Vượt biển(Phần 7,8,9 và 10)-Truyện Đào Hiếu

ĐỌC

truyenngan1

VƯỢT BIỂN

Đào Hiếu4

Đào Hiếu

 07 – THẦY GIẢNG PHILLIPE PHÚC

07Cơn hoảng loạn đã lắng xuống. Họ ngồi bên nhau, hai người trên hai chiếc ghế gỗ thấp, lưng tựa vào tường. Ông Thịnh thì hút thuốc rê trong cái pipe bằng rễ tre còn bà Ngọc Thuý thì lấy khăn thấm nước mắt.

-Bây giờ, con nó ở đâu? Ông Thịnh hỏi.

-Anh hỏi để làm gì? Có khi bây giờ nó đã chết rồi cũng không biết chừng.

-Ðừng nói thế. Em gởi nó ở đâu vậy?

-Sao hồi đó anh không đi tìm nó, bây giờ anh tìm nó làm gì?

-Hồi đó anh đang ở ngoại quốc thì ở nhà người ta rạch mặt em. Khi anh về, cả nhà không ai nói tiếng nào về chuyện đó, đến lúc anh tìm em thì chỉ còn là một cái nhà hoang. Những người xung quanh kể lại hết mọi việc, lúc đó anh mới biết. Họ bảo rằng khi ở bệnh viện ra, em chỉ ghé nhà một buổi tối rồi đi biệt. Anh đã đi tìm em khắp nơi nhưng không gặp.

-Thôi, kể lại làm gì những nỗi cay đắng nhục nhã ấy. Thiên hạ bảo em là kẻ cướp chồng người, bị người ta rạch mặt. Em muốn chết lắm nếu như không có cái thai bốn tháng thì có lẽ xác em đã bị vùi lấp nơi cống rãnh nào đó rồi chớ không còn ngồi đây mà nói chuyện với anh nữa đâu. Nhưng mà bây giờ em sống cũng như đã chết rồi.

Thuý lại khóc thút thít. Rồi bà móc trong túi áo ra một gói giấy nhỏ, mở ra, có chừng một chục viên thuốc nhỏ màu vàng vàng.

-Bao nhiêu đây là rũ sạch nợ trần. Anh cho em xin một ly nước.

Ông Thịnh chộp lấy cái gói giấy.

-Ðừng có nghĩ quẩn. Anh với em sẽ đi tìm con. Nó là con trai phải không?

-Con trai.

-Em gởi nó ở đâu?

-Trong nhà tu kín ở Ðà Lạt. Năm đó nó mới mười tuổi. Anh biết trong khoảng mười năm đó em đã làm cách nào để nuôi con không? Em đã làm đủ thứ nghề: giặt ủi, đi bán vé số, đi ở đợ. Em trốn tránh những người quen, giấu biệt tung tích. Giải phóng được ít lâu em nghe tin anh bị đi cải tạo. Người ta cũng chẳng mướn em nữa, hai mẹ con em đi phất phơ ngoài đường như những kẻ ăn mày. Cuối cùng em quyết định gởi con vào dòng tu kín. Anh còn nhớ cha Minh không, cái ông trẻ trẻ đeo kính cận, thường đánh đô-mi-nô với anh đó.

-Anh nhớ rồi. Ngày mai anh với em đi tìm con.

*

Họ lên Ðà Lạt. Nhà tu ở trên đỉnh một cái dốc đá đầy cỏ mọc, hai bên trồng toàn sứ cùi nở hoa trắng rực rỡ giữa một vùng cây lá xanh xao khuất tịch. Người gác tu viện là một lão già lưng còng mặc toàn đồ đen, đội cái mũ bê rê sờn rách, ngồi hút thuốc lá bên gốc cây sứ. Tay ông cầm một sợi dây xích buộc con chó ngao cũng màu đen, cao lớn khác thường. Con chó đánh hơi thấy người lạ, nó chồm lên và kéo lão đứng dậy. Hai chân lão run lập cập, điếu thuốc lá sâu kèn từ trên mép rơi xuống đất khiến lão phải cúi xuống nhặt nhưng con chó thì cứ lôi lão đi. Cuối cùng lão cũng nhặt được điếu thuốc và chạy lúp xúp theo con chó.

-Ông bà đến đây có việc gì?

Ông Thịnh chào và nói:

-Thưa thầy chúng tôi ở Sài Gòn lên đây xin phép được gặp cha bề trên.

-Các ông muốn gặp cha có việc gì?

-Chúng tôi xin thăm cháu….

Con chó lại sủa dữ dội át cả tiếng nói của ông Thịnh.  Ông già đưa bàn tay lên che vành tai để nghe cho rõ. Ðiếu thuốc đã tắt ngấm trên môi. Lão nói:

-Tên gì?

-Dạ Nguyễn Trường Phúc.

-Thầy Phillipe Phúc là con của ông bà. Lão vừa nói vừa đá nhẹ vào bụng con chó để cho nó thôi sủa. Thầy Phúc rất thân với tôi. Mời ông bà vào trong này. Cha bề trên đang đi dạo, ông bà ngồi đợi một lát.

Lúc ấy có một thầy giảng mang kính cận bước ra hỏi:

-Có việc gì đấy?

-Dạ, lão già lên tiếng. Có cha mẹ thầy Phillipe Phúc xin gặp cha bề trên.

Người đeo kính cận bước vào trong nhà rồi biến mất luôn. Con chó ngao đã thôi sủa, nó trở lại nằm vào vị trí cũ của nó dười chân cái băng đá, lão già nói:

-Ðây là lần đầu tiên tôi gặp mặt ông bà. Hình như cậu ấy đến đây từ lúc còn nhỏ lắm.

