Tiết Tháng 7 đọc văn chiêu hồn-Phạm Lưu Vũ

tạp bút

logo nhật ký

TIẾT THÁNG BẢY ĐỌC VĂN CHIÊU HỒN

clip_image0011

Phạm Lưu Vũ

“Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt
Toát hơi may lạnh buốt xương khô”

sen-trang

Tôi biết có người có một cách đọc văn rất lạ. Gặp những áng văn kiệt tác, bất hủ như thế này, đọc đi đọc lại bằng mắt hình như chưa đã, lại còn phải kính cẩn, tự tay chép ra từng câu một thì mới tạm thỏa cái thú tri kỉ với văn chương. Tôi cũng thử bắt chước đọc theo cách đó. Chép xong hai câu rùng mình rợn gai ốc mở đầu bài “Văn chiêu hồn” ấy, bỗng tôi giật bắn người, buông bút sững sờ… Thì ra thiên tài Nguyễn Du sau khi viết xong hai câu gọi là “thi trung hữu quỷ” (trong thơ có quỷ) ấy, tức là Người đã hoàn thành toàn bộ một trăm tám mươi tư câu “Văn chiêu hồn” kiệt xuất của mình rồi, chỉ còn mỗi việc viết ra cho đến khi kết thúc nữa mà thôi. Và những lời ai điếu, xót thương dành cho thập loại chúng sinh của một nhân cách lồng lộng quân tử cứ trùng điệp hiện lên giữa tiết tháng bảy của âm dương sùi sụt. Những câu thơ vừa chỉ mặt đặt tên, vừa gọi ra lớp lớp thập loại kiếp người đã từng hiện hữu, đã từng trải qua hỉ, nộ, ái, ố… để rồi biến thành những vong hồn vất vưởng, rơi rụng lả tả khắp mọi chốn, mọi nơi, lớp nọ chồng lên lớp kia, đời đời, kiếp kiếp… Chỉ có bậc thiên tài, với một tấm lòng trong sáng, quảng đại từ bi và yêu thương hết mực, không gợn chút điên đảo, tầm thường nào thì mới trải hồn mình ra như vậy được.

“Não người thay buổi chiều thu
Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng

Đường bạch dương bóng chiều man mác
Dặm đường lê lác đác sương sa
Lòng nào lòng chẳng thiết tha
Cõi dương còn thế huống là cõi âm”

Mặc dù bản chữ in đang đặt trước mặt là như thế, song tôi cứ ngờ rằng có sự lầm lẫn đâu đây khi các bậc tiền bối chuyển “Văn chiêu hồn” từ bản chữ Nôm ra chữ quốc ngữ. Nguyễn Du vốn là bậc thầy về niêm luật, văn phong, không lẽ lại có một chỗ sái vần, trùng chữ như thế, huống chi toàn bài, hầu như chỉ có ở chỗ này là duy nhất. Theo luật của song thất lục bát, chữ cuối cùng của câu tám phải vần với chữ thứ năm của câu thất tiếp theo. Thế thì “vàng” không thể được coi là vần với “chiều” được. Thôi đã không biết thì đành bằng lòng với một trường hợp “phá cách” cực kì hiếm hoi của cụ Nguyễn vậy. Nhưng ở câu thất: “Dặm đường lê lác đác sương sa” lại có chữ “đường” trùng với chữ “đường” ở câu thất ngay trước đó. Tôi vẫn muốn ngờ rằng có sự nhầm lẫn ở đây. Biết đâu Nguyễn Du đã viết là: “Dặm nẻo…” thì sao? Nhưng thôi, những suy luận chợt thoáng qua này dù đúng hay chỉ là vớ vẩn, thì một kiệt tác văn chương một khi đã thấm vào lòng ai, cũng tức là hồn vía của người đó rồi. Tôi cũng thế. Tôi cứ việc xin phép cụ Nguyễn và các bậc tiến bối mà thành kính khấn hai câu thất ấy thành “Đường bạch dương bóng chiều man mác / Dặm nẻo lê lác đác sương sa…”. Đến như hai câu lục bát tiếp theo thì không gì có thể bàn nổi nữa, đây quả là những câu thần bút rồi: “Lòng nào lòng chẳng thiết tha / Cõi dương còn thế huống là cõi âm.” (*)

“Văn chiêu hồn” của thiên tài Nguyễn Du, áng văn chương kinh điển và vĩ đại của cả trời đất, quỷ thần này được mở đầu bằng hai mươi câu, chính là sự mở cửa để hoà nhập vào với cõi âm, là nỗi lòng thương xót, đồng cảm, không phân biệt sang hèn… của cõi dương đối với cả thế giới của những vong hồn. Trên đây đã khấn được tám câu. Xin khấn mười hai câu tiếp theo như sau:

“Trong trường dạ tối tăm trời đất
Có khôn thiêng phảng phất u minh
Thương thay thập loại chúng sinh
Hồn đơn phách chiếc linh đinh quê người.

