Truyện “Người con Việt lai Pháp tìm cha vô danh”-Phạm Ngọc Lân(tiếp theo)

ĐỌC

truyenngan1

De Pere Inconnu

TÌM CHA VÔ DANH

phạm Ngọc Lân

Phạm Ngọc Lân

Phạm Ngọc Lân

9. Tản cư – 1946 (Chuyện kể của người cha dượng)

Cậu bắt đầu đặt câu hỏi tại sao cùng là người Việt với nhau mà không đoàn kết được để cùng đấu tranh giành độc lấp, mà ngược lại còn dùng đủ mọi thủ đoạn để hãm hại nhau chỉ vì cái nhãn hiệu quốc gia hay cộng sản ? Dần dần cậu xa lánh không khí ngột ngạt ở Hà Nội và về Hà Đông gần quê mình hơn. Một hôm cậu đi qua làng Vồi và ghé vào quán nước của một bà cụ ở ven chợ, có người con gái giúp bà bán hàng, và đứa cháu ngoại trạc hơn 2 tuổi quanh quẩn bên quán. Cô hàng tươi tắn mời khách, cháu bé xinh xẻo ngoan ngoãn, thấy rõ là lai Tây. Sau lần đầu đó, lâu lâu cậu trở lại quán và lân la làm quen với mợ con. Con cũng đoán đó chính là quán của bà ngoại con. Càng ngày cậu càng có thêm cảm tình với mợ con, và một hôm bà ngoại con kể chuyện của mợ con trong Sài Gòn như thế nào mà có con lai Pháp. Cậu cũng tâm sự về hoàn cảnh gia đình của cậu, đã có vợ ở quê do mẹ cưới, nhưng cậu dứt khoát không sống với người vợ đó vì không có gì hợp nhau cả. Càng ngày cậu càng thêm thân thiết với gia đình con, có thể nói tình yêu đến lúc nào không biết. Nhưng thời đó đâu có thổ lộ như bây giờ, vả lại mợ con vẫn còn mang vết thương lòng chưa lành hẳn, nên không nghĩ gì đến chuyện làm lại cuộc đời. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, chiến tranh bùng nổ, có lệnh tiêu thổ kháng chiến, người dân trong vùng Pháp kiểm soát phải tản cư đến các vùng Việt Minh kiểm soát, mang theo đồ đạc tối thiểu, những gì còn lại phải giấu kín hoặc tiêu hủy để địch không dùng được. Đối với những gia đình khá giả, đây là một quyết định đau lòng, còn đối với người nghèo thì dễ dàng ra đi chẳng có gì hối tiếc. Gia đình họ hàng xa gần của ông Phó cả thảy gần ba chục người lớn bé, kể cả trẻ con sẽ đi chung một đoàn, bà ngoại, mợ con và con cũng tháp tùng đi chung với đoàn người đó. Chỉ còn ông Phó và bà Phó già ở lại giữ nhà. Lúc đó cậu đã thương mợ con rồi, không muốn xa mợ nên xin phép bà cho đi cùng. Cảnh gia đình không có đàn ông trong lúc tản cư cũng có nhiều gian nan, nên bà ngoại con bằng lòng cho cậu đi theo. Thế là thu gọn vài cái quần áo, nồi niêu bát đũa cho vào một cái thúng, cái thúng kia để con ngồi, phía trên thúng khum chiếc chiếu dưới cái quang để che mưa nắng cho con. Và cứ thế, đoàn người đi bộ, mỗi gia đình gánh theo hai cái thúng đựng gạo và ít đồ dùng hay có em bé ngồi. Cậu cũng gánh giúp bà và mợ, nhưng vì không phải người nhà quê gánh quen hằng ngày nên không thể gánh lâu được. Mệt đã đành, nhưng lại còn bị toét cả vai, đau không chịu được. Nên cứ phải thuê người gánh từ làng này sang làng kia, người gánh thuê quay về làng người ta, mình lại thuê người làng mới tới gánh đi tiếp. Phải nói lúc đó tinh thần người dân rất cao, phong trào tản cư ở miền Bắc đâu đâu cũng có. Nhưng rồi mọi sự cũng không suôn sẻ như mình tưởng. Khi đến vùng Việt Minh, đoàn người phải qua một trạm kiểm soát. Họ cũng sợ có gián điệp trà trộn vào đám người tản cư nên phải làm trạm kiểm soát như thế. Tất cả đoàn người đều qua lọt hết, riêng đến mợ con thì gặp rắc rối. Họ quy cho mợ con là « Việt gian » vì họ thấy con lai Pháp. Thời đó bị quy là Việt gian là ghê lắm, có thể nguy hiểm đến tính mạng. Mợ con khóc lóc van xin, nhưng họ nhất định bắt giữ lại để điều tra. Họ bắt mợ leo lên một cái chòi cao, phải leo lên bằng cái thang, xong rồi họ rút thang đi. Họ nói chờ đến trưa có cấp trên dến sẽ tra hỏi cho ra nhẽ ! Họ xua tất cả đoàn phải đi trước, không được chờ mính. Thế là cả đoàn phải ra đi, riêng bà và cậu nhất định ở lại chờ, nhưng phải ra ngoài xa xa ngồi đợi dưới một gốc cây. Chưa khi nào cậu thấy thời gian đi chậm như vậy… Đến gần trưa, thấy có một người đứng tuổi ăn mặc kiểu bộ đội từ xa đến bước vào trong trạm kiểm soát. Người này trông có vẻ chững chạc hơn bọn trẻ kiểm soát sáng nay, chắc là bọn du kích địa phương. Rồi thấy họ bắc thang lên cái chòi cho mợ xuống, dắt vào trong trạm. Một lúc lâu sau một tên du kích bước ra, đến chỗ cậu ngồi, nói cậu vào trong nhà có việc. Khi vào thì không thấy mợ con đâu cả, chỉ thấy người mặc quần áo bộ đội ngồi sau cái bàn, hỏi cậu « Anh có phải là chồng của chị có đứa con lai không ? » Câu hỏi quá bất ngờ, có khi nào cậu lại nghĩ là họ sẽ hỏi vớ vẩn như thế. Nhưng có một sức mạnh thôi thúc cậu trả lời không đắn đo : « Phải rồi, tôi là chồng. » Dĩ nhiên là cậu nói dối, nhưng tại sao có thể nói dối dễ dàng, nói dối tự nhiên vậy ? Chắc hẳn là được thôi thúc bởi tình cảm cậu đã có mà chưa dám thổ lộ, cái ước muốn tự đáy lòng mà cậu không dám nói ra, thì bây giờ đây, có cái duyên nào đó đã xui khiến để cho người bộ đội ngồi trước mặt cậu nói ra thay cho cậu. Người đó gọi mợ từ một căn phòng phía sau ra, trả lại giấy tờ và nói « Chị đi với chồng con chị đi, tôi thấy chị không phải Việt gian. »

