nói rằng “Thắp tạ” là tập thơ cuối cùng trong đời ông? Mong rằng tôi hiểu sai.

                                   

Cảm giác đầu tiên của tôi khi đọc thơ TTY là ngạc nhiên vì  một số điểm có vẻ như  “tương phản” trong thơ ông.

– Bài thơ (được xem) như đầu tay, “Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu” làm lúc còn là một thiếu niên – không phải là một bài thơ tình học trò với những rạo rực yêu đương, mộng tưởng, nhớ nhung vớ vẩn – mà lại là một bài thơ đẫm triết lý;  không phải là một thứ triết lý vớ vẩn, mà là chứa chất một cái nhìn rất bao quát, được tiếp tục được triển khai qua nhiều bài thơ về sau này, dưới những cách diễn đạt khác nhau về hữu hạn/vô hạn. Suốt mười lăm câu, tuyệt không có một từ ngữ triết lý nào, cũng không ám chỉ một ý niệm triết lý nào. Toàn bài là một bức tranh sinh động, rất đẹp, rất hoành tráng và chấm dứt bằng một bi kịch đầy ấn tượng: tàu chạy mất và con ngựa thì gục ngã. Một gục ngã êm đềm, thẩm mỹ! Một ẩn dụ triết lý tuyệt vời!

– Thơ TTY rất nhiều khái niệm hoặc hình tượng triết lý – lời thơ đôi khi bí hiểm, khó hiểu – thì đồng thời lại không thiếu những hình ảnh hiện thực, có thể nói còn hiện thực hơn cả những nhà thơ hiện thực nhất.

– Thơ Tô Thùy Yên rất hiện đại, rất cách tân, trong lúc lại không thiếu gì những bài, những đoạn, những câu thơ rất cổ điển, rất tiền chiến, rất thơ mới. Bên cạnh “Tôi chạy  cắm đầu  trên sợi kinh hoàng/Giăng qua đôi bờ vực lạnh hư vô”, chẳng hạn, ta lại đọc thấy “Có gã hề cuồng ra giữa chợ/ Hát ngao những đoạn sấm truyền xưa/Bao giờ gió thổi cơn nồm lớn/ Minh chúa giong thuyền ra cố đô” (Mùa Hạn) phảng phất không khí cổ điển hoặc “Bao giờ cho đến bao giờ nữa/Em gánh vui về họp chợ đông/Lòng ngát như hoa còn kịp buổi/Áo chưa người giữ để xin buông” nghe như thơ tiền chiếnLại có đoạn rất Kiều: “Đêm nằm, lệ chảy mòn tay/Nghe chừng đá nát vàng phai đến điều/Mịt mùng gió lửa liu hiu/Bóng nào khóc, bóng nào kêu, não nùng” (Hái rau)

            

Về điểm này, Nguyễn Hưng Quốc nhận xét “Có thể dễ dàng tìm thấy trong thơ Tô Thùy Yên  vô số những dấu vết của truyền thống bên cạnh vô số những điểm cách tân độc đáo: cả hai hài hòa với nhau làm cho thơ ông, ở những bài thành công nhất, có cái hoàn hảo của những tác phẩm cổ điển”[3].

Lúc đầu đời, loại thơ xuôi của ông đầy những cách tân, cả về cấu trúc lẫn cách sử dụng từ ngữ và hình ảnh. Hãy đọc thử:

“Với thân thể lân tinh, em sáng lên trong bóng tối, hạt kim cương rạng ngời trong mỏ than đêm, anh trông thấy em không nhầm lẫn được. Với thịt da gỗ quý, giọt mật tinh khôi nằm giữa đài hoa thơm nức, em dâng hương anh, gã du mục lạc loài trong nhớp nhúa. Em là chiếc thuyền đời thượng cổ chở đến anh hoa trái tốt tươi ngọt ngào của miền đất anh đã biết qua thần thoại” (Lễ Tấn Phong Tình Yêu)

            

Dù cách diễn tả rất mới, rất tới, nhưng bài thơ suông sẻ, tình tứ như thế có cái gì như làm dáng và sáo, thậm chí ngoa ngôn. Tôi đồng ý với một nhận định của Bùi Vĩnh Phúc khi cho rằng, qua “Lễ tấn phong tình yêu”, “Ngôn ngữ và hình ảnh trong thơ Tô Thùy Yên đã có những nét khác lạ so với hình ảnh và ngôn ngữ của những người thơ cùng thời. Nhưng cho dù có thế đi nữa, hình ảnh thơ của Tô Thùy Yên  trong giai đoạn này vẫn con tính chất nạm bạc, đặc biệt nếu ta đọc toàn bài. (…) Đọc kỹ, chúng ta thấy TTY đã có nỗ lực làm mới hình ảnh, làm mới cách nhìn trong thơ mình. Trong nỗ lực đó, ông viết được những câu thơ có vóc dáng lạ. Nhưng dù sao, như đã nói, đó vẫn là một sự dát vàng cẩn bạc của TTY trong giai đoạn này. (…) Hình ảnh và ngôn ngữ thơ vẫn chưa hoàn toàn đạt được sự ung dung tự tại” [4].