Hương lửa đã không nơi nương tựa
Hồn mồ côi lần lữa đêm đen
Còn chi ai khá ai hèn
Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu.

Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tịnh bình rưới hắt dương chi
Muôn nhờ Đức Phật Từ Bi
Giải oan cứu khổ độ về Tây Phương.”

Thế giới của vong hồn là một thế giới tối tăm vĩnh cửu, vì thế gọi là “trường dạ” (đêm trường). Câu: “Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu”, thì “Kẻ hiền” không có nghĩa là kẻ hiền lành. Chữ hiền ở đây có nghĩa là tài giỏi. Ngày xưa gọi những người có tài an bang tế thế là người hiền. Còn câu: “Nước tịnh bình rưới hắt dương chi”, thì “dương chi” là cành dương liễu, dùng cành dương liễu để rẩy nước khi cúng tế. Văn chương này thấu tận tuyền đài. Khấn tới đây, trong mưa dầm sùi sụt của tiết trời xá tội vong nhân, tưởng như nhìn thấy lớp lớp những linh hồn đang mờ mịt hiện về, tội lỗi có, oan uổng có, đầy đủ có, cụt đầu, cụt chân, khuyết mũi, rụng tai… có. Những hình hài vừa nghiêng ngả lúc bên nọ, lúc bên kia, vừa chập chờn thoắt xa, thoắt gần, sục sôi trong những tiếng gào khóc não nề, đặc biệt ấn tượng là những cảnh “Lôi thôi ẵm trẻ dắt già…” Cũng là chữ nghĩa đấy thôi mà đọc lên nghe sao rùng rợn. Đoạn văn tế bước vào hồi khủng khiếp, gọi hết mọi vong hồn của thập loại chúng sinh ra. Bắt đầu bằng việc khấn cho những linh hồn thất thế, lúc sống nuôi chí lớn mà coi thường cả cái mạng cha sinh mẹ đẻ của mình:

“Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh
Chí những lăm cướp gánh non sông
Nói chi đang thuở tranh hùng
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau!

Bỗng phút đâu tro bay ngói giở
Khôn đem mình làm đứa thất phu
Cả giàu sang nặng oán thù
Máu tươi lai láng xương khô rã rời.

Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc
Quỷ không đầu van khóc đêm mưa
Cho hay thành bại là cơ
Mà u hồn biết bao giờ cho tan.”

Đến đây, thế gian như bắt đầu trùng điệp những vong hồn đang lè lưỡi, trợn mắt thét gào, những hình hài không đầy đủ, nham nhở hoặc trống hoác đang nghiến răng kèn kẹt, những đốt xương khô lạnh như còn muốn run lên, bao mối hận nghìn thu tưởng không biết đến đời nào gỡ nổi, nghe lời văn tế bỗng ảo não thở dài. Cả một đời sống ham thác hận, vất vưởng xuống tuyền đài không người hương khói, mùi thế tục vẫn vương vấn đâu đây, giờ biến thành những quỷ không đầu van khóc, mới hay lẽ thành bại là muôn thuở cơ trời…

Tiếp đến khấn vong hồn của những cô nương, những mĩ nhân nơi lầu son gác tía:

“Nào những kẻ màn lan trướng huệ
Những cậy mình cung Quế Hằng Nga
Một phen thay đổi sơn hà
Mảnh thân chiếc lá biết là làm sao!

Lên lầu cao, xuống dòng nước chảy
Phận đã đành trâm gãy bình rơi
Khi sao đông đúc vui cười
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương!

Thảm thiết lẽ không hương không khói
Hồn ngẩn ngơ bãi cói ngàn sim
Thương thay chân yếu tay mềm
Càng năm càng héo càng đêm càng dàu.”

Những lời văn bi thiết tưởng đến gỗ đá cũng phải bật lên tiếng rên, nghe như văng vẳng đâu đây, có âm hưởng của Cung oán ngâm khúc quyện vào: “Trải vách quế gió vàng hiu hắt / Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng / Oán chi những khách tiêu phòng / Mà xui phận bạc nằm trong má đào…” Nguyễn Du hẳn đã đồng điệu với Nguyễn Gia Thiều ở đoạn văn tế đầy ai oán và xiết bao sầu thảm này. Những vong hồn của ca kĩ muôn đời có lẽ cũng gồm cả ở đây chăng? Quả thật là: “Phong trần đến cả sơn khê / Tang thương đến cả hoa kia cỏ này” (vẫn Cung oán ngâm khúc). Khấn xong những kiếp hồng nhan bạc mệnh ấy rồi, vần thi quỷ tiếp tục du dương, giờ khấn đến vong hồn của những kẻ đã từng là phụ mẫu chi dân hoặc kẻ sĩ:

“Nào những kẻ mũ cao áo rộng
Ngọn bút son thác sống trong tay
Kinh luân chất một túi đầy
Đã đêm Quản, Cát lại ngày Y, Chu.