Con thử tưởng tượng nỗi vui mừng của tất cả, từ bà ngoại con đến mợ, đến cậu và cả con nữa. Chờ đợi mấy tiếng đồng hồ trong hồi hộp, không biết số phận mợ sẽ ra sao ! Mợ con kể là họ nhất định đổ cho mợ là Việt gian, do Tây gài vào vùng giải phóng để làm gián điệp. Mợ phải kể họ nghe câu chuyện của mợ, một câu chuyện phần thì có thật, phần thêm mắm thêm muối, và cũng có phần không thật tí nào. « Khi tôi sống ở Sài Gòn với gia đình cha mẹ, tôi đã có chồng người Pháp, và kết quả là đứa con lai đang ở ngoài kia với bà ngoại nó. Nhưng tôi đã sớm nhận ra được sai lầm của mình nên đã bỏ chồng Pháp trong Sài Gòn, trở về quê ngoại và nay tôi đã có chồng người Việt đang đợi tôi ngoài kia. » Mợ con kể là phải nói thế trong cơn nguy khốn, mong cậu thông cảm cho hoàn cảnh đó mà không chê cười. Nhưng khi mợ con thấy họ gọi cậu vào để đối chứng thì run quá, không biết hậu quả sẽ ra sao nếu cậu trả lời thật rằng cậu không phải là chồng ! Cậu nói đó là trời run rủi cho cậu nhận là chồng, vì thật ra đó cũng là ước muốn thầm kín của cậu từ bấy lâu nay ! Đó chính là cách cậu tỏ tình với mợ con, một cách tỏ tình chẳng giống ai cả, nhưng đó là hoàn cảnh chiến tranh, hoàn cảnh hiểm nguy đến tính mạng. Và cũng là thời buổi cách mạng, thời buổi không có cái gì bình thường cả… Nhưng con người vẫn phải sống, vẫn phải yêu… Qua giây phút vui mừng vì đã thoát hiểm, đến giây phút lo âu : đi đâu bây giờ ? Đoàn người tản cư gần ba mươi người già trẻ lớn bé đã đi từ lâu rồi, không sao bắt kịp được nữa. Lúc đó mới nghĩ ra cậu có ông chú ruột ở phủ Đoan Hùng trên Phú Thọ, cách hai ngày đường. Ông chú có cái đồn điền, ngày xưa cậu đã lên chơi trên đó rồi, chắc ông sẽ cho mình tá túc. Gọi là đồn điền nhưng không phải bao la bát ngát như những đồn điền trong Nam đâu, chỉ là mảnh đất rộng trồng cây ăn trái thôi. Thế là lại tiếp tục đi, rẽ về hướng Phú Thọ. Lếch tha lếch thếch, vừa đi vừa hỏi đường. Thật là một thời kỳ lạ lùng, một thời kỳ người ta dám bỏ nhà bỏ cửa ra đi khổ sở đến một nơi bất định, chỉ vì tự đáy lòng mọi người được thôi thúc phải đóng góp gì đó cho cuộc đấu tranh giành độc lập. Và khi lên tới đồn điền của ông chú, thì chẳng khác gì gặp được thiên đường sau mấy ngày lội bộ vừa mỏi mệt vừa lo lắng không biết có chuyện gì xảy ra nữa không, sau vụ mợ con suýt bị bắt. Ông chú và cả gia đình ông đều mừng rỡ vồn vã đón tiếp cậu và cả nhà. Ngày xưa thời còn trẻ cậu có lên chơi vài lần, ông chú thương cậu lắm, nên bây giờ cậu