            

Một vài bài khác, cũng  làm trong giai đoạn này, chứa một hơi thơ khác hẳn bài trên, ít nhiều nhiễm không khí triết lý:

            Tôi châm điếu thuốc nữa/Đốt tàn thêm tháng năm

            Chiếc bắc xa dần bến/Đời xa dần tuổi xanh (Đêm Qua Bắc Vàm Cống)

TTY cảm nhận đau thương, cảm nhận cô đơn, nhưng không phải cái đau thương, hay cô đơn xuất phát từ bất hạnh cá nhân – mà là thứ cô đơn, đau thương có tính nhân quần. Và có tính khái niệm. Mấy câu sau này lại càng có vẻ “khái niệm” hơn nữa:

            Có đọc thuộc thánh thư/Linh hồn tôi vẫn vậy

            Tôi vẫn không thể lạy/Dù đứng trước hư vô

            Đầu tôi cứng và trơn/Thượng Đế làm sao ngự

            Tôi đành trốn chủ nợ/Định mệnh đòi linh hồn (Thân Phận Của Thi Sĩ)

Hai bài thơ có những trích đoạn trên cũng như một vài bài thơ khác như “Thi sĩ”, “Tội nghiệp”, ta thấy ông đưa vào các thuật ngữ triết lý. Từ ngữ và ý thơ mang tính cách khai phá, rõ ràng phần nào chịu ảnh hưởng của trào lưu hiện sinh đang từng bước chinh phục không khí văn học miền Nam thời đó. Nhưng giờ đọc lại, tôi thấy chúng – hay thì có hay, tất nhiên – nhưng vẫn có vẻ gượng gạo. Cái chất TTY đặc thù chưa thấy xuất hiện. Phải đến những bài như “Đãng tử”, “Mòn gót chân sương nắng tháng năm” hay “Bất tận nỗi đời hung hãn đó”, vân vân, ta mới thấy định hình một Tô Thùy Yên thực sự, một TTY như ta biết hiện nay.

                        Thuận tay, ta ngắt một cành sậy/Làm cây sáo thổi cạn hồn sầu

                        Bay tản khắp vô cùng trống trải/Âm thừa tưởng lạc đến muôn sau (Đãng tử)

            

Hơi thơ mềm mại, ý thơ lãng đãng, mông lung y như chẳng nói lên điều gì rõ rệt, khác hẳn với mấy đoạn thơ trên. Đọc thử một đoạn trong một bài thơ khác:

            Tàu đi,  những chấn động hung hãn/Sắt thép kinh hoàng va đập nhau

Ta tưởng chừng như thời đại động/Xô đi ầm ĩ một cơn đau (Tàu đêm)

Nghe ghê! hung hãn, kinh hoàng, va đập, thời đại động, ầm ĩ. Đoạn thơ này cũng cho ta cảm giác ngoa ngôn vì từ dùng rất kêu, nhưng ngôn ngữ chắc, khỏe, vừa để diễn tả chuyến tàu chở tù thời kỳ đó (tàu thì cũ, đường sắt thì  quá cổ lỗ sĩ, vừa mới phục hồi) vừa diễn tả tâm trạng hoang mang, dao động, tuyệt vọng của những người tù đang trên đường bị đi đày biệt xứ. Cả hai đoạn trích trên khác hẳn nhau về hơi thơ, ý thơ, thi ảnh, khác nhau cả về cấu trúc lẫn ngôn ngữ, nhưng lại có một điểm giống nhau: lạ. Ấy, Tô Thùy Yên! Tôi sẽ cố gắng trình bày cái “lạ” đó qua suốt bài này. Trong khả năng cho phép.

·         Chữ nghĩa TTY

TTY làm nhiều thể loại thơ: thơ năm chữ, thơ bảy chữ, thơ xuôi, thơ tự do, thơ lục bát, thơ phá thể. Ngắn có (bài “Tặng phẩm” chỉ có 14 chữ), dài và rất dài có (bài “Mùa hạn” thơ bảy chữ, gồm đến 188 câu, 1326 chữ). Như đã nhận xét từ đầu bài, chữ nghĩa TTY pha trộn giữa truyền thống và cách tân. Bên cạnh những từ và cụm từ hiện đại như  hư vô, ý thức, Thượng Đế, sự can trường của hiện hữu, thám hiểm tương lai…ông tận dụng các từ ngữ với ý nghĩa rất cổ điển như :vạn cổ, bí lục, thiên thu, phù du, quan san,  kinh thiên, dương thế, gậy trúc,  tào khê, trăm họ, thánh đế, sấm truyền; các đặc ngữ dân gian:chớp bể mưa nguồn, hạc vàng thương nhớ, chờ anh như biển vẫn chờ sông, vàng đá nhắn quan san, ngựa đá đã qua sông, nước non ngàn dặm, núi lở sông bồi, đá nát vàng phai, chút phận long đong, bóng xế đường dài…

Đồng thời, ông sáng tạo nhiều và nhiều cụm từ rất lạ: ngổn ngang câm, bất an già, khoảng cách đặc, án tử hình treo, lãng quên xanh, nỗi sầu vô dạng, u hoài mốc, gió hao đuối, rợp hải hà, rớt nắng,nắm níunhớ hư hoặc, một phía mê tưởng, lưu cữu gió, vũng vướng mắc, ráo gióúng máu, thiu hồn, muối muộn, đuối kiệt, ngất tạnh khuya, réo đuối…Ở điểm này, ta có thể so sánh TTY với Trịnh Công Sơn. Cả hai đều là những người “đẻ” ra nhiều từ mới hoặc sử dụng từ cũ với một ý nghĩa mới. Ở TCS, ta có nào là tuổi đá buồn, vết lăn trầm, lời buồn thánh, nắng khuya, hạ trắng, bồn gió hoang… nào là dài tay em mấy, cồn đá…Nhưng ta ghi nhận một khác biệt: chữ nghĩa TCS dường như thoát thai từ trực giác, còn chữ nghĩa TTY thì là một dụng công đầy ý thức (như sẽ đề cập ở đoạn sau); một điểm khác, TCS do vướng trong việc phổ nhạc nên tương đối bị giới hạn trong lúc TTY tự do hơn nhiều, nhất là khi ông không còn xem trọng chuyện vần điệu trong thơ.