-Dạ. Mười tuổi. Ngọc Thúy nói.

-Bây giờ gặp mặt chắc là không nhận ra. Cậu ấy lớn lắm, cũng xấp xỉ gần bằng ông.

-Dạ. Cháu mười tám tuổi. Ông Thịnh nói.

Lão già lại bập bập điếu thuốc nhưng nó chỉ ngún lên một chút rồi lại tắt. Lão vê vê điếu thuốc giữa các ngón tay cụt ngủn và hỏi:

-Ở Sài Gòn ông làm gì?

-Dạ, tôi đi học tập cải tạo mới về.

-Lạy chúa. Lão ném điếu thuốc đi. Ông có thuốc lá không?

Ông Thịnh bối rối, nắn túi và lôi cái pipe bằng rễ tre ra.

-Bác làm một cối nhé.

-Ừ… ừ.

Ông Thịnh nhồi thuốc rê vào pipe và đưa cho lão già. Lão ngậm cái dọc tẩu, nghiêng người về phía que diêm ông Thịnh vừa bật lên. Đốm lửa cháy đỏ rực, khói tỏa mù mịt. Lão hít một hơi dài và cười:

-Trời lạnh quá. Ông kiếm đâu ra cái vố ngộ quá. Cho tôi nhé?

Mắt lão già ánh lên vẻ sáng khác thường, hai gò má thì đỏ hỏn trông lão giống một chú lùn thời trung cồ. Ông Thịnh nói:

-Cụ thích lắm à.

-Ừ… ừ. Lạnh quá. Giá mà có khúc dồi nóng ăn với bánh mì thì hay quá. Ông có đem theo đồ ăn chứ?

Người đeo kính cận lúc nãy xuất hiện và ra hiệu cho khách vào. Phòng đợi khá rộng xây bằng đá tảng, âm u và lạnh tanh. Bà Thuý có vẻ xúc động đặt tay lên ngực, ông Thịnh thì trầm tĩnh hơn, đưa mắt nhìn quanh căn phòng.

Ðột nhiên từ một ô cửa nào đó chàng trai xuất hiện, đi thẳng về hướng những người khách đang đợi. Ðó là một thanh niên cao lớn, thanh nhã và trầm tĩnh. Trong chiếc áo chùng đen chàng bước nhanh nhẹn bằng những bước đi dài, đến trước mặt hai người khách, không chào, không cười. Chàng chỉ đứng yên, đẹp đẽ, nghiêm nghị và xa vắng.

-Chào mẹ. Chàng nói sau một lúc lâu nhìn bà Thuý và đưa hai cánh tay trắng trẻo đỡ lấy người đàn bà đang run lên vì xúc động.

-Cám ơn con đã không quên mẹ.

Chàng trai đỡ mẹ ngồi lại trên chiếc ghế dài và đến ngồi bên kia cái bàn đá. Lúc này đôi kính trắng của chàng hướng về phía ông Thịnh.

-Ðây là ba con. Bà Thúy nói.

Chàng trai gật đầu chào, tiếp tục quan sát ông, cái nhìn phảng phất buồn.

-Sự thực là ba con đã không chết. Bà Thúy tiếp. Ba con đi cải tạo mới về.

-Ðội ơn Chúa.

-Cám ơn con. Ông Thịnh xưng hô một cách rụt rè. Ba đã trải qua những bất hạnh quá lớn. Ðến bây giờ ba mới được gặp lại con.

-Thế trước giải phóng khi con còn nhỏ thì ba đi đâu?

-Ba ở nước ngoài.

-Sao lúc đó mẹ bảo rằng ba chết rồi.

-Chuyện dài lắm con ạ. Sẽ có lúc chúng ta ngồi với nhau ôn lại chuyện cũ.

Chàng trai để hai bàn tay lên bàn đá, những ngón tay của chàng thon thả, trắng trẻo và nho nhã khác thường. Chàng là con của Ðức Chúa Trời, chàng thanh thoát, mạnh mẽ và cao quý. Bà Thúy cầm lấy đôi bàn tay của chàng hôn hít và khóc.

-Cuộc đời mẹ đau khổ biết chừng nào. Bà nói. Lúc ấy mẹ gởi con vào đây là vì mẹ đã quá cùng quẫn nhưng bây giờ ba con đã về. Ba mẹ không còn ai trên đời ngoài con. Ba con cũng còn được một số của cải có thể bảo đảm đời sống cho chúng ta.

Chàng trai nhìn mẹ, chàng không rụt hai bàn tay về và cũng không tỏ dấu xúc động. Chàng lặng lẽ quan sát mẹ và nhớ rõ từng nét rạch dọc ngang tàn phá khuôn mặt mẹ. Những vết thẹo ấy ngày xưa chàng đã sờ tay lên và hỏi thì mẹ chàng bảo là bệnh đậu mùa nhưng bây giờ thì chàng biết rằng nó phải do một nguyên nhân nào khác. Tuy vậy khuôn mặt bị tàn phá ấy đối với chàng vẫn vô cùng thân thiết và có nét đẹp riêng của nó. Chàng lặng lẽ ngắm nhìn những giọt nước mắt vỡ tan trên những rãnh sâu chằng chịt, rồi chàng quay sang nhìn người đàn ông đang ngồi bên cạnh bà. Ðó là cha chàng, trầm tĩnh, chờ đợi và khắc khổ. Chàng nói:

-Ba mẹ ạ. Con không thể trở về được đâu. Con đã khấn trọn đời. Con đã mãi mãi thuộc về Chúa.