đến mang theo cả bà ngoại con, mợ con và con, cũng không thành vấn đề. Thời buổi ngày xưa khác bây giờ, vả lại trên vùng nhà quê người ta hiếu khách lắm, nhất là đang thời kỳ loạn ly. Hơn nữa, ông chú tương đối giàu có so với dân quê trong vùng, nhà cửa rộng rãi, có một cái nhà ngang cho cả gia đình mình ở. Gọi là giàu, nhưng con không thể so sánh với nhà giàu trong Nam bây giờ đâu, không phải « ngồi mát ăn bát vàng » đâu. Cả gia đình phải làm việc vất vả, dù có người giúp đỡ. Có điều ông có dư dả lúa gạo, ăn uống không phải lo bữa no bữa đói, thế đã là tốt lắm rồi. Ngày ấy dân chúng sống khổ lắm. Sau khi đã tươm tất chỗ ăn chỗ ở, cậu xin ông chú tác thành chồng vợ cho cậu và mợ con. Phong tục xứ mình muốn thành vợ chồng phải qua gia đình hai họ, mặc dù trong trường hợp của cậu và mợ con rất đặc biệt, không phải do gia đình mai mối. Cậu mồ côi cha từ nhỏ nên chú thay cha là chuyện bình thường, mợ con cũng mồ côi cha từ nhỏ nên mẹ thay cha cũng tạm được. Theo tập tục người ta vẫn chuộng một người đàn ông trong gia đình hơn là một người đàn bà, dù là mẹ ruột, nhưng hoàn cảnh gia đình mợ lúc đó thì không có ai khác được. Sau lần mợ con khai ở trạm kiểm soát rằng cậu là chồng để thoát nạn, cậu được thể thuyết phục mợ con lấy cậu. « Số phận đã an bài như thế rồi ! » Đó là lý lẽ cậu đưa ra. Mợ con cũng siêu lòng, nhưng đặt cho cậu nhiều điều kiện. Thứ nhất là mợ không muốn làm vợ lẽ, cũng không muốn làm dâu, cậu phải dứt khoát hẳn người vợ đầu thì mợ mới thuận lấy cậu. Điều này cũng không khó gì cho cậu vì từ trước đến giờ cậu vẫn có ý đó và xem như đã dứt khoát rồi, dù vợ trước của cậu vẫn sống với mẹ của cậu. Coi như cậu đã thoát ly gia đình đi sống cuộc đời phiêu bạt từ nhiều năm rồi. Thứ hai là mợ muốn để bà ngoại con sống với gia đình, vì bà ngoại không còn thân nhân nào khác nữa, ông Phó thì đã trở về nhà sống với bà Phó già. Điều này đối với cậu là hiển nhiên, vả lại cậu vẫn có nhiều cảm tình với bà. Thứ ba và cũng là quan trọng nhất, mợ muốn cậu phải xem con như con ruột, phải thương yêu con giống như những đứa con sau này của cậu. Điều này không cần nói ra cậu cũng đã nghĩ thế rồi. Thế là đám cưới được « tổ chức » tại đồn điền của ông chú. Có thể gọi là « đám cưới thời loạn » được, vì chẳng có rước dâu, chẳng có « xác pháo nhà ai tả tơi rơi đầy… » ! Đơn giản tối đa, nhưng cũng bày bàn thờ lễ gia tiên, và mời vài người hàng xóm thân thuộc đến chứng kiến và cùng ăn một bữa tiệc cưới đơn giản.

