Giáo sư Mỹ gốc Tàu :Căng thẳng Biển Đông là do “giấc mộng Đại Hán “

Giáo sư Mỹ: Nguồn gốc mọi căng thẳng ở Biển Đông

là tư tưởng Đại Hán

HỒNG THỦY

(GDVN) – Văn hóa chiến lược Trung Quốc ngày nay, trong đó coi trọng các thủ đoạn ngắn hạn và lừa dối, không dựa trên chiến lược tin cậy và tình bạn lâu dài.

Giáo sư Miles Maochun Yu, một học giả chuyên nghiên cứu về quân sự, hải quân khu vực Đông Á thuộc Học viện Hải quân Hoa Kỳ (USNA) ngày 9/5 bình luận trên webiste của Viện Hoover, chiến lược của Bắc Kinh trên Biển Đông được định hình bởi lịch sử và tư tưởng quân sự thời kỳ Chiến Quốc.

Trong khi xung đột vũ trang vẫn diễn ra ác liệt ở Syria, Iraq và các điểm nóng khác thì một nguy cơ xung đột lớn đang nung nấu ở Biển Đông liên quan đến các cường quốc hàng đầu thế giới, là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và thậm chí cả Nga.

Giáo sư Miles Maochun Yu, ảnh: Booktv.org.

Trung tâm của xung đột này là yêu sách lãnh thổ hàng hải ngông cuồng của Trung Quốc với gần như toàn bộ Biển Đông, gây phương hại đến hầu hết các nước trong khu vực, gây khó chịu cho các bên liên quan chủ chốt, ngăn chặn và cản trở tuyến hàng hải huyết mạch quốc tế chạy qua vùng biển này.

Tuy nhiên theo Giáo sư Miles Maochun Yu, hành động của Trung Quốc trên Biển Đông không nên được nhìn nhận một cách đơn giản. Những diễn biến ở Biển Đông tuân theo một logic của lịch sử Trung Quốc và bắt rễ sâu từ văn hóa chiến lược hàng ngàn năm của quốc gia này.

Tư tưởng Đại Hán, Thiên tử – con Giời

Không giống như phần còn lại của thế giới, Trung Quốc chưa bao giờ sẵn sàng chấp nhận sự bình đẳng giữa các quốc gia lớn và nhỏ. Văn hóa Trung Quốc hàng ngàn năm tự xem nước này là trung tâm của thiên hạ, trọng tâm của thế giới với “trách nhiệm đạo đức” cai trị tất cả thiên hạ bằng bộ máy họ cho là có “văn hóa cao cấp và tinh tế”.

Triết lý chính trị này được minh hoạ một cách toàn diện trong tuyên ngôn của một nhà văn – Đại tá quân đội Trung Quốc phát biểu năm 2010: “Giấc mộng Trung Hoa”.

Lưu Minh Phúc, một Đại tá quân đội Trung Quốc viết trong cuốn sách 300 trang bán rất chạy ở nước này: “Chưa bao giờ có một quốc gia trỗi dậy hòa bình như vậy trên thế giới. Trung Quốc sở hữu một gen văn hóa cao cấp cần thiết để trở thành nhà lãnh đạo toàn cầu”.

Không biết do vô tình hay hữu ý, tư tưởng chính trị tổng thể của nhà lãnh đạo tối cao Trung Quốc đương nhiệm Tập Cận Bình cũng được gọi là “giấc mộng Trung Hoa”, trùng lặp với thông điệp trong cuốn sách của Lưu Minh Phúc.

Trong thực tế, kể từ khi xảy ra Chiến tranh Thuốc phiện năm 1840, Trung Quốc có một cảm giác không thể lay chuyển, họ là nạn nhân của sự sỉ nhục. Trong nhiều thập kỷ, chính phủ Trung Quốc ra sức tuyên truyền về “thế kỷ bị sỉ nhục” dưới bàn tay của đế quốc phương Tây.

