Nghĩ khác về chiếc đũa-Nguyễn Thị Hậu

tạp bút

logo thi ca1

NGHĨ KHÁC VỀ CHIẾC ĐŨA

nguyenthihau_65594118834

Nguyễn thị Hậu

dua_tre1

Hình như “tư duy bó đũa” chỉ có ở người Việt trong số những dân tộc dùng đũa để ăn?

Từ nhỏ đã được học một bài học qua hình tượng bó đũa: người cha gọi các con đến và đưa ra một bó đũa, nói các con bẻ thử xem. Không ai bẻ được. Người cha bèn bẻ từng chiếc, tất nhiên những chiếc đũa lần lượt gãy hết. Bài học: các con phải đoàn kết.

Nhưng, đũa chỉ thành “bó” khi có người bó buộc chúng lại. Còn chúng vốn là những chiếc rời rạc, khi cần người ta chỉ sử dụng hai chiếc thành “đôi đũa” để và cơm gắp thức ăn, thỉnh thoảng gặp đôi đũa vênh thì bực hơn lấy phải cô vợ dại (“vợ dại không hại bằng đũa vênh”, dân gian nói thế). Đũa cả (để xới cơm) hay đũa bếp (để nấu thức ăn) thì to hơn dài hơn đấy, nhưng cũng chẳng ai sử dụng cả bó. Túm lại, khi thành từng bó thì đũa chả làm được gì ngoài việc làm cái ẩn dụ nói trên; còn khi có tác dụng thật thì chúng chỉ là từng đôi, kết hợp chiếc này với chiếc khác đều được, miễn là (tương đối) bằng nhau. Mà cũng có thể dùng từng chiếc xiên xỏ cũng đưa được miếng ăn lên miệng.

Lại có câu chuyện liên quan đến đũa là Cây tre trăm đốt: bị lừa đi tìm cây tre có trăm đốt làm đũa cho đám cưới, anh nông dân phải nhờ Bụt ban cho câu thần chúkhắc nhập khắc xuất mới lấy được con gái phú ông. Hẳn 100 đốt tre làm đũa cho cả làng dùng trong đám cưới, xong rồi cả nhà anh nông dân dùng hết đời cũng không hết. Chắc vậy nên sau đó không thấy có chuyện cổ nào có nói đến chiếc đũa nữa.

Ở phương Tây người ta không dùng đũa để ăn nhưng các bà Tiên (hay phù thủy) lại thường cầm đũa thần nhưng cũng chỉ một chiếc, không thấy tiên nào cầm cả đôi đũa thần. Chắc sợ lúc vung lên mỗi chiếc lại ra một phép thần khác nhau thì hỏng hết mọi việc.

Lớn lên lại có bài học về so bó đũa chọn cột cờ. Ý là khó chọn lựa lắm, thôi thì trong cái đám sàn sàn như nhau ấy chiếc nào nhỉnh hơn tí thì được chọn. Thoắt cái đổi đời từ đũa thành cột mà lại làm hẳn “cột cờ” cơ đấy! Thế mới biết cái sự “được chọn” ấy nó mong manh nhưng mang lại may mắn thế nào cho chiếc đũa chỉ dài hơn cả bó một tẹo. Bình thường chắc chiếc đũa ấy không được việc gì vì chả thành đôi với chiếc nào khác để mà sử dụng, bà nội trợ rửa chén bát gặp chiếc đũa như thế thì vứt bỏ ngay. Thế mà khi cần thì một chiếc đũa “không giống ai” cũng có thể trở thành “cột”.  Tất nhiên, khi chiếc đũa vào vai “cột cờ” thì mặc nhiên người ta cho rằng đám đông kia ai cũng như ai, tất cả “bằng đầu” như một bó đũa, và giá trị của “cột cờ” này thế nào là nằm ở ý đồ người chọn.

“Tư duy bó đũa” là một kiểu tư duy cào bằng, không coi trọng giá trị của từng cá nhân. Thử hình dung một xã hội mà mọi người như những chiếc đũa giống hệt nhau từ chất liệu đến màu sắc kích thước như được làm từ máy! Mà bây giờ còn phổ biến loại đũa dùng một lần xong thì vứt bỏ dù có nhẵn đẹp hay còn vướng cọng xơ tre, chẳng có giá trị gì lâu bền. Kể cả đũa ngà đũa bạc mà vua chúa thường dùng chỉ quý vì là đồ dùng của bậc vua chúa chứ không phải vì giá trị “làm đũa” của nó.