Có một nỗ lực rất lớn của TTY trong việc xử dụng từ ngữ để diễn đạt sự vật ngoại giới và tâm cảnh của mình. Ông tìm cách bóc tất cả những lớp vỏ bọc quanh hiện thực bằng cách huy động đủ loại từ ngữ, phối trí chúng trong một cấu trúc theo kiểu riêng của ông[5]. Dường như ông muốn  đi đến tận cùng bản thân chúng để tìm thấy cái gì còn ẩn dấu đàng sau hoặc nằm bên trong sự vật. Từ cũ dùng đúng nơi đúng chỗ. Từ mới gây ra ấn tượng mạnh. Đồng thời tận dụng các đặc ngữ, quán ngữ vừa để làm “mềm” câu thơ hoặc làm dịu đi những cách diễn đạt quá mới vừa là một cách điều hòa tinh tế nhằm tạo hiệu quả cao nhất nơi người đọc. Thơ ông không quá tối tăm, khó hiểu, nhưng để hiểu được, đòi hỏi người đọc phải vận dụng tri thức, kiến thức và óc quan sát tinh nhạy. Đọc thơ TTY không thể chỉ đọc bằng trực giác vì  chúng không gây nên xúc động lập tức nới người đọc. Chúng đã không cho những thi ảnh trơn tru, thuận tai, gợi hình, gợi tình; đã thế, lại đưa ta vào một không khí đầy trầm tư mặc tưởng, đôi lúc khá ngột ngạt.

Ông có lối diễn đạt sự vật, cảnh vật chung quanh rất sống động bằng cách sử dụng những tính từ, động từ một cách khá bất ngờ. Xin dẫn ra đây một số:

– Động vật: chim “giục giã” hay “hớt hãi kêu van”,  con ngựa “cuồng bão táp”, chó “tru thăm thẳm”, di điểu “xẻ luống sầu”, con quạ “kêu ran”, con còng “ẩn nhẫn bò”. 

– Thực vật: cây “nứt nở vỏ”, “bật gốc” hoặc “sưng vết chặt lồi”; rong thì như những “tầng buồn”; hàng cây dương thì “bất an già”; rễ cây “bung” hay “gượng”; cỏ tranh “khom mỏi”; tàu chuối “reo ngất ngất”; cây xương rồng “gắng gượng”.

– Sự vật: con rạch “đen nồng”, chiếu chăn “bức bối”; con đường “duỗi sáng” hay “rọc điếng”; hàng rào chà cản nước  “nỗ lực lao đao”; nước ao “lền đặc”; gềnh đá “nhọn rách tơi”; bãi biển “trơ trẽn”; tàu chạy “khoan xoáy” hay “rú”; máu  “bung”.

– Những hiện tượng tự nhiên: gió “khốc liệt” hay gió “sửa soạn”; thủy triều “sôi”; mùa hè “cọ xát” hay “xô xát reo vang” hay “nhức rát”; biển  “nhẫn nại”, “tang chế”; nắng “nứt ran ran”, mặt trời “rã”; khuya “rụng rời”; đêm “tối lền”. 

– Những ý niệm, trạng thái hay cơ cấu: lịch sử khi thì “ngất lả”, khi thì “thịnh nộ”, khi thì “mài thê thiết”; tứ thơ thì “xiêu tán”; kỷ niệm “buông”, “rú”, “chìm” ; (cái) bất-khả-tư-nghì  “đá chởm”

Có những câu, mới đọc, ta tưởng nhà thơ đang nói đến một điều “bất khả tư nghì” [6] nào đó. Không. Ông tả chân, rất tả chân. Chẳng hạn:

–  rền hoa: tim đèn dầu thắp lâu ngày, phía trên cháy thành than xòe ra như một bông hoa nở.

– Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn. Một cách đảo ngữ khá thú vị. Nó khiến cho  một chi tiết thực dường như biến thành hư. Đó chỉ là tiếng trái cây rụng và âm thầm lăn trên mái nhà nghiêng. Để ý, nhà thơ dùng những động từ kế tiếp nhau để diễn tả chuyển động: rụng, lăn.

Thủ pháp này được ông dùng rất nhiều để gom ý, cô đọng ý và tạo cảm giác lạ:

            – Thả/trôi hồn một tấu khúc chừng quen

            Dềnh/ giạt về những quá khứ bỗng ngoi nổi

Thả, trôi, dềnh, giạt, ngoi, nổi đều là những động từ.

Một câu khác:

            – Kỷ niệm buông tay rú/ngất/chìm

Buông, rú, ngất, chìm là những động từ.

Cũng một thủ pháp như thế, nhưng là tính từ, là danh từ hay là một kết hợp giữa các loại từ:

            – Phòng biệt giam tối mốc thấp hẹp (tính từ)

            – Tốc độ cao gài cố định mặc  (cố địnhmặc kệ cho nó chạy)

            – Trời sao có hồi cũng đuối kiệt (đuối sức, kiệt lực)   

            – Và trong những khoảnh đèn khoét đọng lẻ quạnh    (khoét ra, đọng lại, lẻ loi, quạnh quẽ)

Từ Hán-Việt cũng được sử dụng trong một vài trường hợp bất ngờ:

            – Hàng tre cổ chĩu đầu lưu cữu gió      (tre trĩu ngọn xuống để lưu cữu – cố giữ – gió lại)      

            – Ta ngồi bên đống lửa man rợ – Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế- Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi

            – Hừng đông hùng vĩ và thanh thản

Nói chung, chữ nghĩa ông rất chọn lọc, nghe lạ tai mà chính xác, khiến câu thơ mang ngay một vóc dáng khác thường, tăng cường thêm ý nghĩa cho chính nó:

– Mưa lâu trời mốc, buồn hôi xưa (Qua sông)

– Rêu mốc mờ thêm những đã mờ (Huế oán)

– Trăng thiếp, sao me, sông ráo gió

                 Buồn lan sóng nối, tản không tan (Nhớ có lần, trên bến bắc khuya, nghe một ông lão đàn hát)

            Kết cấu tinh xảo:

            – Thăm thẳm trưa, thời gian chết xanh (Vườn hạ)