Trung Quốc tuyên truyền sự oán giận ghê gớm vì “thiên triều” đã bị bắt nạt bởi các nước nhỏ, “kém Trung Quốc về mặt đạo đức hoặc không có một nền tảng văn hóa tinh tế, trí tuệ rực rỡ” như Trung Hoa.

Trên Biển Đông, hành vi hung hăng của Trung Quốc và yêu sách hàng hải bành trướng có thể được sử dụng để “đun sôi” bức xúc cho dư luận nước này với lập luận rằng, Trung Quốc là một nước lớn, là trung tâm thiên hạ lại không được các nước nhỏ quanh Biển Đông tôn trọng, đặc biệt là Việt Nam và Philippines.

Không khó để tìm ra phát biểu của các quan chức cấp cao Trung Quốc thể hiện tư tưởng Đại Hán và “nước nhỏ không nên chống lại nước lớn.”

Lưu Hoa Thanh, cựu Tư lệnh Hải quân Trung Quốc (người chỉ huy xâm lược Hoàng Sa năm 1974 – PV) trong những năm 1990 nhiều lần nói với các đối tác Hoa Kỳ, vấn đề là không phải Trung Quốc – một nước lớn bắt nạt các nước nhỏ, mà ngược lại là các nước nhỏ đang bắt nạt nước lớn Trung Quốc.

Truyền thông Trung Quốc đã nhiều lần chứng minh sự hiếu chiến với những kêu gọi, đe dọa “trừng phạt” các nước láng giềng, hay “dạy cho các nước nhỏ một bài học” để buộc các nước này “quy thuận” Trung Hoa.

Ông Dương Khiết Trì từng tuyên bố, Trung Quốc là nước lớn, các nước trong khu vực là nước nhỏ, đó là sự thật. Ảnh: Defense.pk.

Điển hình là phát biểu của ông Dương Khiết Trì trên cương vị Ngoại trưởng Trung Quốc tại Singapore năm 2010: “Trung Quốc là một nước lớn, các nước khác là nước nhỏ, đó là một thực tế”.

Kế nhiệm ông, Ngoại trưởng Vương Nghị tháng 3/2014 phát biểu, Trung Quốc đang là “nạn nhân của các nước nhỏ” trong khu vực Biển Đông?! “Chúng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận những đòi hỏi vô lý của các nước nhỏ”, ông Nghị nói.

Từ tháng 3/2013, ông Tập Cận Bình đã phê duyệt chính sách đối ngoại cốt lõi của Trung Quốc là “ngoại giao nước lớn”.

Bắc Kinh xây dựng đế chế bằng “thuyết phục và cưỡng chế”

Liên quan chặt chẽ đến tư tưởng Đại Hán chính là cách tiếp cận, chinh phục các nước bằng “thuyết phục đạo đức, thừa nhận uy quyền tối cao của Trung Quốc, một phần của nền văn hóa “Thiên tử – chư hầu”.

Theo tư tưởng này, Trung Quốc sẽ sử dụng đến sức mạnh lỗ mãng nếu các nước nhỏ không chấp nhận vai trò Thiên tử – con Giời của Trung Quốc, từ chối khấu đầu trước Trung Quốc, (nước tự vỗ ngực cho rằng mình) hào hùng và nhân từ!

Nếu các nước nhỏ chống lại tư tưởng này của Trung Quốc cũng như vai trò bá chủ của họ, Trung Quốc sẽ cảm thấy họ bị “bắt nạt”. Do đó Trung Quốc luôn có xu hướng suy nghĩ họ là nạn nhân của việc không được các nước nhỏ tôn trọng, bởi vậy các nước này đáng bị trừng phạt.

Đó là lý do Trung Quốc sử dụng vũ lực để khuất phục láng giềng mà họ cho rằng đã không tôn trọng Trung Quốc.

Bởi vậy, trên quan điểm của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đương nhiệm, các hành vi leo thang quân sự hóa Biển Đông như bồi đắp đảo nhân tạo, xây đường băng quân sự, kéo tên lửa, máy bay, tàu chiến ra khu vực (Trung Quốc nhảy vào) tranh chấp là hoạt động phòng thủ, nhằm tái lập trật tự khu vực và thế giới với vai trò Trung Quốc là trung tâm.