Ông Thịnh nói:

-Thời buổi bây giờ khác xưa nhiều lắm con ạ. Bây giờ cái thế của tôn giáo không còn nữa. Cả khuynh hướng của thế giới ngày nay cũng thế. Giới trẻ ở phương Tây ngày nay coi tôn giáo như những nghi lễ hội hè, coi những giáo đường như những kiến trúc nghệ thuật, những công trình văn hóa trang điểm cho cuộc sống. Càng ngày đạo Kitô càng mang cái vẻ dáng đẹp của một trường phái nghệ thuật hơn là thần bí, khắc khổ và linh thiêng. Con có thấy điều đó không?

-Con tìm thấy vẻ đẹp trong đức tin và niềm an ủi vô biên trong sự thờ lạy Ðức Chúa Trời. Ba nghĩ rằng con không được hạnh phúc ở đây sao? Ba tội nghiệp cho con vì con đã không nhìn ngắm được những vẻ đẹp bên ngoài cuộc đời sao?

-Không phải thế. Ba chỉ muốn nói rằng thanh niên ngày nay họ tìm thấy trong tôn giáo những vẻ đẹp của nghệ thuật và những niềm vui của hội hè, của những lễ lạt dân gian.

-Tất cả những cảm nhận đó thật ra cũng chỉ là phù phiếm thôi ba ạ. Con khao khát những giá trị vĩnh cữu hơn thế nhiều. Ðó là Ðức Tin. Không có gì thiêng liêng hơn đức tin.

-Nhưng xã hội ngày nay cũng có rất nhiều sự thật và cũng có rất nhiều sự giả. Vì thế ba nghĩ rằng cần có nhiều đức tin tồn tại song song với nhau.

-Những điều ba nói đều thuộc về ý Chúa.

Bà Thúy buông hai bàn tay con ra, bà hướng về phía ông Thịnh:

-Ðừng tranh luận nữa. Hai cha con ông hãy nắm tay nhau đi.

ThuyenNhan2

Ông Thịnh đưa tay cho con, chàng trai nắm lấy bàn tay sạm đen chai cứng của cha, mặt hơi cúi xuống. Lúc ấy ông Thịnh mới nhìn thấy cặp mắt, dưới hàng lông mày rậm đen, giống hệt mình. Ông siết chặt bàn tay con và kéo chàng vào lòng mình. Họ ôm nhau chỉ trong giây lát rồi buông ra. Chàng trai sửa lại đôi kính trắng và vuốt nếp áo chùng đen. Bà Thuý gần như hoảng hốt:

-Khoan đã! Con hãy nói quyết định của con cho mẹ biết đi.

-Con đã làm lễ khấn trọn đời rồi mẹ ạ.

-Ðừng con! Trên đời này mẹ không còn ai thân thiết ngoài con.

-Thế còn ba?

-Nếu con không về thì mẹ sẽ không bao giờ sống với ba con.

-Tại sao vậy?

-Tại vì giữa hai người có một sự ngăn cách không thể lấp đầy được. Và mẹ sẽ chết. Mẹ sẽ chết thôi con ạ.

-Ðó là vì mẹ không có đức tin.

-Mẹ không cần đức tin. Mẹ chỉ cần có con thôi.

Chàng trai chợt lùi lại một bước nhưng chàng trấn tĩnh ngay và nói:

-Lạy Chúa. Ðó không phải là lời đã thốt ra từ miệng của người đàn bà khốn khổ đã sinh con ra.

Bà Thúy chạy xô đến ôm chầm lấy chàng trai và khóc.

-Con tha lỗi cho mẹ. Mẹ không định nói như thế. Mẹ lỡ lời. Con hãy dạy cho mẹ lòng tin vào Chúa Trời và mẹ sẽ ở đây làm tôi tớ cho Người.

Chàng đỡ mẹ dậy và chàng nói:

-Ngày kia Chúa và các môn đồ đi vào một ngôi làng. Tất cả đều đói và khát. Bổng nhìn thấy cây vả bên đường,  nhưng khi đến nơi thì cây vả chỉ toàn lá, không có lấy một trái. Chúa bèn phán cùng cây vả rằng: Ngươi sẽ không bao giờ có trái nữa. Trong phút chốc cây vả héo khô. Các môn đồ ngạc nhiên hỏi: Làm thế nào mà chỉ trong phút chốc cây vả đã héo khô. Chúa liền bảo: Thực ra ta nói cùng các ngươi. Nếu các ngươi có đức tin thì không những các ngươi có thể làm cái điều ta vừa làm với cây vả mà các ngươi còn có thể bảo ngọn núi kia: Hãy ném mình xuống biển đi. Tức thì điều ấy sẽ đến.

-Vậy thì mẹ sẽ cầu nguyện cùng Chúa để cho con được mãi mãi ở bên mẹ.

Tiếng chuông nhỏ rung lên báo hiệu giờ gặp mặt đã hết. Bà Thúy buông hai bàn tay con ra và đứng thẳng lên trước mặt con. Bà nói:

-Mẹ sẽ cầu nguyện.

Chàng trai làm dấu thánh cho bà rồi quay gót đi. Chàng bước nhanh như lúc chàng mới xuất hiện và biến mất vào một ô cửa nào đó trong gian phòng đá xám mênh mông lạnh lẽo này.

 

Phần 8.