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm
Trăm loài ma xắm nắm chung quanh
Nghìn vàng khôn chuộc được mình
Lầu ca viện xướng tan tành còn đâu!

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước
Biết lấy ai bát nước chén nhang
Cô hồn thất thểu dọc ngang
Nặng oan khôn lẽ tìm đường hóa sinh.”

Có ai ngờ vong nhân lại gồm cả những bậc quyền thế, từng nắm trong tay sự sống chết của muôn người như thế? Những kẻ mà “Kinh luân chất một túi đầy” ấy, đêm vật mình ngẫm nghĩ mưu kế, thủ đoạn như Quản Trọng, Gia Cát Lượng, ngày đâm đầu phò tá, dốc lòng như Y Doãn, Chu Công… thì ra cũng không thoát khỏi cái số phận sống giả kiếp vẻ vang, thác đích thực cô hồn như vậy! Cách đây hơn hai trăm năm, Nguyễn Du hẳn phải ghét cay ghét đắng sự đểu cáng, bịp bợm và tầm thường ấy lắm. Đến nỗi dù là viết văn chiêu hồn, Người cũng không tránh khỏi phải thốt lên những lời hàm ý giễu cợt, ghê sợ lũ giả nhân, tự cho mình là tinh hoa, tài giỏi, để giữ khư khư cái quyền làm cha, làm mẹ dân như thế, và Người vậy là đã nhìn thấu cả quá khứ, vị lai rồi đấy. Thưa với Người rằng, những kẻ tự vỗ ngực là “Quản, Cát, Y, Chu” bại hoại cả thế sự, nhân tình ấy, từ đó đến nay, đời nào cũng vẫn nhan nhản. Và đạo lý nhân quả của trời đất, thì ra sẽ không tha cho bất cứ loại người nào.

Hai câu thất ở khổ thứ hai: “Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm / Trăm loài ma xắm nắm chung quanh” được gióng lên như một lời cảnh báo. Ghê rợn đến nhường ấy, vậy mà kể từ khi có “Văn chiêu hồn” của Người đến nay, thế gian từ anh hoạn lợn đến những kẻ có học, từ hạng bọt bèo ham hố đến lũ con ông cháu cha đang chia nhau danh, lợi kia… tuyệt chưa thấy kẻ nào tỏ ra mảy may kiêng sợ…

Tiếp theo là những vong hồn thuộc vào hàng tướng soái:

“Nào những kẻ bài binh bố trận
Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung
Gió mưa thét rống đùng đùng
Dãi thây trăm họ làm công một người.

Khi thất thế tên rơi đạn lạc
Bãi sa trường thịt nát máu trôi
Bơ vơ góc bể chân trời
Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao!

Trời thăm thẳm mưa gào gió thét
Khí âm huyền mờ mịt trước sau
Bao năm xương trắng dãi dầu
Nào đâu điếu tế nào đâu chưng thường.”

(Câu: “Nào đâu điếu tế nào đâu chưng thường”, thì “chưng thường” là lễ tế chưng, lễ tế diễn ra thường xuyên vào mùa đông). Những tướng soái cổ kim coi mạng người như rác, vung mạng lính như tỉ phú vung tiền ấy, thì ra cũng được lòng từ bi chiêu hồn thống thiết đến thế kia ư? Cái tư tưởng ghê gớm của Đường thi: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô” đã được Nguyễn Du diễn giải ra một cách giản dị, mỉa mai và kinh khủng đến thế là cùng: “Dãi thây trăm họ làm công một người”. Toàn bằng chữ Nôm, song một khi đã vào tay Nguyễn Du, thì ra cũng gớm ghê không kém. Những hạng tướng soái ấy, phải chăng chính là một trong những đích danh thủ phạm, đã góp phần tạo nên lớp lớp những oan hồn của thập loại chúng sinh này? Đến lượt họ, rốt cuộc cũng chỉ là những kiếp vong nhân, đời đời mong hưởng những tuần nhang cúng thí của thập phương tam đạo mà thôi. Lòng từ bi của Người đã thấu đến tận trời, vậy xin mời các vị hãy cùng theo về mà thượng hưởng.

Tiếp theo là vong hồn của những kẻ bôn ba, lìa bỏ quê hương, xông vào chốn lợi lộc, ham làm giàu đến quên cả thân mình:

“Cũng có kẻ tính đường trí phú
Mình làm mình nhịn ngủ quên ăn
Ruột rà không kẻ chí thân
Dẫu làm nên để dành phần cho ai.

Khi nằm xuống không người nhắn nhủ
Của phù vân dù có như không
Sống thì tiền chảy bạc dòng
Thác không đem được một đồng nào đi.