Tuy nhiên chủ nghĩa (tự coi mình là) Thiên tử – con Giời không chỉ dừng lại ở khái niệm, phương pháp tiếp cận vấn đề và tâm lý lạc hậu của các nhà lãnh đạo Trung Quốc, mà nó còn được thể hiện thông qua ý thức mạnh mẽ của chủ nghĩa hiện thực chiến lược.

Chính chủ nghĩa (tự coi mình là) Thiên tử – con Giời này đã thúc đẩy Trung Quốc cố tình kích thích sự phiêu lưu quân sự của mình và theo đuổi chính sách “bên miệng hố chiến tranh” như một con bài mặc cả trước các phiên đàm phán.

Mô hình này có thể thấy rõ trong các hành vi quân sự của Trung Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Việt Nam và dễ thấy nhất là cục diện khủng hoảng, rắc rối trên Biển Đông hiện nay.

Những gì Trung Quốc đang làm – leo thang quân sự hóa Biển Đông liên tục là để gây áp lực lên Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) sắp ra phán quyết vụ Philippines khởi kiện Trung Quốc (áp dụng sai, giải thích sai, vi phạm UNCLOSS) trên Biển Đông. Nhiều khả năng PCA ra phán quyết bất lợi cho Trung Quốc.

Trung Quốc là nạn nhân của chính họ

Trung Quốc là nạn nhân của “truyền thuyết chiến lược” do chính họ tạo ra. Cốt lõi của tư duy chiến lược Trung Quốc hiện nay được nảy sinh trong thời kỳ Chiến Quốc hơn 2000 năm trước. Đó là thời kỳ nhiều chiến lược gia xuất sắc xuất hiện với nhiều tác phẩm bàn về chiến tranh và chiến lược.

Ông Tập Cận Bình đang ra sức thúc đẩy thực hiện “giấc mộng Trung Hoa”, ảnh: Business Insider.

Kể từ đó, Trung Quốc ngày nay đã có chút đổi mới trong tư duy chiến lược quân sự và có thể coi là vượt trội hơn các luận thuyết quân sự, chiến lược phong phú thời Chiến Quốc.

Thời kỳ Chiến Quốc được biết đến với hàng loạt các cuộc chiến tranh liên miên không dứt giữa các nước nhỏ trong lòng Trung Quốc ngày nay để tranh đoạt uy quyền tối cao – Thiên tử, Chí tôn.

Đó là những cuộc tỉ thí, so tài của kẻ tám lạng, người nửa cân và không nước nào có thể đánh bại kể thù một cách dễ dàng. Từ đó họ hình thành nên các liên minh chính trị – quân sự để áp đảo đối thủ chính của mình.

Nhưng sau khi đánh bại được kẻ thù chung, các nước đồng minh cũ lại nhanh chóng quay ra cắn xé nhau và hình thành các liên minh mới.

Mô hình này dựa trên sự lừa dối và chủ nghĩa cơ hội, nhưng ở Trung Quốc lại hoàn toàn dược chấp nhận và người ta xem đó là điều bình thường, bởi binh bất yếm trá – việc quân sự thì không ngại dối trá. Tất cả chỉ là những cuộc đấu tranh giành quyền lực để tìm kiếm vị trí tối cao – Thiên tử, Chí tôn…

Không có nguyên tắc nào để có thể bị vi phạm, bởi nguyên tắc chỉ là một trong những cách khác nhau để đạt được mục tiêu ích kỷ của riêng mình.

Tuy nhiên, những liên minh chính trị – quân sự xây dựng trong thời Chiến Quốc lại để dấu ấn không thể phai nhòa trong văn hóa chiến lược Trung Quốc ngày nay, trong đó coi trọng các thủ đoạn ngắn hạn và lừa dối, không dựa trên chiến lược tin cậy và tình bạn lâu dài.