Tiếng gõ cữa của thiên thần

 

Họ về tới sài gòn lúc xế chiều. Hành lý của bà Ngọc Thúy chỉ có một cái xách tay nhỏ còn ông Thịnh thì đi hai tay không. Họ bước xuống xe đứng tần ngần bên nhau, không ai nói gì, đến khi bà Thúy đưa tay gọi một chiếc xích lô đạp thì ông Thịnh ngăn lại:

-Vô uống nước đã.

Họ vào một cái quán nhỏ cạnh bến xe.

-Bây giờ bà về đâu?

-Mặc kệ tôi.

-Thôi bà hãy cứ tạm về nhà đi. Hiện giờ thì tôi không thể nào ở gần bà được. Nó sẽ nhắc nhở đến những đứa con tôi đã chết. Tôi sẽ không thể nào chịu đựng nổi.

-Tôi cũng thế. Sự nhục nhã ê chề và những đau khổ trong cuộc đời tôi quá lớn, quá dài. Tôi cũng không muốn nhìn lại mặt ông một lần nào nữa. Bây giờ tôi chỉ còn có con tôi thôi. Nhưng nó đã không về. Tôi chỉ còn có cái chết thôi.

-Bà đừng nghĩ quẫn như thế. Rồi thời gian sẽ an ủi chúng ta.

Ông móc trong túi áo ra một gói giấy nhỏ bằng hai ngón tay:

-Bà cầm lấy cái này. Và đứng làm cái nghề ấy nữa. Tôi van bà. Hãy dùng cái này để làm một việc gì khác.

Nhưng bà Thuý đã quay mặt đi.

-Tôi sẽ không bao giờ nhận cái gì của ông nữa. Nhưng tôi cũng sẽ không làm cái nghề ấy nữa đâu. Ông có nhớ câu chuyện trong Kinh thánh mà con nó kể cho tôi nghe không? Tôi cũng sẽ như cây vả bên đường ấy. Sẽ chết khô. Sẽ chết dần trong lãng quên.

Bà vụt đứng dậy và hấp tấp ra khỏi quán, leo lên một chiếc xích lô vừa trờ tới.

Giữa đám đông người huyên náo ông Thịnh không biết phản ứng thế nào để giữ bà lại, đành phải ngồi im. Người ta ra vô quán tấp nập cười nói la lối ồn ào nhưng ông gần như không nghe thấy gì cả, ông như mê đi trong một cơn sốt và không dậy nồi nữa. Nhưng trong ý thức ông có sự cưỡng lại, nó bảo ông đứng dậy, thế là ông vùng thoát ra khỏi cơn mê.

Ông về đến nhà lúc trời đã chiều và mặc dù suốt một ngày đường mệt mỏi ông cũng không thấy đói. Ông bắc cái ghế dựa ra trước ban-công và theo thói quen ông lục tìm cái tẩu, lúc ấy ông mới nhớ là lão già ở tu viện đã không trả lại. Ông buồn tình bứt một cái lá mận nhai nhai rồi ngủ quên đi.

Những người chủ mới của ngôi nhà đã phá tan hêt những dấu vết của gia đình ông. Ngoài chiếc xe đồ chơi bằng sắt đã hoen rỉ, ông không còn tìm thấy cái gì khác. Trong mơ ông nhìn thấy những trang vở trắng in đầy những nét chữ màu mực tím, những trang vở như bướm bay quanh chỗ ông nằm, những hình vẽ ngô nghê từ trong cuốn tập bước ra. Chị gà mái và lũ gà con, chú chó berger ngồi cạnh chủ đang đọc báo trên ghế dựa. Bốn đứa nhỏ xấp xỉ bằng tuổi nhau chạy lên chạy xuống cầu thang chơi trò cút bắt. Những trang vở trắng lại bay quanh như bướm rồi gom lại thành một đống giấy, rồi trải rộng ra thành sa mạc mênh mông nắng cháy. Những đứa trẻ mờ nhạt như những đám khói bay vất vưởng trong sa mạc và ông chạy theo chúng đến mệt lả. Chúng lại tan biến thành đàn bướm trắng bay quanh ông rồi bốc lên cao dần, xa dần cuối chân trời. Ông thức dậy thấy trời đã tối mịt và muỗi bay đen kịt cả hành lang. Ông bật đèn, moi trong tủ ra một nửa cái bánh mì khô và ngồi ăn một mình. Nước trà đã nguội ngắt và đắng chát, ông uống từng ngụm lớn cho trôi mẩu bánh mì khô khỏi cổ họng.

Sáng hôm sau ông lang thang một mình trên đường Hàm Nghi kiếm mua một con chó con. Ông bế con chó đi bộ một hồi rồi ngồi uống cà phê ở vỉa hè. Ngồi cùng bàn với ông là một lão già đạp xích lô. Lão nhìn con chó nhỏ một cách thích thú rồi vuốt ve nó. Con vật mừng rỡ liếm tay lão. Lão hỏi:

-Ông mua bao nhiêu vậy?

-Hai ngàn.

-Con chó đẹp quá. Nhà ông ở gần đây sao?

-Không. Tôi ở Thị Nghè. Bác có về Thị Nghè không?

-Về. Uống hết ly cà phê tôi đưa ông về.

-Bác không còn con cái gì sao sống cực vậy?

-Tôi có thằng con trai chết trong chiến tranh. Tôi theo đứa con gái, bỏ miền Trung vào đây kiếm sống qua ngày.