                        – Quán chật xanh lên rừng lính ướt (Qua sông)

                        – Nghi ngút khuya thiên cổ dặm mù (Thao thức)

Ngoài ra, ta nhận thấy TTY khoái sử dụng từ trắc ở chữ thứ năm trong câu thơ bảy chữ khiến câu thơ có một nhịp điệu riêng biệt, hình thành một phong cách khá đặc thù của thơ TTY:

            – Bốn trăm hải lý nhơ không tới

            – Mùa gió xoay chiều, gio khốc liệt

            – Sông hồ nẻ đáy giếng vô vọng

Loại câu trên nằm lai rai ở nhiều bài. Có bài, như “Đêm quan ngoại”, kỹ thuật đó được sử dụng hầu như   toàn bài, đại loại như: Tạt vào, giũ phủi bóng đêm bám/Gối đầu lên một chỗ không lý/Giờ này đã khuya khoắt thiên cổ…Ta biết, những từ thứ năm trong những câu thơ cước vận trắc, nếu gieo vằn bằng, thì đọc lên nghe trơn tru, thuận mồm hơn. Dùng các từ trắc ở đây khiến câu thơ nghe như có cái gì chẹn, nghẹn lại, gây nên cảm giác bế tắc, lúng búng. Quả thật vậy, đọc chúng, ta thấy ngay tác giả muốn diễn tả những cảm giác day dứt, bất an.

Những bài thơ làm thời gian sau này (trong Thắp Tạ), TTY đều sử dụng nhiều từ và cụm từ trắc để diễn tả tâm tình đặc biệt của mình: những nỗi niềm khuất tất, trạng thái ngơ ngẩn cuối đời khi “quỹ thời gian” đang mỗi ngày mỗi cạn (như  Soi mệnh, Tỵ khách, Nỗi lần mình giở). Chẳng hạn:

            Giấc mộc đè cứng nghẹn dẫy la/Gà nửa khuya gáy xộ trăng muộn

            Sòng phẳng án khổ hình vắt đá lấy máu viết/Viết, viết như chép phạt những điều thừa

                                    Về một kỳ tích tối cổ mãi hư bại. (Soi mệnh)

Đoạn thơ trên mà so với những câu, cũng của ông,  như: “Thấy gì chăng, chẳng thấy gì/Nước rào, trăng rạt, ta thì mỏi mê/Chầy khuya, nước ủ trăng ê/Uổng công, bãi ấy đi về một ta…” (Đi Về) thì quả là khác nhau một trời một vực. Nói chung, chúng không khó hiểu lắm nhưng lại rất khó đọc. Chữ nghĩa ngổn ngang. Hơi thơ u uất. Vẫn là những ám ảnh siêu hình về thời gian, vô hạn, biến dịch. Ở đây, tôi ghi nhận một khác biệt. Thuở đầu đời, nhà thơ nghênh ngang đối đầu với/và có vẻ “thưởng thức” cái hữu hạn của con người, ném hữu hạn trước vô hạn như một thách đố, thậm chí không dấu nỗi hân hoan:

            – Giá ta được lên cao, lên cao

Để ngắm nhìn một lần thấu suốt Định Mệnh ta

Trước ngày từ biệt nó

(…) Ta cố gắng làm người. Con người vô ích sáng choang như món hàng đeo lên Hư Vô

đen ngời bóng lộn (Bất tận nỗi đời hung hãn đó)

            Hay:

Hoàng hôn xô bóng ta trên cát

Ta lớn lao và ta cô đơn

Vào lúc sau này, tuổi xế bóng, cái nhìn có khác, nghe ra rất ngậm ngùi:

            Quá một hạn tuổi nào,

            Sống nữa hầu như để giữ sống

            Qua ngày một trí nhớ lâm chung.

            Đâu rồi gã trẻ người bạt mạng lao đầu

            Vào những bất khả tư nghì đá chởm (Soi mệnh)

·         Tính siêu hình

Trở về Phá Tam Giang

Nhà thơ TTY không đến với sự vật như những kẻ thân thiện để ngắm nghía, chia xẻ, thông cảm, tìm hứng hay tìm cái đẹp, mà là để nghi hoặc, liên miên tra vấn và như thể tìm cách đẩy chúng vào cuộc chơi. Dường như ông hóa thân vào sự vật, đánh thức chúng dậy. Trong thơ TTY, dấu vết cảm hứng khá mờ nhạt, đúng như nhận định của Nguyễn Hưng Quốc, theo đó, TTY “trước hết là một nhà thơ trí thức (…) có thể thấy một đặc điểm lớn trong phong cách TTY: ông bắt đầu sự nghiệp làm thơ một cách đầy tự giác. Ông không cậy vào cảm hứng, vào năng khiếu, như hầu hết những nhà làm thơ khác[7]. Ông vận dụng cả ý thức, lẫn kiến thức và óc quan sát tinh tế để làm thơ. Nếu chú ý, ta sẽ thấy ông luôn luôn chủ động kiềm chế chữ nghĩa, không bị chi phối bởi thói quen và ngẫu hứng[8]. Rõ ràng là ông làm thơ không chỉ để diễn tả những xúc động cá nhân trước thiên nhiên, trước thân phận hay những cảnh đời ngang trái. Ông triển khai giòng thơ xa hơn, sâu hơn[9], tiến vào lãnh vực vô thể, tức là lãnh vực của thế giới ý niệm. Do vậy, tính chất siêu hình bàng bạc trong hầu hết những bài thơ của ông[10]. Trả lời cho câu hỏi “Triết học và thi ca là những phạm trù khác nhau. Nhưng có nhiều người làm thơ triết học. Theo anh, có biên giới nào giữa thi ca và triết học không” của Nguyễn Mạnh Trinh, TTY hỏi lại “Có thật có một loại thơ gọi là thơ triết học sao?” [11]. Rõ ràng là nhà thơ không mấy mặn mà với khái niệm về một loại thơ riêng biệt gọi là thơ triết lý, tất nhiên trong đó có thơ ông. Thơ là thơ. Nhưng là một người đọc yêu mến thơ ông, tôi  thích gọi thơ TTY là thơ triết lý. Ta có thơ tình, thơ chiến đấu, thơ thiền, thì  nếu thêm từ thơ triết lý, đâu có sao. Cũng chỉ là một cách gọi. Tạm gọi. Cho có cái cớ đi trọn bài này. Rồi thôi.