Bởi vậy có thể thấy sự thiếu tin tưởng giữa Trung Quốc với hầu hết các nước láng giềng, đặc biệt là một số thành viên ASEAN mà Trung Quốc (nhảy vào) tranh chấp lãnh thổ, hàng hải trên Biển Đông. Dù Trung Quốc có làm gì, nó cũng không thể hiện sự nhất quán và đáng tin cậy, tính toán của Bắc Kinh rất thất thường, vô lý và ngang ngược.

Ví dụ điển hình như trong quan hệ Trung Quốc – ASEAN, trong khi Trung Quốc chấp nhận một bộ quy tắc ứng xử trong ASEAN như điều bắt buộc với tất cả các nước thành viên, nhưng mặt khác Bắc Kinh lại bác bỏ bất kỳ tuyên bố tập thể nào của ASEAN liên quan đến Biển Đông. Ở đây có thể thấy văn hóa chiến lược của Trung Quốc được thể hiện một cách đầy đủ.

Một ví dụ khác nữa, Trung Quốc là thành viên Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), nhưng lại phủ nhận hoàn toàn các giải pháp trọng tài quốc tế, cơ quan tài phán quốc tế được quy định cụ thể trong UNCLOS.

Là thành viên UNCLOS, Trung Quốc từ chối tham gia vụ kiện của Philippines theo Phụ lục VII UNCLOS cũng như từ chối phán quyết của cơ quan tài phán được thành lập theo đúng quy định trong Phụ lục VII UNCLOS.

Làm như vậy, Trung Quốc chẳng thể tạo dựng được lòng tin và uy tín trong dư luận quốc tế. Một lần nữa, bóng ma văn hóa chiến lược Chiến Quốc đang ám ảnh và gây tổn hại nghiêm trọng hình ảnh của Trung Quốc.

Cuối cùng, Trung Quốc luôn lớn tiếng chống đối bất kỳ vai trò nào của Hoa Kỳ ở Biển Đông với lý do Mỹ là nước nằm ngoài khu vực, không có yêu sách và không phải bên liên quan trong tranh chấp ở Biển Đông. Bắc Kinh lý luận, châu Á là dành cho người châu Á. Nhưng thật trớ trêu, bản thân Trung Quốc lại đi tìm sự hỗ trợ và can thiệp của Nga vào Biển Đông.

Tóm lại Trung Quốc bất chấp thiện chí quốc tế và luật pháp quốc tế, chấp nhận để mất vai trò, uy tín và ảnh hưởng của mình chỉ để thỏa mãn tâm lý nước lớn – Thiên tử, đó là di chứng của “hội chứng Chiến Quốc” đã ăn sâu bám rễ vào tư duy chiến lược của giới lãnh đạo Trung Quốc ngày nay.

Hồng Thủy
PHỤ ĐÍNH

 THẢM HỌA DIỆT CHỦNG TỪ “ÂM MƯU ĐẠI HÁN “

Phạm Hồng Thúy

Từ lâu, Trung Quốc đã thực hiện cuôc diệt chủng đối với các dân tộc nhỏ để giành đất cho người Hán. Từ tháng 04.1975 tới cuối năm 1978, 3,5 triệu người Campuchia đã bị hành quyết bằng cách đập vỡ sọ thông qua bàn tay Khơ me đỏ. Từ đấy loài người đã biết đến chính sách diệt chủng của Trung Quốc ở Campuchia, nhưng ít người biết rằng Trung Quốc đã thực hiên chính sách này đối với tất cả các dân tộc không phải người Hán. Ở Việt Nam cuộc diệt chủng đang bước vào giai đoạn khốc liệt.

    Lá cờ Trung Quốc có 5 ngôi sao, ngôi lớn nhất thuộc về người Hán, 4 ngôi sao nhỏ giành cho các dân tộc Mãn, Hồi, Mông, Tạng, là 4 sắc tộc lớn nhất trong số hơn 100 sắc tộc không phải người Hán sống ở Trung Quốc. Chúng ta cùng nhau điểm lại, sau 67 năm dưới chế độ cộng sản, trong tổng số 1400 triệu người ở Trung Quốc còn lại bao nhiêu người Mãn, Hồi, Mông, Tạng?