Khóc ma mướn thương gì hàng xóm
Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm
Ngẩn ngơ nội rộc đồng chiêm,
Nén hương giọt nước biết tìm vào đâu?”

Đối với những hạng người này, giọng “Văn chiêu hồn” đầy nỗi xót thương, nhân bản, như tiếng khóc của một người Mẹ, thay mặt những người thân thích mà an ủi, làm ấm lại cõi lòng của những vong linh lạnh lẽo tuy cũng có chút trách móc nhẹ nhàng.

Còn đây là vong hồn của những kẻ lao đầu vào chốn phồn hoa, chẳng cần biết đến trời cao trời thấp, quyết thí thân để cầu lấy sự sang:

“Cũng có kẻ rắp cầu chữ Quý
Dấn thân vào thành thị lân la.
Mấy thu lìa cửa lìa nhà
Văn chương đã chắc đâu mà thí thân.

Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng
Anh em: thiên hạ; láng giềng: người dưng.

Bóng phần tử xa chừng hương khúc
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang
Cô hồn nhờ gửi tha phương
Gió trăng hiu hắt khói hương lạnh lùng!”

(Câu: “Bóng phần tử xa chừng hương khúc”, thì “phần tử” là nấm mồ của người chết (mộ phần) “hương khúc” là cái làng nhỏ. Tả những nấm mồ nằm rải rác, cách xa thôn xóm. Còn câu: “Bãi tha ma kẻ dọc người ngang”, thì tả bãi tha ma với những kiểu chôn dọc, chôn ngang… chỉ bốn chữ mà bãi tha ma hiện lên thật ghê rợn). Cái kết cục cô hồn của những kiếp văn chương bọt bèo này thực là thê thảm. Hình như càng ngày, nó càng vận vào những đời sau, cho đến tận bây giờ… Văn chương, xướng, họa ở cái chốn giả văn minh, nhiều man rợ này vốn đã bao đời, hoặc bị xếp vào hàng hạ đẳng, hoặc phải muối mặt làm thân nô bộc, tình nguyện a dua theo cái ác, cái giả hòng kiếm chút cơm thừa, canh cặn… Thế thì lúc nào mà chẳng có khối kẻ ra nhập vào cái đoàn cô hồn thất thểu dọc ngang ấy, để cho nó cứ dài mãi đến lê thê. Lời chiêu hồn dành cho hạng người này vừa thương hại, vừa kinh hoàng đến nỗi không thể nào bình luận, tưởng những muốn khấn đi khấn lại đến vô cùng: “Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng / Anh em: thiên hạ; láng giềng: người dưng…”

“Văn chiêu hồn” trước tiên gọi ra sáu loại vong hồn trên đây, những kẻ lúc sống vốn sa vào vòng danh lợi, có khi mải chạy theo sự nghiệp, có khi ham ăn trắng mặc trơn, có kẻ tối mắt vì quan tước, quyền uy, có kẻ đâm đầu theo phú, quý… Rốt cuộc thân làm thân chịu, sống chỉ muốn ngồi trên thiên hạ, thì khi thác có thành những vong hồn cũng chẳng oan khiên gì cho lắm. Lời văn đầy xót xa, luật nhân quả như thể đã được báo trước, đau đớn mà vẫn hùng biện, rõ ràng mà vẫn xa xôi, hình như còn muốn hàm ý đến điều gì? Lại nhớ ông Mục công người đất Kinh có lần đã từng bình luận, rằng Nguyễn Du làm ra “Văn chiêu hồn”, tiếng là tế những vong hồn người chết. Song thực ra là dành cho chính những kẻ đang sống, những hồn vía đang lạc vào vòng u mê danh lợi, dối trá trên chính cõi dương gian này vậy.

Từ đây trở xuống, tiếp tục khấn đến những oan hồn đích thực, những kiếp sinh linh vô tội bị cuộc đời xô đẩy mà mắc phải vô vàn những kiểu thác oan. Những số phận này không thể để lẫn lộn vào sáu loại vong hồn trên được. Mục lục của “Văn chiêu hồn” quả không thể tuỳ tiện mà bỏ qua.

Bắt đầu bằng lời ai điếu cho những số kiếp gặp bước không may trong những công cuộc mưu sinh đầy gian truân, bất trắc:

“Cũng có kẻ vào sông ra bể
Cánh buồm thưa chạy xế gió đông
Gặp cơn giông tố giữa dòng
Đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán
Đòn gánh tre chín dạn hai vai
Gặp cơn mưa nắng giữa trời
Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao.”

Tiếng chiêu hồn nấc lên trước những vong linh này nghe sao mà âm u, thảm thiết. Chỉ xin bổ sung với Người một điều, rằng những cơn giông tố và mưa nắng giáng xuống những số phận ấy, ở đời nay không chỉ do trời đất sinh ra mà thôi đâu…

sen_476786017

Giờ khấn đến những vong hồn lính trận:

“Cũng có kẻ mắc vào khóa lính
Bỏ cửa nhà gồng gánh việc quan
Nước khe cơm ống gian nan
Dãi dầu muôn dặm lầm than một đời.