Mà không phải thơ triết lý sao được. Này nhé:

            Nên ta phó mặc cho trời đất/Trời đất vô ngôn lại bất nhân

            Nên ta lẳng lặng đi đi khuất/Trong lãng quên xanh hút thời gian

Cái gì vậy? Yêu? Nhớ? Mong chờ? Nuối tiếc? Thiền?  Không có cái nào là đúng hết. Chỉ còn một cách: đó là thơ …triết lý! Còn gì nữa đây:

            Bìm bịp chiều chiều kêu nước lớn/Đi, đi đâu, chèo chống mỏi mê?

            Đến ngã ba, đành theo một lối/Tiếc ngẩn không cùng theo lối kia (Đãng tử)

Dạ, một diễn tả “rất thơ” về song quan luận (dilemma), thuộc lãnh vực luận lý học.

Rõ là thơ triết thì khác với triết lý. Các triết gia dùng khái niệm để diễn đạt tư tưởng triết học, đi tìm chân lý, và khi tìm ra cái gọi là chân lý rồi, họ yên tâm núp trong pháo đài của mình. Tưởng thế là xong! Nhà thơ không hề đi tìm chân lý, nên suốt đời lang thang, là một “gã hề cuồng”, không nơi ẩn nấp: không có gì gọi là hoàn tất trong cuộc đời này. Mọi thứ đều dang dở, bất toàn.  Bởi thế, nếu đọc triết cho ta cảm giác an toàn vì mọi câu hỏi dường như đều đã có lời giải, thì đọc thơ bao giờ cũng cho ta cảm giác chênh vênh, bất định.  TTY gọi triết gia hay những nhà tư tưởng lớn là “các vương tôn miền trí tuệ/Mưu đồ đo đạc cả Vô Biên”. Còn nhà thơ thì:

            Ta ngắm gốc cây nứt nở vỏ/Gốc cây to đến mấy người ôm

            Nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn/Trí ta không đủ lực đo lường

Vì khác với các triết gia, tâm thức của một nhà thơ:

Câu hỏi vạn niên, lời đáp nhất thời

Chữ nghĩa rối bời gai góc loạn

Con đường suy tưởng thật lang thang

Ngày một xa thêm chân lý lớn (Chim bay biển Bắc)

            

Đoạn này “thơ hóa”  một trong những vấn nạn lớn của triết học cổ kim: có thể tìm thấy chân lý bằng chữ nghĩa và suy tưởng không? Nhà thơ dứt khoát: càng chữ nghĩa, càng suy tưởng, nghĩa là càng tìm cách đạt đến chân lý thì người ta càng xa chân lý. Vả lại, làm gì mà có chân lý cơ chứ! Nói TTY làm thơ triết lý có nghĩa là nhà thơ “thơ hóa” các suy tư thuần lý, thêm da thêm thịt cho chúng, ban cho chúng đời sống. Cũng là một cách phá vỡ các ảo tưởng duy lý. Hay mượn một hình ảnh “đắc giá” của TTY: Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ/Chấm giữa nền nhung một vết nâu trong bài thơ đầu đời “Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu”.  Có lẽ không có mô tả nỗ lực thất bại của con người nào nên thơ bằng hình ảnh tuyệt đẹp của con ngựaTTY. Thơ TTY, hiểu theo một cách nào đó, là sự khai thác hình ảnh này qua hàng hàng lớp lớp chữ nghĩa sau này, theo tôi.

           gái saigon xưa

 Những đề tài triết lý trong thơ TTY không có gì mới lạ. Vẫn là những ý niệm và hình ảnh quen thuộc ta thường tìm thấy trong triết lý Đông Phương cũng như Tây Phương (thường gọi là các phạm trù) qua mấy ngàn năm nhân loại suy tưởng: tuyệt đối, hữu hạn, vô hạn, vũ trụ, biến dịch, vô thường, thời gian, không gian, lịch sử…Hầu hết những đề tài đó được nhà thơ  nhấn mạnh trong một số bài bằng cách viết chữ hoa như Chân Lý, Thiêng Liêng, Cõi Tạm, Hiu Quạnh, Vô Biên, Tương Lai, Định Mệnh, Hư  Vô, Nhân Thế, Vĩnh Cửu, Lịch Sử. Chẳng hạn như:

            – Có thể mai kia Thời Đại Lớn/Sáng rền trên cõi sống tinh anh (Mòn gót chân sương nắng tháng năm)

            – Dưới nét phác nụ cười thầm mê man của Định Mệnh/Để ngày ngày ta đến điều trần lặng lẽ

               trước Vô Cùng/Về một Hữu Hạn tuyệt vời đang phóng dụng (Bất tận nỗi đời hung hãn đó)

Những ý niệm triết lý được nhà thơ trở đi trở lại nhiều lần bằng những cách diễn đạt khác nhau: khi thì là những suy tưởng trông rất thuần túy, khi thì là những ẩn dụ, biểu tượng, khi thì là những hình ảnh từ ngoại giới: người, sự vật, sinh vật.