  1. Người Mãn đã từng lập ra triều Mãn Thanh, cai trị nước Trung Hoa gần 3 thế kỷ (từ 1644 – 1912). Theo công bố của nhà nước Trung Quốc hiện nay còn 10,68 triệu người Mãn, nhưng thực tế con số thấp hơn nhiều, hầu như không còn ai nói tiếng Mãn hay có biểu hiện gì của sắc tộc này nữa.
  2. Chữ „Hồi“ dành cho 18 dân tộc ở Tân Cương, khu tự trị lớn nhất của Trung Quốc với diện tích 1,6 triệu km², dân số 21,8 triệu người, trong đó một nửa là người Hán. Duy Ngô Nhĩ là sắc dân chính tại đây chỉ còn lại 8,3 triệu người. (xem Tân Cương – Wikipedia)
  3. Nội Mông là khu tự trị dành cho người gốc Mông cổ, tùng lập ra triều đại Nguyên Mông cai trị nước Trung hoa hai thế kỷ 13 và 14, có diện tích 1,183 triệu km² và dân số 24,7 triệu người. Tuy nhiên người gốc Mông Cổ chỉ còn lại 3,6 triệu, chiếm 14,7% dân số toàn Khu tự trị (xem Nội Mông – Wikipedia).
  4. Người Tạng với nền văn hóa đồ sộ sống ở Khu tự trị Tây Tạng có diện tích 1,25 triệu km², nhưng dân số chỉ còn 3,18 triệu người, trong đó một phần đáng kể đã là người Hán (xem Tây Tạng – Wikipedia).

   Tại các khu tự trị, thành phần dân tộc chính lại là người Hán, hàng trăm triệu người Mãn, Hồi, Mông, Tạng đã bị hủy diệt bằng mọi cách!

   Ở Việt Nam, thảm họa mất nước đã đến, thảm họa diệt chủng đang đến nhưng nhiều người chưa nhận ra.

   Các thủ đoạn hủy diêt đã và đang diễn ra ở Việt Nam:

  1. Hủy diệt châu thổ sông Cửu Long, nguồn lương thực và thực phẩm chính của cả nước. Việc này chúng thực hiên bằng cách xây nhiều đập thủy điện ngăn sông Mê Kông gây hạn hán và ngập mặn trầm trọng, đất nhiều nơi đã bị lún sâu, đồng thời dùng rất nhiều thủ đoạn thâm độc như thả hóa chất độc, ốc bươu vàng, … nhằm phá hoại lúa, hoa màu và thủy sản trên toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long
  2. Đổ chất độc dọc bờ Biển Đông để hủy diệt các hải sản ở biển và các vùng nuôi hải sản ven biển, đầu độc toàn bộ nguồn muối ăn của người Việt, ngăn cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt xa bờ!
  3. Hủy diệt các sông trên toàn bộ miền Trung thông qua hàng trăm đập thủy điện, khai thác bâu xit, thương lái Trung Quốc bày trò mua chanh leo giá cao để dân phá cà phê, hồ tiêu; mua vét rong biển để triệt hạ vùng sinh thái của cá… sau đó không mua nữa vì đã phá xong.
  4. Xây nhiều đập phía thượng nguồn sông Hông và sông Đà, làm suy kiệt sông Hồng từ nhiều năm. Chuẩn bị đại dự án sông Hồng với 6 đập thủy điện mới, hủy diệt hoàn toàn hệ sinh thái châu thổ sông Hồng.
  5. Xây dưng rất nhiều nhà máy nhiệt điên, xi măng, sắt thép và hóa chất… để đầu đôc khí quyển và các nguồn nước. Trong khí thải các nhà máy ở Việt Nam dùng thiết bị Trung Quốc, hàm lượng các khí thải độc hại như CO, SO2, H2S, Hg … đều cao hơn từ 19 lần tới 125 lần  hàm lượng cho phép. Chất thải đổ xuống nước đã làm chết rất nhiều sông ngòi như Thị Nại, La Ngà, Bưởi… và hàng ngàn km bờ biển.
  6. Tung thực phẩm và thuốc men độc hại cúng các hóa chất chế biến thực phẩm độc hại tràn ngập thị trường Việt Nam, đồng thời thương lái Trung Quốc mua vét các loại thực phẩm sạch để người Việt chỉ còn có thể tiêu thụ thực phẩm độc hại, chết dần vì bệnh tật. Hiện nay số người mắc bệnh ung thư, teo não, đột quỵ và nhiều bệnh hiểm nghèo khác đã tới mức cao nhất thế giới.