Buổi chiến trận mạng người như rác
Phận đã đành đạn lạc tên rơi
Lập lòe ngọn lửa ma trơi
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương.”

Đọc đến những câu này, lại chợt nhớ đến câu chuyện của một người đọc sách, đọc chuyện Đông Chu suốt mấy chục năm, đến nỗi phải mua tới ba lần cùng bộ sách ấy. Mỗi bận giở ra, hàng nghìn nhân vật từ vương giả đến chư hầu, từ quan tới lính, từ kẻ sĩ đến triết nhân… liếc đến cái tên nào cũng thấy quen thuộc, y như gặp phải người trong làng, trong xóm vậy. Những thế sự diễn ra cách đây đã mấy nghìn năm, vậy mà cho đến tận bây giờ, bao nhiêu cuộc chiến tranh dành đất, dành dân, dành quyền, khủng bố… không lúc nào ngớt ở nơi này, nơi nọ… chung qui cũng gồm lần lượt những gương mặt bá chủ, chư hầu, cũng những bản tuyên ngôn, những chiêu bài bịp bợm, cùng những sự trâng tráo nào là nhân danh thiên tử, trăm họ, nào là nhân danh tổ quốc, nhân dân… Kết quả chẳng thấy mang lại điều gì cho chúng sinh ngoài những đống xương vô định. Tất cả đều không vượt ra khỏi bộ sách ấy. Chuyện kể rằng một bà mẹ có đứa con trai phải làm lính trận, nghe tin con mình được phiên vào một đạo quân có vị tướng biết yêu thương quân sĩ như con. Bà mẹ bỗng gào khóc thảm thiết. Mọi người lấy làm lạ, bèn hỏi:

“Con trai bà may mắn được phục vụ dưới quyền một ông tướng tốt với quân sĩ như thế, đáng lẽ bà phải mừng mới phải. Cớ sao lại sầu thảm như vậy?”

Bà mẹ trả lời: “Tôi chỉ có mỗi thằng con trai, những mong nó sinh con đẻ cái để nối dõi tông đường. Nay nó buộc phải đi lính để đánh nhau, tranh thành, tranh đất, tranh địa vị, phú quý cho ai đó, chứ có phải cho những kẻ hèn hạ như chúng tôi đâu(!). Nếu nó gặp phải một ông tướng bạc ác, bất nhân, thì nó tất sinh lòng chán nản, lúc ra trận sẽ tìm cách lùi lại phía sau hoặc bỏ trốn. Như thế may ra còn sống mà trở về được. Nay nó gặp phải một ông tướng biết lấy lòng quân sĩ như thế, thì lúc ra trận, tất nó sẽ cảm cái ơn ấy mà hăng hái, liều mình xông lên phía trước. Thế thì tôi không còn hy vọng nó sẽ sống sót trở về.”

Quả nhiên một thời gian sau, bà mẹ nghe tin đứa con trai duy nhất ấy của mình đã bỏ xác nơi chiến trường. Chuyện chỉ bấy nhiêu thôi, song đã đủ nói lên bản chất của mọi cuộc chiến tranh. Và “Văn chiêu hồn” đời đời cứ phải cất lên để khóc than cho những oan hồn đời nọ chồng lên đời kia, tầng tầng lớp lớp những thây rơi lính trận ấy. Đọc đến đây, bỗng chỉ muốn cầu cho những kẻ suốt đời dẫm đạp lên những thây rơi để trèo lên đỉnh cao danh vọng, quyền lực, những kẻ giả nhân, giả nghĩa kia mãi mãi bị đày xuống mười tám tầng địa ngục, mãi mãi không được siêu thoát, để chúng khỏi tiếp tục làm hại con người, làm hại cả trời đất, quỷ thần này nữa…

Nguyễn Du với kiệt tác truyện Kiều, thêm một lần ở “Văn chiêu hồn” này, lại cất lên tiếng nói xót thương, ai oán cho những oan hồn nhi nữ, lúc sống phải đày đọa trong kiếp lầu xanh:

“Cũng có kẻ lỡ làng một tiết
Liều tuổi xanh bán nguyệt buôn hoa
Ngẩn ngơ khi trở về già
Ai chồng con nấy biết là cậy ai.

Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa
Đau đớn thay phận đàn bà
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu!”

Và chiêu hồn những kiếp ăn xin, những kẻ được coi là “ăn lộc” thiên hạ:

“Cũng có kẻ nằm cầu gối đất
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi
Thương thay cũng một kiếp người
Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan.”

Tiếp đến những kẻ bị oan khuất bởi cường quyền bất lương mà đời nào cũng có:

“Cũng có kẻ mắc oan tù rạc
Gửi thân vào chiếu lác một manh
Nắm xương chôn rấp góc thành
Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi.”