Đám cưới đơn sơ như thế, nhưng hai vợ chồng đã được hưởng thật sự hạnh phúc trong suốt mấy tháng sống ở đấy, ví như một « tuần trăng mật » kéo dài. Hai « vợ chồng mới » giúp ông chú bà thím trong công việc hằng ngày của đồn điền, ít nữa là những công việc không nặng nhọc quá, vì cả cậu cả mợ trước đó đều sống ở thành phố là chính, đâu có quen với công việc ở nhà quê. Lúc đó con lên 3 rồi, cậu mợ cũng rất mừng là con được sống trong hoàn cảnh thiên nhiên trong lành, con có chỗ tha hồ chạy nhảy trong vườn rộng. Lần đầu trong đời con được nhìn tận mắt con chuồn chuồn ban ngày và con đom đóm ban đêm. Trẻ con lớn lên ở đường phố tấp nập làm sao biết được mấy con vật dễ thương trong thiên nhiên này ! Sau này, bà ngoại và mợ còn nhắc mãi một mẩu chuyện về con lúc sống ở đồn điền đó. Một hôm đến lúc ăn trưa, không thấy con đâu cả. Gọi mãi cũng không thấy trả lời. Mọi người sợ quá chia nhau đi tìm trong vườn cây ăn trái, cuối cùng thấy con trốn sau nhà đang ngồi ăn quả mơ con hái trộm, vì mơ còn xanh chưa được hái. Mọi người không nhịn được cười, mặt con nhăn nhó vì quả mơ chua quá mà con vẫn cố ăn ! Nhưng cuộc đời đẹp đẽ có khi nào kéo dài mãi được đâu ! Chiến tranh dần dần lan rộng, và quân đội Pháp cũng tiến đến gần đồn điền của ông chú. Đã nhiều lần trên đường đi chợ, cậu mợ phải nằm rạp xuống hai bên vệ đường vì máy bay Tây sà xuống thị uy, có khi bắn cả tràng liên thanh. Cũng may cậu mợ không việc gì, và cũng chưa chứng kiến ai bị trúng đạn cả. Mấy tháng sau được lệnh của ủy ban kháng chiến địa phương phải tản cư lần nữa, vì quân đội Pháp đã gần kề. Phải tiếp tục tiêu thổ kháng chiến. Đối với ông chú thì quyết định này rất khó thực hiện, công lao suốt đời gây dựng lên được nhà cửa vườn tược nay phải tự tay mình tiêu hủy đi, khó lắm chứ ! Ông chú bảo gia đình cậu đi trước, rồi ông thu xếp nhà cửa sẽ đi sau… Nhưng ra đi lần đó là cậu giã biệt với ông chú. Mãi sau này mới được tin là ông đã bị Việt Minh giết vì bị kết án là Việt gian. Ông ở lại đồn điền và khi quân đội Pháp đến, họ đã đóng quân trong đồn điền của ông. Thời buổi đó, người dân sống trong vùng tranh tối tranh sáng thấy mạng sống của mình như chỉ mành treo chuông, không biết lúc nào lãnh viên đạn của Tây hay của Việt Minh. Nếu ông chú không bị giết lúc đó thì sau này cũng khó mà thoát khỏi cảnh bị đấu tố trong cải cách ruộng đất. Mỗi làng xã phải tìm ra vài địa chủ để làm dê tế thần, dù là của cải ruộng đất chưa đáng để liệt vào thành phần địa chủ. Phải có đấu tố, phải có xử tử, mới có thể in sâu vào đầu người dân thế nào là đấu tranh giai cấp, nền tảng của chủ nghĩa cộng sản rập khuôn theo kiểu Tàu. Thế là con lại được chui vào ngồi trong cái thúng với chiếc chiếu khum khum trên đầu che nắng che mưa. Cả gia đình lại lên đường, lần này với mảnh giấy giới thiệu của ủy ban kháng chiến Phú Thọ. Gia đình mình được chỉ định đến Phúc Yên. « Tuần trăng mật » của cậu mợ kéo đài được mấy tháng. Mấy tháng đẹp nhất trong cuộc sống vợ chồng thời loạn…