Hai người tiếp tục trò chuyện trên đường đi. Ông Thịnh nghe nhiều hơn nói, thực ra ông dấu tung tích của mình. Ông cũng không muốn cho ai biết chỗ ông đang ở vì thế ông bảo người phu xe cho ông xuống giữa chừng. Lúc trả tiền trong túi ông còn hơn bốn mươi ngàn đồng bạc. Ông vốc hết ra đưa cho lão già. Ông cũng không hiểu tại sao mình làm như vậy vì khi nãy trong đầu ông không hề có ý định đó. Lão già ngạc nhiên không dám nhận nhưng ông đã với lấy cái mũ vải của lão và đặt gọn số tiền vào đó, trao lại cái mũ cho lão rồi bỏ đi, lòng buồn mênh mông.

Con chó nhỏ trở thành bạn thân của ông rất nhanh. Bất cứ ông nằm ngồi ở đâu nó cũng đến và nằm phục một bên. Buổi tối khi ông đi ngủ, nó nằm cạnh đôi dép. Sáng sớm ông đi dạo trong vườn, nó chạy giỡn quanh các gốc cây, sục sạo trong những đống lá khô trong những gốc hoa giấy quanh vòng tường rào. Có khi ông cùng nó đuổi theo một con sóc. Con vật này chuyển từ cành cây cao vút ngoài đường xuống những nhánh me trong sân nhà ông và leo lên cây ngọc lan. Ðó là một con sóc nhỏ da sọc dưa, đuôi xù to như cái cờ lau. Con chó nhỏ rượt nó chạy từ gốc cây mận tới mấy bụi lài rồi chuyền sang nhánh cây nhãn lồng trước khi nhảy sang cây me tây cao lớn như cổ thụ mọc sát đường cái. Con chó nhỏ không làm gì được chú sóc nâu xinh xắn bèn đứng sủa gâu gâu. Lát sau nó bắt đầu chán trò chơi ấy và nghĩ ra cách đào bới quanh những gốc hoa giấy sát tường rào.

-Gâu, gâu, gâu.

Nó sủa dữ dội, dường như nó vừa khám phá ra một cái hang chuột. Ông Thịnh chạy đến giúp nó vẹt đám lá um tùm ra. Con chó dùng hai chân trước cào đất lia lịa cuối cùng lòi ra một vật gì màu vàng lợt. Nó dùng răng cắn chặt lấy vật đó lôi tuột ra. Ông Thịnh cầm lên xem. Ðó là một chiếc giày da kiểu Ý. Ðúng là chiếc giày ông đã mua trong chuyến du lịch Châu Âu về tặng đứa con gái duy nhất của ông. Năm ấy bé Hằng lên bảy tuồi. Quà của ông mang về cho con là đôi giày da Italia này, còn quà của bé Hằng gói sẵn chờ ông về là năm viên kẹo chanh bỏ trong một cái hộp nhỏ bọc giấy hoa thắt nơ đỏ với dòng chữ nguệch ngoạc viết bằng mực tím: “Kính Tặng Ba”. Ðã gần mười năm trôi qua rồi. Cái hộp giấy nhỏ với dòng chữ thơ ngây ấy bây giờ ở đâu rồi. Tại sao đôi giày da nhỏ bé xinh đẹp của con lại bị chôn vùi ngoài bờ rào, hả con? Ông cầm chiếc giày đi lại chỗ có vòi nước. Ông vừa rửa chiếc giày vừa khóc. Nước đã cuốn đi những rác rưởi, những đất cát để hiện ra chiếc giày xinh đẹp, để hiện ra trước mắt ông bàn chân non nớt trắng hồng mịn màng của con ông. Ông ngồi khóc như đứa bé, nước bắn tung tóe lên người ông ướt cả ngực áo, ướt cả đôi chân trần to bè sạm đen chai cứng, nước loé lên mặt hòa với nước mắt. Ông cứ mặc cho vòi nước chảy. Ông dùng vạt áo lau chiếc giày. Những giọt nước vừa bắn lên đó được lau khô đã có những giọt nước khác bắn lên, nhưng dường như ông không hề biết đến điều đó. Con chó nhỏ chạy đến liếm nước trên bàn chân ông, ngửi ngửi chiếc giày rồi lại sủa. Lúc ấy, người ướt sũng, ông ôm con chó lẫn chiếc giày đi vào nhà.

Xế chiều ông uống rượu đến say mèm và ngủ quên trên sàn nhà.

BoatPeople1975

*

Ngồi nơi ban-công nhìn xuống đường ông Thịnh thấy một cô gái trẻ đi chiếc Honda vừa dừng trước cổng nhà mình. Một người trong nhà bước ra mở cổng. Hai người nói với nhau mấy câu rồi cánh cổng mở lớn. Cô gái dẫn xe vào trong sân, dựng xe ngay dưới gốc cây mận.

Khi cô gái lạ vào trong nhà rồi ông Thịnh mới lấy cuốn sách viết về Napoléon ra đọc tiếp. Nhưng ông chỉ đọc được có mấy hàng thì có tiếng gõ cửa gấp gáp.

-Bác là bác Thịnh? Cô gái hỏi ngay khi cánh cửa vừa hé mở.

-Vâng. Cô gặp tôi có việc gì?

-Bác thay đồ đi với cháu liền bây giờ.

-Có chuyện gì vậy?

Hai người chở nhau trên chiếc Honda chạy bay đến bệnh viện Chợ Rẫy. Nhưng ở đó người ta không cho ai vào phòng cấp cứu. Ông Thịnh và cô gái trẻ ngồi đợi nơi chiếc ghế dài. Ông hỏi cô gái:

-Bà ấy uống thuốc ngủ phải không?