Đến đoạn chiêu hồn những hài nhi yểu mệnh này thì thật là đau đớn, khiến đã là con người thì không ai có thể cầm được nước mắt:

“Kìa những kẻ tiểu nhi tấm bé
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha
Lấy ai bồng bế vào ra
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.”

Phần cuối của trường đoạn gọi hồn thê lương, réo rắt này, “Văn chiêu hồn” cũng không quên khấn cho tất cả những vong hồn chúng sinh mắc phải những nạn thuỷ, hỏa, ác, thú, có sinh không dưỡng… còn lại. Cách hành văn ở đoạn này thực đã đến nhẽ kinh người. Không cần phải dùng tới mười hai câu, tám câu… như những kết cục vong hồn đã được báo trước từ lúc còn đang sống ở trên. Những vong hồn này đột ngột hiện ra trong từng câu, trong từng nửa câu, không một lời rào đón, như thể những cái chết của họ toàn là bất đắc kì tử, toàn là những cái chết bất ưng, những kết cục thảm thương không hề được báo trước:

ThuyenNhan06

“Kìa những kẻ chìm sông lạc suối
Kìa những người sẩy cối sa cây
Có người gieo giếng thắt dây
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.

Người thì mắc sơn tinh thủy quái
Người thì sa nanh khái ngà voi
Có người có đẻ không nuôi
Có người sa sẩy có người khốn thương.

Gặp phải lúc lạc đường lỡ bước
Cầu Nại hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bao giờ?

Sau ba mươi khổ song thất lục bát, tổng cộng một trăm hai mươi câu “chỉ mặt đặt tên”, “Văn chiêu hồn” tiếp tục mô tả cái thế giới thảm thương của những vong hồn. Chẳng ở đâu xa, thế giới ấy tồn tại ngay chính không gian này, nằm trong cõi dương gian ảo này. Đó mới chính là thế giới thực, là tấm gương phản chiếu cái cuộc đời đầy giả trá, bịp bợm và bất lương này. Những góc tối tăm của lòng người hiểm độc chiếu vào đây ắt phải giật mình. Nếu ai chưa tin rằng văn chương có thể đạt tới trình độ làm kinh hồn bạt vía thì xin hãy đọc đoạn này. Chỉ mười sáu câu, hùng vĩ hơn nghìn trang giáo khoa lịch sử được bôi son trát phấn, văn chương này đã biến những diễn văn ngợi ca chiến thắng, ngợi ca những chủ nghĩa lừa mị… thành những thứ sặc mùi tử khí. Đây mới đích thực là quỉ khốc thần sầu:

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi
Hoặc là nương ngọn suối chân mây
Hoặc là bụi cỏ bóng cây
Hoặc là quán nọ cầu này bơ vơ.

Hoặc là nương thần từ phật tự
Hoặc là nhờ đầu chợ cuối sông
Hoặc là mông quạnh đồng không
Hoặc nơi gò đống hoặc vùng lau re.

Sống đã chịu một bề thảm thiết
Ruột héo khô da rét căm căm
Dãi dầu trong mấy mươi năm
Thở than dưới đất ăn nằm trên sương.

Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn
Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra
Lôi thôi ẵm trẻ dắt già
Có khôn thiêng hỡi lại mà nghe kinh.”

nnhanh_tiecthuong

Xin dừng lại một chút ở những câu thảm thiết, xót thương những hồn ma vô chủ, đến nỗi đọc lên bỗng quên cả cảm giác ghê rợn này: “Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn / Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra”, thậm chí đã xóa nhòa cả những sự ngăn cách âm dương: “Lôi thôi ẵm trẻ dắt già / Có khôn thiêng hỡi lại mà nghe kinh.”. Thực không còn sót một số kiếp nào của chúng sinh. Cũng như muôn vạn kiếp người, lời văn dành cho mỗi loài cô hồn một khác, không lời nào giống với lời nào. Lại còn dài ngắn khác nhau, có khi phải dùng đến mười hai câu mới nói hết, có khi tám câu, bốn câu, có khi chỉ cần một câu, thậm chí nửa câu cũng đủ… Thật là một bút lực văn chương phi phàm, không tiền khoáng hậu. Cố gắng nghiến răng đọc một mạch cả trường đoạn chiêu hồn này, tưởng như khắp mặt đất, sông ngòi, biển cả… đang rùng rùng hiện lên toàn những ma quỷ. Cả thế gian chật ních ma quỷ. Đến đây, hẳn ai cũng phải lặng người trước một sự thật kinh hồn: Xứ sở gì mà lắm vong hồn đến thế? Có lẽ không ở đâu trên Trái đất này…