10. Hồi cư – « Dinh tê » – 1948 (Chuyện kể của người cha dượng)

 

Thế là cả gia đình lại lên đường chạy loạn, nhưng lần này khác với lẩn trước ở chỗ là cậu mợ đã là vợ chồng. Đến nơi, một thôn xóm nhỏ trong tỉnh Phúc Yên, toàn nhà tranh vách đất. Cả gia đình được ông trưởng thôn đón tiếp niềm nở và cho ở nhờ chung nhà với ông ấy. Ông có nhà tương đối rộng rãi khang trang hơn mấy nhà kia nên cho mình tá túc ở một trái nhà. Cậu có giấy giới thiệu của ủy ban kháng chiến ở Phú Thọ đến đây với một nhiệm vụ rõ rệt : dạy học. Gọi là dạy học nhưng thực ra là dạy « i tờ » trong chương trình « bình dân học vụ » để xóa nạn mù chữ. Tất cả người dân trong thôn này, không ai biết đọc biết viết cả. Cậu được gọi là « Anh Giáo ». Hồi đó chính quyền cách mạng đã hiểu được tầm quan trọng của việc biết đọc biết viết của từng người dân. Nếu không thì đất nước khó phát triển được. Họ đã phát động một chiến dịch rộng lớn xóa bỏ nạn mù chữ cho tất cả mọi người, nhất là ở nhà quê. Có cái may là chữ quốc ngữ rất dễ học, vì chỉ là chữ phiên âm từ tiếng nói mà ra, không như chữ Hán còn gọi là chữ Nho hay chữ « Thánh Hiền » rât khó học, chỉ dành cho một số ít người giỏi và có nhiều thì giờ mới học được. Ngày xưa nước mình cũng đã có chữ Nôm, nhưng chữ này còn khó hơn chữ Hán nữa, vì rắc rối hơn. Phải biết chữ Hán rồi mới học qua chữ Nôm, vì chữ Nôm dựa vào chữ Hán để dùng cho tiếng Việt 1 . Cậu dạy trẻ con ban ngày, và người lớn ban đêm. Ai cũng được khuyến khích đi học. Cậu được trả « lương » bằng gạo. Mợ con thì theo mấy người đàn bà con gái trong thôn đi « mò cua » ngoài ruộng lúa. Họ chỉ cho mợ cách bắt cua đồng, loại cua này màu nâu đen chỉ bé bằng hai ba ngón tay, sống trong hang dọc theo bở đê, cửa hang nằm dưới mặt nước. Phải thò tay xuống nước lần mò theo bờ đê, khi thấy có cửa hang thì thò ngón tay vào trong hang, tìm cách làm sao cho con cua kẹp ngón tay mình rồi rút thật nhanh lên là bắt được nó. Dĩ nhiên bị cua kẹp tay thì đau lắm, nhưng không đau thì không có mà ăn, đơn giản vậy thôi ! Nghĩ lại khổ thật ! Cua đồng là nguồn chất đạm cho người nghèo không có thịt cá mà ăn, hoặc có nhưng không đủ. Biết cách nấu riêu cua cũng ngon lắm. Phải giã con cua trong cối đá cho nhuyễn, rồi cho nước lã vào quấy lên, chắt nước cho vào nồi, làm như thế vài lần cuối cùng trong cối chỉ còn vỏ cua đem đổ đi. Khi nấu nước sôi lên thì các chất bổ béo của con cua nổi lên và kết lại thành một mảng trông mịn màng, rất ngon. Bây giờ người ta làm món bún riêu với nhiều gia vị, thời xưa ở nhà quê chỉ nấu cua với mấy loại rau hái trong vườn như rau đay, rau dền, rau rút, được bát canh thanh đạm, nhưng vừa ngon vừa bổ ! Con cũng muốn theo mợ con ra đồng chơi, nhưng mợ con sợ nên con phải ở nhà với cậu, khi cậu dạy học con ngồi trong góc học lóm. Con chưa được 4 tuổi mà con đã nhớ mặt chữ nhanh hơn mấy người nhà quê lớn tuổi, phải khổ sở học thuộc mặt chữ vì lớn tuổi rồi học đâu có dễ. Vì vậy mà ở bình dân học vụ, người ta nghĩ ra những câu lục bát cho người học dễ nhớ, kiểu như « i tờ có móc cả hai, i ngắn có chấm, tờ dài thêm ngang ». Và thời bấy giờ mấy lớp xóa nạn mù chữ này gọi là « lớp học i tờ ». Sau này còn có câu « i tờ rít » i để chỉ mấy người chỉ mới biết đọc biết viết qua các lớp này. Chỉ mấy tháng sau con đã đánh vần để đọc được chữ quốc ngữ, tuy con chỉ hiểu được nghĩa của ít chữ thông thường. Vì chữ quốc ngữ chỉ dựa vào âm thanh phát ra khi nói tiếng Việt, nên mặc dù không hiều nghĩa vẫn đọc được, nên rất dễ học theo cách đánh vần. Ngoài ra, con cũng có khiếu về hát, con rất thích hát, nên mợ dạy con hát thuộc lòng mấy bài của kháng chiến thời đó. Cậu mợ nhớ mãi cảnh mấy anh bộ đội đi qua thôn nghỉ chân, con hát cho họ nghe « Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường… » và « Bắc Sơn, nơi đó sa trường xưa, Bắc Sơn, đây núi rừng chiến khu… » 2 . Thật lạ lùng cảnh bộ đội vây quanh đứa bé con 4 tuổi, mặt trông ra Tây hơn Ta, vừa hát những bài chống Tây vừa nhịp chân chẳng thẹn thùng gì cả ! Ngày qua ngày, cuộc sống đơn sơ, vất vả, nhưng đối với cậu mợ là cuộc sống hạnh phúc, vì tình thương trong gia đình giữa bà cậu mợ và con, và tình cảm của người dân trong thôn xóm đối với mình.