   Tất cả mới chỉ trong giai đoạn đầu. Sau khi sát nhập vào Trung Quốc năm 2020, dân tộc Việt Nam như cá nằm trên thớt, cuộc diệt chủng sẽ thảm khốc hơn nhiều. Những gì sẽ xẩy ra sau 4 năm tới đây? Sau 20 năm nữa con số 90 triệu người Việt liệu có còn tới 10 triệu như người Mãn hay tới 3 triệu như người Tạng không?

    Thảm họa diệt chủng đã hiện ra trước mắt, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam khỏi thảm họa này, ngoài 90 triệu người Việt. Mỗi người cần nhìn thấy cái chết đang đến với chính mình và con cháu mình, hãy chuyển tải thông tin này tới tất cả mọi người, tới mọi tờ báo, mọi phương tiện thông tin để mọi người cùng biết, cùng nhau đứng lên chống thảm họa diệt chủng đã đến trước mắt, để cả thế giới cùng biết và lên tiếng bảo vệ chúng ta.

HÃY XIẾT CHẶT VÒNG TAY LỚN  –  DÂN TỘC VIỆT NAM NHẤT ĐỊNH THẮNG!

Phạm Hồng Thúy

Tàu ‘cấm đánh cá,’ ngư dân Việt sẽ tiếp tục bị tấn công

Monday, May 16, 2016 1:32:54 PM

VIỆT NAM (NV) Nhiều người tin như thế vì Trung Quốc khẳng định năm nay, sẽ thực thi lệnh cấm đánh cá ở Biển Ðông một cách nghiêm ngặt. Lệnh do Trung Quốc áp đặt vừa có hiệu lực vào ngày 16.

Trung Quốc đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh cá ở Biển Ðông từ năm 1999. Theo đó, hàng năm, tất cả các tàu đánh cá bị cấm hoạt động từ khoảng giữa tháng 5 đến khoảng đầu tháng 8.


Một tàu đánh cá của ngư dân Quảng Ngãi bị tàu của Hải Cảnh Trung Quốc bắn cháy vào “mùa cấm đánh cá ở Biển Ðông” năm 2013. (Hình: An Ninh Thủ Ðô)

Ðiểm đáng nói là lệnh cấm đánh cá ở Biển Ðông có “hiệu lực thực thi” trên cả những vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam tại vịnh Bắc bộ, quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa. Trong đó có cả những vùng biển còn đang có tranh chấp về chủ quyền giữa Trung Quốc và một số quốc gia khác. Chẳng hạn bãi Scarborough mà Trung Quốc cưỡng đoạt từ tay Philippines hồi giữa năm 2012.

Bất chấp sự phản đối của nhiều quốc gia ven bờ Biển Ðông, đặc biệt là Việt Nam, Trung Quốc thường xuyên lặp đi lặp lại rằng, các “lệnh cấm đánh cá ở Biển Ðông” là nhằm tạo điều kiện cho nguồn cá hồi phục vì dù có trữ lượng cá thuộc loại dồi dào nhất thế giới, nguồn cá ở Biển Ðông vẫn suy giảm vì bị khai thác quá mức.

Ít ai tin Trung Quốc có thiện chí trong việc bảo vệ tài nguyên và môi trường. Người ta xem “lệnh cấm đánh cá ở Biển Ðông” là một trong những biện pháp mà Trung Quốc sử dụng nhằm khẳng định chủ quyền đối với 80% diện tích Biển Ðông.