Vậy, đừng tự hào là danh giá nếu được chọn làm “cột cờ”, bởi vì bản chất vẫn là chiếc đũa, ngồi vào vị trí cao quá khả năng thì chỉ làm vị trí ấy tầm thường đi mà thôi.

 “Tư duy bó đũa” còn là sự đánh lừa chính mình. Làm gì có sức mạnh của cả bó đũa! Dù có đứng chung trong một ống đũa hay được buộc thành một bó thì đũa vẫn chỉ là những chiếc đơn lẻ dễ dàng bị tách khỏi cả bó. Một người thần kinh bình thường chẳng ai cầm cả bó đũa mà bẻ. Họ sẽ bẻ từng chiếc, lần lượt từng chiếc đến hết cả bó, vì tất cả những chiếc đũa không thể tự dính chặt vào nhau! Hoặc, điều này nguy hiểm hơn, họ quăng cả bó vào đống lửa, và do rời rạc nhỏ bé nên cả “bó đũa” sẽ bùng cháy nhanh chóng!

Đũa thì cứ là đũa, đừng cố gắng đua chen làm cột. Nhưng hãy thật cứng cỏi để không ai có thể dễ dàng bẻ gãy dù chỉ là một chiếc đũa. Mỗi chiếc đũa cứng cỏi sẽ tạo nên sức mạnh của cả “bó đũa” chứ không phải là ngược lại.

Sài Gòn 5.5.2016

HẠN MẶN MIỀN TÂY VÀ NGUY CƠ BẤT ỔN

Nguyễn Thị Hậu

c9d9257b9506367f5fec73208059bafe

Cơn hạn hán kéo dài suốt nhiều tháng qua chưa biết đến bao giờ mới chấm dứt, cũng là khoảng thời gian nước mặn xâm nhập rất sâu vào đồng bằng sông Cửu Long. Miền Tây oằn mình chịu thiên tai. Hồi đầu tháng tư có được 1,2 cơn mưa cục bộ lượng mưa không đáng kể làm báo chí ào lên “miền Tây có mưa”. Nhưng rồi tiếp đó là đại dịch cá chết ven biển các tỉnh miền Trung…  Truyền thông lại tập trung vào vấn nạn về ô nhiễm môi trường và nguyên nhân cá chết.

Cả tháng tư rồi qua tháng năm miền Tây vẫn đang chịu đựng thiên tai như những gọng kềm: từ trên trời nắng xuống, từ dưới đất phèn lên, từ thượng nguồn Mêkông nước không về và từ biển nước mặn lấn vào sâu! Đất khô nứt nẻ không thể trồng trọt, đầm tôm mặn quá giới hạn làm chết tôm và các loại thủy sản, rừng lúc nào cũng trong nguy cơ hỏa hoạn cao, kênh rạch cũng cạn kiệt, người không đủ nước sinh hoạt… Miền Tây đã nghèo lại càng nghèo, lại dấy lên làn sóng người bỏ quê đi tìm kế sinh nhai.

Từ  hàng chục năm nay miền Tây không chỉ là vựa lúa cung cấp lượng lúa gạo xuất khẩu lớn nhất nước ta, mà còn là một trong những nơi cung cấp nguồn nhân lực cho miền Đông Nam bộ – vùng có tốc độ công nghiệp hóa – đô thị hóa cao nhất nước. Sự dịch chuyển nguồn lao động từ vùng nông thôn, nông nghiệp sang địa bàn đô thị, công nghiệp là một hiện tượng bình thường trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

Nhưng  chỉ là bình thường khi nó phản ánh đúng quy luật: cùng với sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất thì vùng nông nghiệp phải được cơ giới hóa  phát triển kỹ thuật thủy lợi, giống cây trồng, kỹ thuật nông nghiệp và những ngành công nghiệp phụ trợ như chế biến nông sản… Khi nông nghiệp được “công nghiệp hóa” thì nông thôn và vùng công nghiệp – đô thị hóa không có sự chênh lệch quá xa về mức sống, về chất lượng sống, người dân có trình độ văn hóa được nâng cao mới là nguồn nhân lực “bền vững” để bổ sung cho các khu công nghiệp, lúc đó di cư lao động trở thành một tiêu chí phản ánh sự phát triển của kinh tế – xã hội cả ở nông thôn và đô thị.