Các « học trò » của cậu, ngoài gạo ra, cũng hay biếu « Anh Giáo » mớ rau, nải chuối, rổ khoai. Và trên hết, một tin vui đến với gia đình mình : mợ con có thai. Trong hoàn cảnh bình thường thì đó chỉ đơn giản là một tin mừng, nhưng trong hoàn cảnh tản cư thời đó thì vừa là một tin mừng, vừa là một mối lo. Và mối lo lớn nữa là đằng khác ! Con cũng biết là mợ con đã vào Sài Gòn sống từ năm 17 tuổi, đã được hưởng các tiện nghi của cuộc sống thị thành. Khi mợ con sinh ra con, mợ đến nhà bảo sinh, tuy không có bác sĩ nhưng cũng có bà mụ, nếu có gì bất trắc cũng có thể đưa vào nhà thương. Còn ở thôn xóm này, các bà mẹ phải sinh đẻ trong nhà mình, phải đi rước bà mụ tận ở làng xã nào đó xa lắm, có khi tự đỡ lấy nữa. Nhưng cái mà mợ sợ nhất là mợ không được sinh trong nhà mình ở trọ, mà phải ra bụi chuối mà đẻ. Sở dĩ như vậy vì có một niềm tin ăn sâu trong người dân, tóm tắt trong câu « sinh dữ tử lành » : nằm mơ thấy người chửa đẻ là điềm xấu, nằm mơ thấy người chết là điềm tốt, và rộng hơn nữa, có người lạ đến nhà mình chết là hên, còn người lạ đến nhà mình sinh đẻ là xui. Ở đây cậu không bàn đến chuyện dị đoan hay không dị đoan, chỉ biết là « nhập gia tùy tục », mình đến ở nhờ nhà người ta thì phải theo ý của chủ nhà, thế thôi. Thế là từ đó, bắt đầu gieo vào trong đầu mợ ý tưởng « hồi cư ». Sống hơn một năm trong vùng kháng chiến, những người bỏ nhà bỏ cửa đi tản cư như gia đình mình bắt đầu cảm thấy cuộc sống khó khăn và vô dụng. Chưa thấy dấu hiệu gì là kháng chiến sẽ thành công cả. Nên bắt đầu có những trường hợp bỏ vùng kháng chiến trở về quê cũ hoặc thành phố cũ, gọi là hồi cư hay là « dinh tê » ii . Mợ bàn với cậu xem có cách nào tìm về Hà Nội được không, mợ nhất quyết là không thể nào sinh đẻ ngoài bụi chuối, mà không biết có mời được bà mụ hay không nữa chứ ! Dĩ nhiên phải nói thầm với nhau thôi, hồi đó những người hồi cư bị Việt Minh xem là phản quốc, là Việt Gian 3 . Họ tuyên truyền rỉ tai là những người về lại vùng Tây kiểm soát, đàn bà con gái bị bắt làm đĩ điếm, đàn ông con trai bị bắt làm lao công vác đạn cho lính Tây. Nhưng mặc cho những lời tuyên truyền và đe dọa đó, càng ngày càng có thêm người bỏ vùng kháng chiến về thành phố. Phải nói là ngoài một số cán bộ trung kiên, phần lớn những người tản cư đều nghĩ rằng thời gian sống tạm bợ chỉ ngắn hạn thôi, bây giờ thời gian kéo dài họ không biết làm gì để sống. Thêm vào đó, những tin tức từ Hà Nội do những người đi buôn lén lút rỉ tai khác hẳn với những lời tuyên truyền của Việt Minh. Họ thì thầm rằng những người hồi cư về được chính quyền Pháp giúp đỡ tận tình để làm lại cuộc đời. Ngày qua ngày, bụng mợ lớn dần, và cậu mợ không còn dùng dằng được nữa, phải dứt khoát tìm đường hồi cư. Muốn vậy phải tìm hiểu thật kỹ đường đi nước bước, tìm hiểu đi vào lúc nào và đường nào để tránh trạm kiểm soát của Việt Minh. Và quan trọng không kém là phải có sự đồng tình của người trưởng thôn cho mình tá túc. Một hôm cậu mợ làm liều trình bày với ông này sự thật, là mình có ý định hồi cư, và hồi cư không phải vì một lý do chính trị nào cả, mà chỉ vì mợ con có chửa, bụng đã bắt đầu to, mà tiếp tục ở đây thì mợ con rất sợ phải ra bụi chuối đẻ. Ông trưởng thôn rất thông cảm, và hứa sẽ lờ đi cho cả gia đình mình đi thoát. Thế là một đêm, sau khi sửa soạn khăn gói, chào giã từ ông trưởng thôn, cả nhà lại lội bộ lên đường. Lần này là lần thứ ba, và cũng là lần nguy hiểm nhất vì phải đi ban đêm, phải tránh các trạm kiểm soát của Việt Minh. Sau ba đêm phiêu lưu như thế, cả nhà đến trạm kiểm soát đầu tiên của Pháp trước khi vào Hà Nội. Cũng như trạm kiểm soát của Việt Minh trước đây khi tản cư, mục đích để xem có gián điệp của Pháp cài vào trong đám người tản cư hay không, các trạm kiểm soát của Pháp cũng không ngoài mục đích kiểm xem có cán bộ Việt Minh trà trộn vào đám người hồi cư hay không. Công việc này không dễ dàng tí nào, nhất là đa số người hồi cư không có giấy tờ tùy thân gì cả. Đó chính là trường hợp của gia đình mình. Trong chuyến đi tản cư hơn một năm trước, con đã làm cho mợ con suýt bị nguy vì mặt con thấy rõ là Tây lai. Trong chuyến hồi cư về Hà Nội kỳ này, ngược lại con đã là nguồn mọi sự giúp đỡ của chính quyền Pháp, cũng vì cái mặt Tây lai của con !