-Sao bác biết?

-Có lần bà ấy định uống trước mặt tôi. Cô là gì của bà Thúy?

-Cháu là người hàng xóm.

Một người y tá hé mở cánh cửa phòng hồi sức và gọi ông Thịnh cùng cô gái bước vào. Bà Thúy còn nằm mê man trên giường nhưng hơi thở đã trở lại bình thường. Ông đặt một bàn tay lên trán bà, thấy lạnh tanh:

-Thúy ơi!

Nhưng người bệnh vẫn nằm im. Ông Thịnh ngồi xuống giường cầm tay người bệnh. Cô gái trẻ đứng im lặng bên cửa sổ quan sát hai người bằng cái nhìn u buồn. Bà Thúy cựa mình rồi mở mắt.

-Tôi muốn gặp con.

-Anh sẽ đi gọi nó về.

-Anh đi đi. Bà nói rồi nhắm mắt lại.

Người y tá lúc nãy mở cửa vào và báo cho mọi người biết là bác sĩ đến.

Lúc bước ra ngoài ông Thịnh bảo cô gái:

-Bà ấy không có ai săn sóc, làm sao tôi có thể đi Ðà Lạt được bây giờ?

-Bác đi Ðà Lạt làm gì?

-Bà Thúy có một người con ở đó.

-Chuyện đó thì cháu biết.

-Bác ấy kể cho cháu nghe à?

-Cháu đã tìm thấy bức thư trong người của bà và cháu đã đọc hết. Chính nhờ bức thư ấy mà cháu đã biết được địa chỉ của bác. Thôi bác cứ đi Ðà Lạt đi nhưng phải về gấp vì cháu bận việc nhà lắm.

-Cám ơn cháu. Cháu hãy cho tôi biết tên đi.

-Tên cháu là Tuyết. Bác nhớ về sớm nhé. Bây giờ cháu phải đi công việc.

Ông Thịnh tiễn cô gái đến cuối hành lang của bệnh viện rồi trở lại phòng hồi sức. Hình như người bệnh đang ngủ, ông ngồi rất nhẹ xuống cái ghế sắt kế bên cửa sổ và thấy thèm thuốc lá nhưng không biết tìm đâu ra.

*

Bà Thúy mở mắt ra và thấy một người mặc áo dòng đen đang đứng nhìn mình. Bà kêu lên thảng thốt rồi ngồi dậy.

Thầy giảng trẻ Phillipe Phúc cúi người xuống đỡ lưng bà.

-Mẹ nằm nghỉ đi.

-Không. Mẹ khỏe rồi. Mẹ có thể về nhà được rồi.

Ông Thịnh nói:

-Bác sĩ bảo một tuần nữa bà mới có thể xuất viện được. Bây giờ bà nằm xuống đi.

Ông đỡ Bà nằm xuống và ra hiệu cho ông thầy tu trẻ ngồi xuống chiếc ghế đặt gần đầu giường. Phillipe Phúc đặt tay lên trán mẹ và nói nho nhỏ:

-Mẹ ngủ đi. Ngủ đi.

-Nhưng mẹ có buồn ngủ đâu. Con đi đường có mệt không?

-Không.

-Con đã ăn uống gì chưa?

-Có. Ba đã dẫn con đi ăn rồi.

Bà Thúy nắm lấy bàn tay con rồi nhắm mắt lại.

-Con về được bao lâu?

-Ðược một tuần mẹ à.

-Vậy thì con xin bác sĩ cho mẹ về chiều nay đi. Mẹ thấy khỏe lắm rồi.

Sáng hôm sau Bà Thuý được xuất viện. Theo đề nghị của chồng và con trai, bà chịu về nhà ông Thịnh. Ông mua cho bà rất nhiều trái cây, sữa. Phillipe Phúc ít nói, đi đứng chững chạc, biểu lộ tình cảm một cách chừng mực. Chàng rất thích ăn trái sầu riêng nhưng lại chỉ ăn khi được mời. Sáng sớm chàng tắm rửa, chải đầu, mặc áo chùng đi giày tươm tất rồi ngồi lại bàn mang kính trắng và đọc sách, trong lúc mẹ chàng nằm nghỉ trên cái ghế dựa kê gần cửa sổ và cha chàng sửa lò điện.

Ông Thịnh pha trà cho chàng. Hai cha con ngồi uống trà và ăn bánh ngọt ngoài hành lang ngay phía ngoài chỗ mẹ chàng nằm.

-Con thấy đời sống ở đây như thế nào? Cha chàng hỏi.

-Con thấy dễ chịu. Ba nên thuyết phục mẹ về ở đây.

-Ba sẽ cố gắng. Nhưng con cũng phải giúp ba.

-Con đã nói với mẹ nhiều nhưng mẹ cứ nói rằng nếu không có con thì mẹ không thể nào sống với ba được.

-Phải như có con thì hay biết chừng nào. Tại sao con lại không thể quyết định khác đi được. Con vẫn thấy đời xấu xa lắm sao?

-Không thưa ba. Nhưng đời là một cái gì tạm bợ. Còn con thì có khát vọng vĩnh cữu.

-Nhưng trong Ðời cũng có những giá trị vĩnh cữu. Ví dụ như tình mẫu tử, nghệ thuật, lòng nhân đạo.

Ông Thịnh đốt thuốc lá.