Đề tài thời gian có lẽ là đề tài lớn nhất và bao trùm nhất trong cõi thơ  của ông, được triển khai rộng rãi trong nhiều bài thơ khác nhau. Bài thơ đầu tiên “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu” là một diễn tả sống động về tính bất trắc của thời gian và sự bất lực của con người. Tàu tượng trưng cho thời gian vô hạn, con ngựa tượng trưng cho kiếp người hữu hạn. Hãy xem sự rượt đuổi quyết liệt biểu lộ cho một quyết tâm  của ý chí:

            Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau/Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu

Càng rượt, thời gian càng chạy gia tốc:

            Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau(…) Tàu chạy mau, càng mau, càng mau

Con ngựa vẫn mê mải rượt tàu, rượt tàu để cuối cùng:

            Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ/Chấm giữa nền nhung một vết nâu.

Thật hào hùng và bi tráng! Một kết thúc buồn, đẹp và rất thơ. Y như một hoạt cảnh. Sau này, trong “Thắp tạ”, ông diễn tả sự rượt đuổi đó một cách khác, ngắn gọn hơn (nhưng lại buồn thảm hơn):

            Cố gắng

            Cố gắng theo cho kịp

            Cái bóng mình như có đi nhanh hơn (Nhanh hơn)

Trong nhiều bài về sau, ông không cần dùng đến ẩn dụ mà gọi đích danh hoặc hình tượng hóa thời gian qua hình ảnh của một sự vật, một chủ thể. Đó là một cái dốc dài: Trên dốc thời gian, hòn đá tuột/Lăn dài kinh động cả hư vô; là một chiếc xe: Thời gian gia tốc, thảm thê thay; là một nhân vật khuất lấp nào đó: Ta gọi thời gian sau cánh cửa/Nỗi mừng ràn rụa mắt ai sâu; là một ngăn kéo hay một kho chứa: Ta về như bóng ma hờn tủi/Lục lại thời gian kiếm chính mình; là sợi dây:Thời gian đứt quãng dài vô định/ Như sợi dây diều băng mất tăm; vô hình vô dáng: Biển Bắc mịt mù con nhạn lạc/Thời gian mất trí trắng vô âm . Hầu hết những gì liên hệ đến thời gian xuất phát từ những ý niệm về một cái gì trôi chảy mãi, vô cùng vô tận: Trăm năm rồi lại trăm năm khác;  Dòng ngày tháng trắng chảy lơ mơ;  U minh ngày tháng bóng lao đao.

            saigon xưa2

Ám ảnh về thời gian, trong bản chất, chính là ám ảnh về quá khứ. Quá khứ bao giờ cũng cho ta cảm giác đó là một cái gì thuộc về nguồn gốc, là bản chất của cuộc tồn sinh. Một ảo tưởng của con người: dường như càng xưa, càng cổ, càng đi về thời đại hồng hoang, nguyên thủy thì lại càng gần với “lý sơ nguyên”, gần với sự Sáng Tạo vũ trụ. Khổ thay, trước quá khứ, con người hoàn toàn bất lực. Quá khứ, cũng như người chết, là mênh mang, khó hiểu.  Đó là “những người thuở trước”. Là người, như anh như tôi. Hỉ nộ ái ố ai bi lạc dục. “Giương cung bắn”, “đi tìm mộng”, “say vô hạn”, “tham chung đỉnh”, “diễm tuyệt dung nhan thảo mộc sầu”…Bây giờ họ đi đâu, về đâu?:

            

Những người thuở trước bây giờ lạc/Trong dã sử nào như bóng mây(Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai)

Trong “Mòn gót chân sương nắng tháng năm”, nhà thơ diễn tả cảm thức triết lý về nỗ lực của con người trên đường đi tìm chân lý vĩnh cửu bằng cách thực hiện một chuyến hành trình siêu hình về quá khứ, phá vỡ bức trường thành dằng dặc vô hình của thời gian:

            Ta gắng về sâu lòng quá vãng/Truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên

            Hỡi ôi, dọc dọc thấy câm cứng/Mặt trợn trừng chưa dứt ngạc nhiên (Mòn gót chân sương nắng tháng năm)

Tìm gì? Tìm cái “lý sơ nguyên”, tức là cái khởi đầu, cái chân lý. Tìm thấy gì? Tuyệt không có gì. Tất cả đều “câm cứng”. Câm. Cứng. Một khép chặt miên viễn. Ngạc nhiên, đau đớn, thất vọng:

            Ta lại trồi lên dương thế rộn

            Ngày ngày ra bãi vắng vời trông

            Bóng chim, tăm cá, cành trôi dạt…

            Bất luận điều chi giữa mịt mùng (Mòn gót…)

Dương thế không thiếu chi người như  thuở trước, cũng “giương cung”, cũng “đi tìm mộng”, cũng “say vô hạn”, “tham chung đỉnh”, tóm lại, cũng chừng ấy chuyện. Với nhà thơ, đó là một “dương thế rộn” nghĩa là lắm chuyện, loay hoay, tưởng chừng như bận bịu cho một mục đích cao cả nào đó. Thực ra, chẳng có gì. Cho nên ông chỉ biết ra bãi vắng vời trông. Cũng chỉ là để vời trông! Bài thơ là một diễn đạt tuyệt vời về khát vọng tinh thần của con người từ xưa đến nay, luôn luôn muốn vượt thời gian, đi tìm bản thể của mình. Hình ảnh con người trần trụi ngày ngày ra bãi vắng mà vời trông vào cõi mịt mùng, quả là bức tranh sinh động tượng trưng cho nỗi đau siêu hình muôn thuở của những “con vật biết suy tư”

Một trong những hình tượng và cũng là khái niệm thời gian được TTY sử dụng nhiều – hàng chục lần trong nhiều bài khác nhau – là “thiên thu” hay “nghìn thu”  hay “thiên cổ”: Thiên thu lóe tắt vệt phù du/Phất phơ chéo áo đường thiên cổ/Nghi ngút khuya thiên cổ dặm mù/Tiếng kêu đá lở long thiên co/Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế/Chốn rừng thiêng ỉm tiếng nghìn thu/Ngọn đèn như nỗi đợi thiên thu/Chung thân,thiên cổ bị cầm giữ/Giờ này đã khuya khoắt thiên cổ. Cả ba từ – khi thì dùng như danh từ, khi thì như tính từ hay trạng từ – đều chỉ một cái gì xa xưa, lâu lắc, không đo lường được. Tóm lại, vô hạn, vô cùng.