Các « học trò » của cậu, ngoài gạo ra, cũng hay biếu « Anh Giáo » mớ rau, nải chuối, rổ khoai. Và trên hết, một tin vui đến với gia đình mình : mợ con có thai. Trong hoàn cảnh bình thường thì đó chỉ đơn giản là một tin mừng, nhưng trong hoàn cảnh tản cư thời đó thì vừa là một tin mừng, vừa là một mối lo. Và mối lo lớn nữa là đằng khác ! Con cũng biết là mợ con đã vào Sài Gòn sống từ năm 17 tuổi, đã được hưởng các tiện nghi của cuộc sống thị thành. Khi mợ con sinh ra con, mợ đến nhà bảo sinh, tuy không có bác sĩ nhưng cũng có bà mụ, nếu có gì bất trắc cũng có thể đưa vào nhà thương. Còn ở thôn xóm này, các bà mẹ phải sinh đẻ trong nhà mình, phải đi rước bà mụ tận ở làng xã nào đó xa lắm, có khi tự đỡ lấy nữa. Nhưng cái mà mợ sợ nhất là mợ không được sinh trong nhà mình ở trọ, mà phải ra bụi chuối mà đẻ. Sở dĩ như vậy vì có một niềm tin ăn sâu trong người dân, tóm tắt trong câu « sinh dữ tử lành » : nằm mơ thấy người chửa đẻ là điềm xấu, nằm mơ thấy người chết là điềm tốt, và rộng hơn nữa, có người lạ đến nhà mình chết là hên, còn người lạ đến nhà mình sinh đẻ là xui. Ở đây cậu không bàn đến chuyện dị đoan hay không dị đoan, chỉ biết là « nhập gia tùy tục », mình đến ở nhờ nhà người ta thì phải theo ý của chủ nhà, thế thôi. Thế là từ đó, bắt đầu gieo vào trong đầu mợ ý tưởng « hồi cư ». Sống hơn một năm trong vùng kháng chiến, những người bỏ nhà bỏ cửa đi tản cư như gia đình mình bắt đầu cảm thấy cuộc sống khó khăn và vô dụng. Chưa thấy dấu hiệu gì là kháng chiến sẽ thành công cả. Nên bắt đầu có những trường hợp bỏ vùng kháng chiến trở về quê cũ hoặc thành phố cũ, gọi là hồi cư hay là « dinh tê » ii . Mợ bàn với cậu xem có cách nào tìm về Hà Nội được không, mợ nhất quyết là không thể nào sinh đẻ ngoài bụi chuối, mà không biết có mời được bà mụ hay không nữa chứ ! Dĩ nhiên phải nói thầm với nhau thôi, hồi đó những người hồi cư bị Việt Minh xem là phản quốc, là Việt Gian 3 . Họ tuyên truyền rỉ tai là những người về lại vùng Tây kiểm soát, đàn bà con gái bị bắt làm đĩ điếm, đàn ông con trai bị bắt làm lao công vác đạn cho lính Tây. Nhưng mặc cho những lời tuyên truyền và đe dọa đó, càng ngày càng có thêm người bỏ vùng kháng chiến về thành phố. Phải nói là ngoài một số cán bộ trung kiên, phần lớn những người tản cư đều nghĩ rằng thời gian sống tạm bợ chỉ ngắn hạn thôi, bây giờ thời gian kéo dài họ không biết làm gì để sống. Thêm vào đó, những tin tức từ Hà Nội do những người đi buôn lén lút rỉ tai khác hẳn với những lời tuyên truyền của Việt Minh. Họ thì thầm rằng những người hồi cư về được chính quyền Pháp giúp đỡ tận tình để làm lại cuộc đời. Ngày qua ngày, bụng mợ lớn dần, và cậu mợ không còn dùng dằng được nữa, phải dứt khoát tìm đường hồi cư. Muốn vậy phải tìm hiểu thật kỹ đường đi nước bước, tìm hiểu đi vào lúc nào và đường nào để tránh trạm kiểm soát của Việt Minh. Và quan trọng không kém là phải có sự đồng tình của người trưởng thôn cho mình tá túc. Một hôm cậu mợ làm liều trình bày với ông này sự thật, là mình có ý định hồi cư, và hồi cư không phải vì một lý do chính trị nào cả, mà chỉ vì mợ con có chửa, bụng đã bắt đầu to, mà tiếp tục ở đây thì mợ con rất sợ phải ra bụi chuối đẻ. Ông trưởng thôn rất thông cảm, và hứa sẽ lờ đi cho cả gia đình mình đi thoát. Thế là một đêm, sau khi sửa soạn khăn gói, chào giã từ ông trưởng thôn, cả nhà lại lội bộ lên đường. Lần này là lần thứ ba, và cũng là lần nguy hiểm nhất vì phải đi ban đêm, phải tránh các trạm kiểm soát của Việt Minh. Sau ba đêm phiêu lưu như thế, cả nhà đến trạm kiểm soát đầu tiên của Pháp trước khi vào Hà Nội. Cũng như trạm kiểm soát của Việt Minh trước đây khi tản cư, mục đích để xem có gián điệp của Pháp cài vào trong đám người tản cư hay không, các trạm kiểm soát của Pháp cũng không ngoài mục đích kiểm xem có cán bộ Việt Minh trà trộn vào đám người hồi cư hay không. Công việc này không dễ dàng tí nào, nhất là đa số người hồi cư không có giấy tờ tùy thân gì cả. Đó chính là trường hợp của gia đình mình. Trong chuyến đi tản cư hơn một năm trước, con đã làm cho mợ con suýt bị nguy vì mặt con thấy rõ là Tây lai. Trong chuyến hồi cư về Hà Nội kỳ này, ngược lại con đã là nguồn mọi sự giúp đỡ của chính quyền Pháp, cũng vì cái mặt Tây lai của con !