Và có phải hằng hà sa số những vong hồn, kiếp nọ nối kiếp kia, cả ở quá khứ lẫn vị lai ấy đã tụ lại nơi thiên tài của Nguyễn Du, để làm nên một thiên quỷ ca hoành tráng, vĩ đại và đời đời bất diệt cho cái thế giới khốn khổ của mình? Thế giới đó có khác gì địa ngục? Và cái địa ngục đó chủ yếu lại do lòng tham, sân, si… của chính những kẻ đồng loại là con người tạo nên. Vậy thì biết đâu đấy, rằng nếu sinh ra ở một xứ sở nào khác, Nguyễn Du dẫu có thiên tài đến mấy, cũng chưa chắc đã viết nên áng quỷ ca trác tuyệt này? để mỗi khi đọc lên, là có thể làm át đi mọi thứ tụng ca đang được những kẻ dối trá rêu rao trên đời. Và, sở dĩ gọi áng văn chương bất hủ này là quỷ ca, bởi người viết muốn phân biệt với những thứ tụng ca nhan nhản đó. Hãy loại bỏ hết những u mê nhồi sọ đi, rồi sẽ thấy Văn chiêu hồn chính là một áng nhân sinh ca bất hủ. Nơi đây luôn sản sinh ra lắm anh hùng, và người ta hằng tự hào về điều đó. Vâng! lắm anh hùng, đơn giản vì đời nào cũng có nhiều kẻ cướp, đủ các loại kẻ cướp hoành hành. Vậy thì, hãy lột hết những mặt nạ, những tuyên ngôn giả dối ra, sẽ thấy ngay những kẻ cướp đó đời nọ nối đời kia, vì mưu cầu danh lợi cho riêng mình, đã không ngừng xô đẩy, không ngừng biến hàng nghìn, hàng vạn kiếp sinh linh cùng xứ sở thành những vong hồn. Thậm chí còn làm cho khối kẻ đang sống cũng bị biến thành một thứ cô hồn nơi trần thế. Từng bầy, từng bầy cô hồn âm dương lẫn lộn đang lê la, vất vưởng từ thành thị, chợ búa đến đồng nội, làng quê; từ núi cao, rừng thẳm đến biển cả, sông ngòi… Chưa hết. Bầy cô hồn ấy cứ tiếp tục được bổ sung thêm bằng đủ mọi tầng lớp, đủ mọi thế hệ. Đó chính là một điều bất hạnh khủng khiếp mới phải chứ? Và… con người có còn nên “tự hào” với cái nỗi bất hạnh ấy của xứ sở mình nữa hay không?

Cuối cùng, trước khi kết thúc, “Văn chiêu hồn” dành tất cả tấm lòng bác ái, trân trọng, bao dung và thương cảm vô bờ bến của mình, biến thành những lời kinh, tụng cho mọi vong hồn được siêu thoát. Lời văn đầy âm hưởng từ bi, đều đều và êm ả, làm ấm lòng cả linh hồn người đang sống lẫn những người đã khuất:

“Nhờ phép Phật siêu sinh Tịnh độ
Phóng hào quang cứu khổ độ u.
Khắp trong tứ hải quần chu
Não phiền trút sạch oán thù rửa trong.

Nhờ đức Phật thần thông quảng đại
Chuyển Pháp luân tam giới thập phương
Nhơn nhơn Tiêu Diễn đại vương
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.

Nhờ phép Phật uy linh dõng mãnh
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao
Mười loài là những loài nào
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.

Kiếp phù sinh như hình bào ảnh
Có câu rằng: “Vạn cảnh giai không”
Ai ai lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo
Của có chi bát cháo nén nhang
Gọi là manh áo thoi vàng
Giúp cho làm của ăn đàng thăng thiên.

Ai tới đó dưới trên ngồi lại
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu
Phép thiêng biến ít ra nhiều
Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.

Phật hữu tình từ bi phổ độ
Chớ ngại rằng có có chăng chăng
Nam mô Phật Nam mô Pháp Nam mô Tăng
Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.”

Kính tụng:
Thượng hạ Đông, Tây, Nam, Bắc!
Thượng hạ mồ ma, gò, đống…!
Kẻ hậu sinh Cẩn tế!

Rằm tháng bảy năm Bính Tuất (2006)

(*) Ghi chú: Sau khi bài viết này được công bố trên website Talawas, tác giả Thái Kim Lan căn cứ vào bản của học giả Hoàng Xuân Hãn, đã góp ý để đính chính cho đoạn này như sau:

Theo bản “Văn tế thập loại chúng sinh” do Hoàng Xuân Hãn [1] hiệu đính mà tôi đang có, câu thơ dẫn từ bản chữ in mà Phạm Lưu Vũ đưa ra:

Ðường bạch dương bóng chiều man mác 
Dặm đường lê lác đác sương sa

khác một chữ và một gạch ngang, do đó nghĩa cũng khác đi, thay vì “Dặm đường lê” là “Ngọn đường-lê” và thay vì „sương sa“ là „mưa sa“. Bản Hoàng Xuân Hãn viết như sau

Ðường bạch-dương bóng chiều man-mác 
Ngọn đường-lê lác đác mưa sa.