Tuy nhiên sự dịch chuyển nhân lực ở miền Tây Nam bộ không nằm trong quy luật này mà chủ yếu do tác động của các nguyên nhân kinh tế – xã hội. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng  chuyên canh lúa và xuất khẩu lúa gạo, tôm lớn nhất nhưng từ mấy chục năm nay luôn là vùng trũng về giáo dục và văn hóa – xã hội. Mức sống bình quân thấp, trình độ học vấn cũng thấp, nhiều bất ổn trong môi trường văn hóa – xã hội … Sự đầu tư trở lại của nhà nước về cơ sở hạ tầng cầu đường, đầu tư giáo dục , y tế, văn hóa… cho toàn vùng chưa tương xứng với những gì nơi đây đã đóng góp cho cả nước. Vùng sâu vùng xa, vùng chịu ảnh hưởng của “mùa nước nổi” luôn nghèo đói quanh năm. Người dân miền Tây vốn năng động và rất chịu khó trong làm ăn, khi bỏ quê ra đi là họ đang phải “tự cứu mình” khi không còn cách nào khác.

Từ nhiều năm nay tồn tại thực trạng là nhiều nơi nông dân bị mất đất, hay còn đất nhưng không đủ nguồn lực kinh tế và kiến thức để làm nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu hoặc thay đổi phương thức canh tác mới… cũng là nguyên nhân làm cho nông dân miền Tây phải ly hương. Sự dịch chuyển lao động của nguồn nhân lực chất lượng thấp và tâm lý lối sống không “an cư”  đến đô thị và các khu công nghiệp sẽ tác động làm cho chất lượng sống những khu vực này không ổn định. Bất ổn từ nông thôn – nông nghiệp  là nguy cơ tiềm ẩn dẫn đến sự bất ổn ở đô thị và các khu công nghiệp. Thiên tai hạn mặn năm nay  ở đồng bằng sông Cửu Long là tiếng chuông  một lần nữa  cảnh báo về nguy cơ này!

Nhìn lại lịch sử khai thác đồng bằng sông Cửu Long từ khi lưu dân người Việt vào khẩn hoang lập ấp, đến thời kỳ triều Nguyễn đẩy mạnh di dân, thời Pháp thuộc lập đồn điền tích tụ ruộng đất… Chúng ta đều thấy một đặc điểm là toàn vùng chưa bao giờ chỉ độc canh cây lúa dù trồng lúa là kinh tế chính. Dân cư chọn phương thức sống thích ứng với những “tiểu vùng” sinh thái ở đây: miệt ruộng (tứ giác Long Xuyên), miệt bưng biền (Đồng Tháp Mười), miệt U Minh (rừng ngập mặn, Cà Mau) và miệt vườn (hạ lưu sông Tiền). Nam bộ có hai mùa mưa nắng, lượng nước ngọt cho trồng trọt và sinh hoạt chủ yếu từ nước mưa và từ sông Cửu Long, trước đây khi diện tích trồng lúa có hạn thì lượng nước ngọt đủ cung cấp cho những cánh đồng trồng lúa, phần khác cho miệt vườn cây ăn trái. Nay dân số và diện tích trồng lúa đều tăng nhiều lần, mùa vụ cũng tăng trong điều kiện nguồn nước đang cạn kiệt, nước mặn xâm lấn, vì vậy phương thức trồng trọt “độc canh cây lúa” và chỉ nhằm mục đích tăng sản lượng để xuất khẩu cần phải xem xét lại.

Thích ứng với tự nhiên và chuyển đổi hướng canh tác như việc vùng bưng biền hay miệt rừng thì bảo vệ và tăng cường nguồn lực tự nhiên, kết hợp nuôi trồng thủy hải sản dựa vào nước lợ, nước mặn hay trồng loại cây thích hợp đất phèn… cùng với công nghiệp chế biến để tránh tình trạng phụ thuộc vào việc bán nguyên liệu, sản phẩm thô, đảm bảo quá trình sản xuất khép kín để xuất khẩu thành phẩm cuối cùng. Việc chuyển đổi này cùng sự hình thành hệ thống nhà máy chế biến nông sản chính là “công nghiệp hóa” phù hợp với đặc điểm của một vùng nông nghiệp truyền thống, trong điều kiện tự nhiên và xã hội đã có sự thay đổi lớn. Nếu chỉ coi đồng bằng sông Cửu Long là vùng để khai thác như hàng trăm năm nay mà không đầu tư trở lại một cách xứng đáng thì nguồn lực nào rồi cũng cạn kiệt, cả tài nguyên lẫn sức lao động và sức chịu đựng của con người.

Ngoài ra cũng cần lưu ý đến yếu tố biển của miền Tây Nam bộ. Kinh tế biển bao gồm đánh bắt thủy hải sản và thương nghiệp đường biển cũng là một trong những truyền thống lịch sử – văn hóa của vùng này.

Sài Gòn 11.5.2016

 

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.