Thầy Phillipe Phúc chợt hỏi:

-Con vẫn chưa hiểu vì sao giữa ba và mẹ lại có mối bất hòa sâu sắc như vậy? Tại sao trong lúc ba ở Châu Âu thì mẹ và con lại phải sống cơ cực khốn cùng?

-Ðó là tấn bi kịch lớn lắm con ạ. Và chỉ có con mới có thể hàn gắn được sự tan vỡ bi thảm này thôi.

-Nếu trong chuyện này ba có lỗi thì chính ba phải làm việc hàn gắn đó. Tại sao ba lại không thể làm được chuyện đó.

-Ba biết nói sao với con bây giờ. Thật khủng khiếp! Phải chi ba có thể đi tu như con.

Chàng trai đứng lên, vẻ bồn chồn hiện rõ trên gương mặt. Chàng đi đi lại lại, hai tay nắm chặt để sau lưng, đầu hơi cúi xuống. Chiếc áo chùng đen và đôi kính trắng làm cho chàng có vẻ khắc khổ hơn.

-Dường như ba muốn giấu con chuyện đó. Ba hãy nói đi. Giữa ba và mẹ đã có chuyện gì ghê gớm lắm phải không?

Ông Thịnh ngồi im cúi đầu. Lúc ấy Bà Thúy lên tiếng:

-Có lẽ mẹ phải nói cùng con tất cả mọi sự. Con hãy kéo ghế lại ngồi gần đây.

Chàng đang bước chợt dừng chân. Và khi chàng cúi xuống định lấy cái ghế gỗ nhỏ thì có tiếng gõ cửa.

-Con mở giúp mẹ đi. Bà Thuý nói.

Chàng bước đến trước cánh cửa và xoay cái chốt. Một cô gái hiện ra trong khung cửa. Chàng ngạc nhiên nhìn người khách, quên cả mời vào nhà. Cô gái mỉm cười, nói:

-Chào anh.

-Dạ. Chàng nói và cảm thấy tim mình nhói lên, gần giống như sự sợ hãi.

Cô gái lách người bước vào và vì chàng đứng ngáng ngay lối đi nên khi cô đi qua, tóc của cô chạm nhẹ vào mặt chàng. Chàng bối rối đóng cánh cửa và phải đứng ở đó một lúc để lấy lại bình tĩnh.

Lúc quay vào, chàng lại tỏ ra nghiêm nghị quá mức, chàng nhìn thẳng và bước tới chỗ cha chàng đang ngồi uống trà. Chàng uống hết chút trà cặn còn sót lại trong cái tách của chàng lúc nãy rồi ngồi im nhìn những lá mận xanh. Nhưng chàng lại nghe rất rõ giọng nói của người con gái từ trong phòng vọng ra. Nếu chàng quay lại, nhìn qua cửa sổ chàng sẽ nhìn thấy khuôn mặt cô gái, nhưng nghe giọng nói kia chàng cũng hình dung ra được, hình dung ra cả cái mùi thơm trong tóc. Vậy mà chàng vẫn bồn chồn dù chàng đang ngồi im như tượng. Ông Thịnh gọi cô gái.

-Tuyết ơi! Cháu ra ngoài này uống trà.

Cô gái bước ra hành lang, xách theo cái ghế gỗ nhỏ.

-Bữa nay bác gái khá hơn hôm trước nhiều. Ở đây buồi tối có nóng không bác?

Tuyết ngồi sát ban-công và tự tay rót nước trà cho mình. Ông Thịnh nói:

-Ðây là con trai bác, còn đây là cô Tuyết người đã đưa má con đi cấp cứu.

Tuyết quay nhìn chàng trai và cười với chàng. Cô hỏi:

-Anh đi tu lâu chưa?

-Từ nhỏ.

-Ðời tu chắc là buồn.

-Tôi không buồn.

-Người ta làm những gì ở trong nhà tu vậy?

Chàng quay lại nhìn thẳng vào mắt cô gái:

-Cô không nên hỏi một câu như vậy.

Chàng nói bằng giọng nghiêm nghị nhưng khi nhìn vào đôi mắt kia, chàng thấy nó đẹp quá, nó làm tê dại cả lòng chàng, chàng linh cảm rằng nó sẽ không đem lại cho chàng niềm vui mà là sự ảm đạm bao trùm như bóng tối của rừng đêm.

Cô gái đứng dậy lúc nào chàng cũng không hay. Cô chào cha mẹ chàng, chào chàng rồi mở cửa đi ra khỏi phòng. Cô đến và đi như một giấc mơ nhẹ nhàng, tình cờ và huyền hoặc.

Suốt ngày hôm ấy chàng cố giữ bình thản nhưng vẫn không bình thản được. Ðến bữa ăn chàng không thấy đói, cổ chàng khô cháy và chàng phải uống nước liên tục. Tất cả những hiện tượng ấy làm cho chàng ngấm ngầm lo sợ. Chàng thấy rõ rằng mình đang phải đương đầu với một tai họa vô hình. Dường như chàng đang bị quỷ ám. Giữa khuya, chàng ra đứng ngoài ban-công và cầu nguyện. Những khi ông Thịnh đi ra ngoài và lúc mẹ chàng đang ngủ chàng cũng cầu nguyện hàng giờ. Sau đó khi mẹ chàng thức dậy, chàng trò chuyện cùng bà. Bà kể lại mối tình vụng trộm giữa bà và ông Thịnh nhưng giấu chuyện án mạng. Ðến khi chàng hỏi người vợ cả và những người con của ông Thịnh hiện giờ ở đâu thì bà nói là họ vượt biên sang Mỹ.