Ám ảnh thời gian tất yếu đưa đến ám ảnh về lịch sử. Khác với thời gian là một khái niệm mông lung, lịch sử  – đối với nhà thơ – trông có vẻ cụ thể hơn, có da có thịt hơn. Nó tác động trực tiếp đến bản thân, đến cuộc sống hiện đương. Có lẽ để nhấn mạnh điều này, tác giả nhiều lần viết hoa hai chữ “Lịch Sử” trong thơ. Lịch sử tựa hồ như một nhân vật, hay ít ra cũng tựa như một thẩm quyền: Tử tội mừng ơn lịch sử tha; Đã trăm năm lịch sử làm thinh; Những âm thanh lịch sử thịnh nộ.

Là một thẩm quyền, lịch sử biểu lộ thái độ khác nhau tùy theo hoàn cảnh, khi thì “dường như rất vội vã”, khi thì “mài thê thiết”, khi thì “ngơi đi nhiều tiếng động”, “đổi phiên người gác ngục” và có lúc kiệt lực “ngất lả”, lại có lúc:

            Như tên phù thủy già điên loạn

            Lịch sử lên cơn dữ bất thường (Mùa hạn)

Ở đây, lịch sử gắn liền với chế độ chính trị của mỗi thời, tác động cụ thể lên thân phận từng người, trong đó có bản thân tác giả. Đây là một trong những cảnh lịch sử “lên cơn dữ”:

            Đám chủ mới, y trang xúng xính,

            Súng nghênh ngang, tiếng hét phàm phu

            Xua trăm họ sá chi thân mạng

            Lăn địa cầu ra khỏi lối xưa (Mùa hạn)

Lăn địa cầu ra khỏi lối xưa! Một mô tả cực kỳ hình tượng về  tham vọng của chế độ Cộng sản.

Thời gian và lịch sử bao hàm tính chất biến dịch. Thơ TTY, ở một nghĩa nào đó, là cảm thức sâu sắc về lẽ biến dịch, về sự tuần hoàn, về ý nghĩa “không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông”:

            – Đời hoài công đứt nối miên man (Mòn gót)

– Dòng sông u hiển trôi vô lượng (Hề, ta)

                        – Các mùa chuyển động trong trời trống

                          Di điểu qua sông xẻ luống sầu.. (Tưởng tượng)

– Bởi tất cả vô thường/Nên tất cả miên viễn (Soi mệnh)

– Đời qua lớp lớp tàn hư huyễn/Giọt lệ sương thầm khóc biến thiên (Ta về)

            Thời gian/biến dịch đưa đến cảm thức về vô hạn/hữu hạn:

            Vũ trụ miên man chuyển động đều

            Mà trong vô hạn có chi đâu (Đãng tử)

Vô hạn/hữu hạn là nghịch lý lớn nhất đối với ý thức con người:                              

            Làm sao ta biết được

            Niềm vô lượng không gian cuốn hút

            Cõi trăm năm tiếp tiếp miệt mài,

            Cuộc phiêu lưu tinh thần bi liệt…

            Nùi lộ trình rối chẳng phăng ra.

            (…) Loài sinh vật loay hoay quên khuấy nỗi kinh hoàng bé mọn

            Trong vô tận quang niên và vô tận thời gian (Bất tận nỗi đời hung hãn đó)

Một diễn đạt tuyệt vời khác về nỗ lực vô vọng của con người qua thời gian và không gian! Vẫn biết là phiêu lưu vô ích, là lập lại cái cảm thức tồn tại từ khi con người biết tư duy, nhưng cái quái đản là con người vẫn không ngừng suy tư về nó. Vận dụng tối đa chữ nghĩa để phiêu lưu vào chính cái cõi phiêu lưu. Biết là “trí ta không đủ lực đo lường” mà vẫn “nghĩ tới bao điều thầm lặng lớn”, vẫn “mưu đồ đo đạc cả Vô Biên”. Quả là một cuộc “phiêu lưu tinh thần bi liệt”!

Thời gian vô hạn, không gian lại càng vô hạn. TTY gọi đó là cõi “vô cùng tận”, là cõi “ngoài muôn dặm”: Mỏi chìm đóm lửa ngoài muôn dặm. Không gian là những đám mây vô sử; vũ trụ thì cứ thế, miên man chuyển động đều; là Bóng chim tăm cá cành trôi giạt/Bất luận điều chi giữa mịt mùng, con người trong vũ trụ chỉ dạo men bờ sóng tuyệt mù. Một trong những hình ảnh về không gian vô tận là hình ảnh con đường. Nó không có cùng đích: Con đường đi mỏi mà không tậnvà không có khởi đầu:

            Ôi những con đường đến tự đâu/Một lần gặp gỡ ngã tư nào

Mà trong vô hạn chia lìa miết/Có cuốn theo mình bụi của nhau

Là cái gì cách ngăn, chia lìa:

            –Em nhỏ, làm chi chim biển Bắc/Để anh lầm mãi bãi Đông mù       

Không-thời là một kết hợp có tính biện chứng, khiến cho cái vô hạn càng thêm vô hạn:

            – Biển Bắc mịt mù con nhạn lạc (không)

            Thời gian mất trí trắng vô âm ( thời)

– Trăm năm, rồi lại trăm năm khác

Tên đoá hoa này, ngươi nhớ chăng?