Ghi chú của Hoàng Xuân Hãn: “Bạch-dương: peuplier… Ðường-lê: cây táo dại. Ðây tả cảnh chung quanh đàn”. “Ðàn” ở đây là đàn chẩn tế, các bàn thờ cúng vong linh.

Nếu thế thì sự lặp lại hai chữ “đường” không phải là nhầm lẫn của tác giả “Văn tế thập loại chúng sinh”, và ý nghĩa của câu thơ cũng khác đi.

tiếc thương

Về lỗi “phá cách” theo luật song thất lục bát có thể có của Nguyễn Du mà Phạm Lưu Vũ đặt nghi vấn, cũng được giải quyết nếu ta biết – dựa vào tài liệu Hoàng Xuân Hãn nói trên – theo luật song thất lục bát, chữ cuối của câu tám không chỉ phải vần với chữ thứ năm, mà có thể hiệp vận với chữ thứ ba trong câu thất tiếp theo (hoặc là ba hoặc là năm, phần nhiều là năm, đôi khi cả hai).

Ta hãy đọc lại các câu thơ (Hoàng Xuân hãn gọi là “vế”).

Theo bản dẫn của Phạm Lưu Vũ:

Não người thay buổi chiều thu 
Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng

Ðường bạch dương bóng chiều man mác 
Dặm đường lê lác đác sương sa 
Lòng nào lòng chẳng xót xa 
Cõi dương còn thế huống là cõi âm

Bản Hoàng Xuân Hãn hiệu đính:

Não người thay bấy chiều thu 
Ngàn lau khảm bạc, giếng khô rụng vàng,

Ðường bạch-dương bóng chiều man mác 
Ngọn đường-lê lác đác mưa sa 
Lòng nào lòng chẳng xót xa 
Cõi dương còn thế, nữa là cõi âm

Bỏ qua một số từ ngữ khác nhau trong hai bản, để ý đến cách hiệp vận, ta thấy chữ “vàng” của câu tám trước vận với chữ “dương”, chữ thứ ba của câu thất thuận hơn thay vì hiệp với chữ “chiều”. Như thế Nguyễn Du đã không “phá cách” như Phạm Lưu Vũ đã nghi ngờ.

Và trường hợp hiệp vận với chữ thứ ba này không chỉ xảy ra một lần trong VTTLCS mà cả thảy 5 lần:

Xin đơn cử những trường hợp khác:

Còn chi ai khá ai hèn 
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu

Tiết đầu thu, dựng đàn giải thoát 
Nước tĩnh-bình rưới hắt dương-chi 

Nói chi đang thuở thị-hùng 
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau

Bỗng phút đâu tro bay ngói giỡ 
Khôn đem mình làm đứa thất phu

Nào những kẻ màn lan trướng huệ 
Những cậy mình cung quế Hằng-nga 
Một phen thay đổi sơn hà 
Tấm thân mảnh lá biết là làm sao

Lên lầu cao, xuống dòng nước chảy 
Phận đã đành trâm gãy bình rơi 

Phép thiêng biến ít ra nhiều 
Trên nhờ Tôn-giả chia đều chúng-sinh

Phật hữu-tình từ-bi cứu độ 
Chớ ngại rằng có có chăng chăng 
Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng 
Nam mô nhất-thiết siêu-thăng thượng đài 
(bản Hoàng Xuân Hãn)

Xét như thế thì Nguyễn Du quả “là bậc thầy về niêm luật, văn phong” như Phạm Lưu Vũ đã nhận xét.

Sự hiệp vận với chữ thứ ba trong câu thất lại có tác dụng đột biến “quỉ khốc thần sầu” trong “Văn chiêu hồn”, nâng vòng xoáy của câu thơ như những lời mật chú lên đến cao độ, đưa người đọc hoá hồn nhập cốt, để siêu thăng giải thoát.

Phạm Lưu Vũ

 

________________________________________
[1]Hoàng Xuân Hãn, “Lễ Vu lan với Văn tế Cô hồn”, viết vào tiết Trung nguyên năm Bính Thìn, Phật lịch 2520, Paris tháng bảy năm 1976. Tạp chí Văn học (số 2) in năm Ðinh mão 1977 tại Hà Nội, Hội Phật tử Trúc Lâm phóng ảnh năm Tân mùi 1991, bổ túc tại Paris, tháng 10 năm Quí dậu, 1994 đề An Tiêm tái bản năm Giáp Tuất 1995 tại Paris.

Tác giả xin trân trọng cảm ơn học giả Thái Kim Lan, và xin phép được dẫn nguyên văn ý kiến đó vào đây – PLV.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s