Cáo buộc mới nhất liên quan đến việc Trung Quốc hủy hoại môi sinh, môi trường Biển Ðông là sự kiện cá quanh đảo Thị Tứ ở quần đảo Trường Sa đột nhiên chết trắng biển. Báo chí Philippines cho rằng, Trung Quốc đã dùng hóa chất để tiêu diệt cá, khiến ngư dân Philippines nản lòng, không bén mảng tới vùng biển vốn rất phong phú hải sản này nữa.

Trước đó, nhiều chuyên gia hải dương trên toàn thế giới từng cảnh báo cộng đồng quốc tế rằng, phải có biện pháp ngăn chặn Trung Quốc bồi đắp các bãi đá ở quần đảo Trường Sa thành đảo nhân tạo. Sự ngăn chặn này không phải do các yếu tố chính trị hay an ninh-quốc phòng mà vì Trung Quốc đã hủy diệt các rạn san hô, khiến chúng không thể hồi sinh và điều đó làm cạn kiệt một trong hững nguồn thực phẩm dồi dào của nhân loại.

Theo các chuyên gia hải dương thì những rạn san hô ở quần đảo Trường Sa là nơi cư trú của khoảng hơn 6,500 loài sinh vật biển, trong đó có 571 loài san hô. Hoạt động bồi đắp các bãi đá của Trung Quốc để thiết lập chuỗi đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa đã hủy diệt 30% san hô trong vùng biển này.

Nhiều chuyên gia hải dương nhấn mạnh, cộng đồng quốc tế phải ngăn chặn Trung Quốc hủy diệt Biển Ðông bằng các biện pháp giống như đã từng làm để bảo vệ các vùng biển ở Nam Cực.

Thậm chí ông Paul Berkman, một chuyên gia hải dương người Anh, nhấn mạnh, an ninh môi trường ở Biển Ðông phải là ưu tiên hàng đầu vì “cuộc khủng hoảng thực phẩm đang cận kề.” Ông Berkman đề nghị thành lập một tổ chức “hành động vì san hô” giống như những tổ chức “hành động vì rừng.”

Ðáng lưu ý là song song với việc chính quyền Trung Quốc hủy diệt môi sinh, môi trường vì yếu tố chính trị, ngư dân Trung Quốc đang tàn phá môi sinh, môi trường vì tiền. Ngư dân Trung Quốc nổi tiếng khắp thế giới vì đánh bắt vô tội vạ các loại hải sản, không chừa gì cho tương lai.

Ngoài việc xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế của nhiều quốc gia Ðông Nam Á để đánh bắt trái phép, ngư dân Trung Quốc còn xâm nhập nhiều vùng biển khác ở Châu Á, Châu Úc, Châu Mỹ, thậm chí Châu Phi để thả lưới. Cách nay vài tháng, các quốc gia ở châu Phi đã thông qua một tuyên bố, đòi Trung Quốc phải có biện pháp vì ngư dân Trung Quốc đã đổ đến, đánh bắt hơn hai triệu tấn cá ở vùng biển Tây Phi…

Năm nay nhằm giảm bớt chỉ trích về việc đơn phương áp đặt “lệnh cấm đánh cá ở Biển Ðông,” báo chí Trung Quốc loan báo, khoảng 8,000 tàu đánh cá của tỉnh Hải Nam đã bỏ Biển Ðông quay về các cảng để “làm gương.”

Tuy liên tục khẳng định “lệnh cấm đánh cá ở Biển Ðông” của Trung Quốc là “vô giá trị” nhưng chính quyền Việt Nam không có thêm bất kỳ động thái nào khác nên trong thời điểm mà Trung Quốc cấm đánh cá, các tàu đánh cá của Việt Nam thường xuyên bị săn đuổi, bắt giữ, thậm chí bị tịch thu, ngư dân thì bị đánh đập tàn tệ. (G.Ð)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.