Chú thích

i « i tờ rít » là một cách nhại tiếng Pháp có ý nhạo báng những người chỉ mới học xong lớp i tờ mà đã ra điều thông thái. Trong Pháp ngữ, « ite » là một tiếp vĩ ngữ (còn gọi là tiếp tố = suffixe) dùng trong nhiều trường hợp, thông dụng nhất là y khoa (appendicite = ruột thừa bị sưng) nhưng cũng dùng trong vài trường hợp khác, thí dụ để chỉ một dân tộc (Annamite = dân xứ Annam). Đặc biệt từ Annamite này chỉ dùng trong thời Pháp thuộc để chỉ người miền Trung (người miền Bắc là Tonkinois, người miền Nam là Cochinchinois). Sau này, người ta dùng chữ « Mít » thay vì « An nam mít » trong cách nói trào phúng để chỉ người Việt nói chung.

ii Câu « dinh tê » lấy từ tiếng Pháp « rentrer » có nghĩa là trở về.

1 Chữ Nôm là loại chữ viết theo kiểu chữ Hán để dùng cho tiếng Việt. Khi đọc chữ Nôm, người đọc phát ra tiếng Việt (thí dụ “gió”), khác với chữ Hán khi đọc lên là tiếng Hán Việt, tức là tiếng Hán đọc theo kiểu Việt Nam (thí dụ “phong”). Chữ Nôm được cấu tạo dựa vào chữ Hán, bằng nhiều cách khác nhau. Một cách điển hình là ghép hai chữ Hán lại, một chữ gợi âm, một chữ gợi ý. Hiển nhiên là rắc rối hơn chữ Hán. Chữ Nôm có từ khi nước Việt thoát khỏi thời kỳ Bắc thuộc với chiến thắng của Ngô Quyền năm 938. Nhưng loại chữ này chỉ thực sự phát triển trong văn chương từ thế kỷ 13. Tác phầm nổi tiếng nhất viết bằng chữ Nôm là Truyện Kiều của Nguyễn Du (1766-1820). Nhưng các sử liệu cùng các văn bản hành chính của triều đình vẫn phải viết bằng chữ Hán, ngoại trừ mấy năm nhà Hồ (thế kỷ 15) và nhà Tây Sơn (thế kỷ 18) dùng toàn chữ Nôm. Chữ Nôm cũng như chữ Hán từ đầu thế kỷ 20 được thay bằng chữ quốc ngữ. 2 Hai ca khúc Chiến Sĩ Việt Nam và Bắc Sơn của Văn Cao (1923-1995) rất phổ biến trong thời kỳ kháng chiến. Tác giả của hai bài này nổi tiếng vì cũng chính là tác giả của bài Tiến Quân Ca được dùng làm quốc ca. Nhưng Văn Cao còn được biết đến như một nhạc sĩ lãng mạn với những ca khúc trữ tình xuất sắc sáng tác trước khi ông tham gia Việt Minh, điển hình là Thiên Thai, Trương Chi, Bến Xuân, Suối Mơ, v.v. 3 Một bài báo nhan đề « Dinh tê » ký tên C.B., đăng trên báo Nhân dân, số 46, ngày 21-2-1952 viết về hiện tượng hồi cư có đoạn như sau : « Trong lúc xã hội thay đổi lớn, người mạnh dạn thì kiên quyết xông pha, vượt qua gian khổ, đi đến thành công. Người non nớt thì cầu an, tiêu cực, rồi thất bại. Kháng chiến ta trường kỳ và gian khổ, không khỏi có những người “dinh tê” ». Và đoạn khác : « Trừ bọn Việt gian, nói chung những người “dinh tê” đều bị lương tâm cắn rứt, như người đã đào ngũ. Họ thấy tương lai của họ mờ ám. Trong lúc toàn dân đang đập vào mặt quân thù, họ cam lòng quỳ gối cúi đầu dưới gót sắt giặc. Đến ngày kháng chiến thắng lợi, họ sẽ “ǎn làm sao, nói làm sao”? » Bài lưu trữ trong « Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, 1950-1952 », chứng tỏ tác giả chính là ông Hồ Chí Minh. Theo Trần Đĩnh trong quyển Đèn Cù (nhà xuất bản Người Việt Books, 2014) thì bút hiệu C.B. có nghĩa là « Của Bác ».

(Còn tiếp phần 11…)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.