Con ngựa bất kham cuồng bão táp

Cõi hồng trần lôi nỗi kinh tâm

            Con người chỉ là một hạt lệ trong cuộc biến thiên vô hạn:

            Đời qua, lớp lớp tàn hư huyễn

            Hạt lệ sương thầm khóc biến thiên

(Còn tiếp)

Chú thích:

[1] Để cho gọn, trừ trường hợp đặc biệt cần nhấn mạnh một điều gì đó, tôi sẽ dùng chữ tắt “TTY” thay thế cho “Tô Thùy Yên” trong toàn bài viết này.

2 Nguyễn Mạnh Trinh, Phỏng vấn Tô Thùy Yên, tạp chí Hợp Lưu số 24, tháng 8&9/1995, tr. 162. Đây là một bài phỏng vấn rất hay, qua đó, NMT và TTY đã trao đổi rất nhiều điều về thơ: quan niệm của TTY về thơ, cách làm thơ, yếu tố vần điệu, chữ nghĩa, kiến thức…Bài phỏng vấn cũng đưa ra nhiều thông tin về tạp chí Sáng Tạo mà TTY là một trong những thành viên trong ban chủ trương. Theo tôi, những ai muốn tìm hiểu về thơ TTY, không thể không đọc thêm bài phỏng vấn này.

3 Nguyễn Hưng Quốc, “Thơ, V.V…Và V.V”, nxb Văn Nghệ (California) 1996, tr. 192

4 Bùi Vĩnh Phúc, Lý luận và Phê Bình – Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước 1975-1995, phần “Tô Thùy Yên: Thơ, như một vinh dự lầm than của kiếp người”,  nxb Văn Nghệ (California) 1996, tr. 395-396.

5 Về cách phối trí từ ngữ, tức là chọn lựa và kết hợp, tác giả Bùi Vĩnh Phúc phân tích khá kỹ. Xem Bùi Vĩnh Phúc, sách và bài đã dẫn, tr. 378,379,380.

6 Ngôn ngữ Phật Giáo, có nghĩa là: điều-không-thể-nghĩ-bàn.

7 Nguyễn Hưng Quốc, sđd, tr. 192.

8 Để hiểu rõ hơn quan điểm của TTY về vấn đề cảm hứng, xin trích lại đây ý kiến của ông phát biểu trong bài phỏng vấn “Làm thơ, cũng như làm bất cứ thể loại nghệ thuật nào khác đương nhiên đòi hỏi trước tiên phải có cảm hứng…(…) Tuy nhiên, nghĩ cho cùng, cảm hứng đó do đâu mà phát sinh, nếu chẳng phải từ những nung nấu trường kỳ đến mức đã trở thành những ám ảnh một đời của tác giả. Bản thân tôi không tin là có thể có những cảm hứng ngẫu sinh. Dĩ nhiên bài thơ thành hình không chỉ thuần với cái cảm hứng đầu tiên khai ngộ đó. Từ cái cảm hứng đầu tiên khai ngộ đó đến cuối bài thơ được hoàn thành, với tôi, luôn luôn là một con đường xa vợi, nhọc nhằn lắm khi tuyệt vọng ê chề vì lực bất tòng tâm”, dẫn theo “Phỏng vấn Tô Thùy Yên”, Nguyễn Mạnh Trinh, bđd, tr. 164.

9 Có lần TTY nói với tôi: người sáng tác, theo tôi, phải có cái vision (tầm nhìn) lớn.

10 Hai từ triết lý và siêu hình dùng trong bài này có thể  làm cho một số người đọc phân vân. Xin được giải thích như sau: Triết lý, tiếng Anh là philosophy, nguyên gốc từ tiếng Hy Lạp (philo và sofia), có nghĩa là “yêu sự khôn ngoan” (love of wisdom). Sau này, từ triết lý được sử dụng rộng rãi để chỉ sự theo đuổi các nghiên cứu có tính chất lý thuyết về những vấn đề liên quan đến cuộc nhân sinh như cái sống, cái chết, bản chất của sự vật, vấn đề chân lý, vấn đề khoa học, hiện sinh và từ đó phát sinh ra nhiều phạm trù khác nhau như: thời gian, không gian, các giá trị, vấn đề tuyệt đối, vân vân. Siêu hình học,metaphysics, nguyên gốc tiếng Hy Lạp là “ta meta ta physika”, có nghĩa là “những tác phẩm xuất hiện sau các tác phẩm viết về vật lý (physics) của triết gia Aristotle. Như thế, meta-physics chỉ có nghĩa đơn thuần là “sau-physics”. Nhưng về sau, các học giả phương Tây sử dụng nó với ý nghĩa mở rộng, có nghĩa là nghiên cứu những vấn đề siêu vật lý (trans-physical), tức là vượt lên trên những gì quan sát được. Trong trường ốc, người ta thường phân loại triết lý ra thành tâm lý học, luận lý học, đạo đức học, siêu hình học, vân vân. Như thế, siêu hình học là một bộ môn của triết lý.  Trong bài này, do phạm vi giới hạn của đề tài, tôi sử dụng cả hai từ triết lý và siêu hình lẫn lộn nhau, đều ám chỉ một số ý niệm (cũng như niềm tin) căn bản về bản chất của sự vật như vấn đề tồn tại, hiện sinh, không gian, thời gian, lịch sử, chân lý…, tóm lại, là những gì  không thể kiểm chứng được bằng thực nghiệm. Do đó, chúng khác biệt hay đối lập với hiện thực là những gì xảy ra trong thực tế, có thể nhận biết được bằng các giác quan. Tuy nhiên, từ siêu hình dùng ở đây không liên quan gì đến phong trào siêu thực (surrealism), là một lý thuyết sáng tác nghệ thuật dựa trên vô thức, do André Breton (Pháp) sáng lập vào đầu thế kỷ thứ 20.

11 Nguyễn Mạnh Trinh, Hợp Lưu số 24, 

damau.org

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s