-Thế thì có gì ngăn cản ba và mẹ sống chung với nhau?

-Mẹ không thể tha thứ cho cha con về sự ruồng bỏ đó. Con còn nhớ những ngày tháng khủng khiếp ấy mẹ con mình sống như thế nào không?

Chàng nhớ, nhưng tâm hồn chàng tràn ngập mùi thơm của mái tóc cô gái, chàng ngồi nói chuyện với mẹ mà đầu óc để đi đâu, những gì chàng nhớ lại chỉ là mơ hồ, những gì mẹ chàng nói chỉ thoáng qua. Ðã bao lần chàng muốn hỏi về cô gái nhưng không dám.

Sáng ra, chàng sực nhớ đã đến ngày phải trở lại tu viện. Chàng lẩm bẩm một mình trong lúc đánh răng:

-Phải về, phải về càng sớm càng tốt.

Và chàng vội vàng thu xếp đồ đạc. Mẹ chàng hỏi:

-Con không thể ở thêm một vài ngày sao?

-Không mẹ ạ, Ðã hết hạn nghỉ phép rồi.

Chàng hôn tay mẹ, bà khóc. Bà vuốt tóc và hôn hít đôi bàn tay trắng trẻo thon thả của chàng. Bà hỏi:

-Chừng nào con mới lại về thăm mẹ nữa?

-Mỗi năm con chỉ được về một lần.

Nhưng trong đầu, chàng lại nghĩ: không bao giờ, không bao giờ con trở lại nơi này nữa.

Ông Thịnh đưa chàng đến một tu viện trên đường Tôn Ðức Thắng. Ở đó sẽ có xe đưa chàng đi Ðà Lạt. Hai cha con chia tay nhau và chàng cảm thấy nhẹ nhõm dễ chịu.

Ông Thịnh từ giã chàng với vẻ trầm tĩnh thường ngày. Ông chỉ dặn chàng giữ gìn sức khỏe và năng viết thư về nhà. Xong ông lên chiếc xe đạp, lọc cọc đạp về nhà. Dọc đường ông ghé một quán cóc, ngồi uống rượu đế một mình tới chiều.

Phần 9.

vuot-bien3

Vĩnh biệt thiên đường

 

Một tuần sau khi thầy giảng philippe Phúc trở lại tu viện, bà Ngọc Thúy mới bình phục hẳn. Bà ăn uống rất khá và ngủ cũng tốt. Tuy nhiên bà và ông Thịnh rất ít khi nói chuyện với nhau. Họ chỉ nói mấy câu trong các bữa ăn, thời gian còn lại bà đọc sách báo còn ông thì làm những chuyện lặt vặt trong nhà như đóng lại những chiếc ghế gỗ đang lung lay, sửa xe đạp….

Xế chiều ông có thói quen đạp xe đi loanh quanh trong chợ bán chim, chó, mèo cốt để giải trí chứ không mấy khi ông mua. Bà Thúy ngồi nhà một mình lấy cuốn kinh thánh ra đọc nhưng bà không hiểu gì cả thành ra bà đọc rất chậm.

Khoảng năm giờ chiều có tiếng gõ cửa rụt rè bà tưởng là Tuyết đến vội ra mở cửa. Nhưng khi cánh cửa mở ra bà chợt kêu lên khi nhận ra con trai bà.

Nhưng đó không phải là thầy giảng Phillipe Phúc khoan thai, tươi tắn cách đây một tuần lễ mà là một nhà tu khổ hạnh mắt trõm sâu, hai má hóp lại và râu mọc lởm chởm.

-Con làm sao vậy?

Bà lo lắng hỏi và gần như phải dìu chàng trai vào phòng. Chàng gượng cười, vứt cái túi hành trang xuống sàn nhà rồi ngồi xuống cái ghế thấp, hai tay ôm mặt.

-Có chuyện gì vậy?

Chàng bật khóc và ôm lấy mẹ.

-Con không sống nổi đâu, mẹ ạ.

-Sao vậy con? Người ta đuổi con ra khỏi tu viện à?

-Không. Nhưng chính con bỏ tu viện, trốn về đây. Con leo qua bờ tường giữa đêm khuya để trốn về đây.

-Tại sao con lại phải làm như vậy?

-Nếu con không làm vậy con sẽ chết. Sẽ chết trong vài ngày nữa thôi.

-Vì sao? Nói đi!

-Mẹ không thể hiểu rằng con muốn gặp lại cô Tuyết đến mức nào. Ôi, mẹ ơi, con nhớ cô ấy đến điên cuồng, nhớ đến chết mất thôi mẹ ạ. Mẹ hãy giúp con gặp cô ấy ngay bây giờ.

Bà Thuý ôm cái đầu tóc rối của con trai, hôn lên đó, bà khóc rồi bà cười:

-Mẹ đi tìm cô ấy ngay bây giờ.

Rồi bà đứng dậy, vui vẻ, nhanh nhẹn thay quần áo và đi ra.

Lúc ấy chàng trai hầu như đã kiệt sức. Chàng nằm trên cái giường nhỏ của mẹ chàng và ngủ thiếp đi. Chàng mơ thấy mình gặp lại Tuyết trên đồi Cù Ðà Lạt, chàng quỳ xuống và ôm lấy cô, cô xoa đầu chàng và cùng ngồi với chàng trên vạt cỏ non. Ðến khi chàng tỉnh dậy thì đã thấy Tuyết ngồi sẵn bên giường. Chàng vẫn tưởng mình còn đang trong mơ nên cứ nằm im như thế. Cô gái nhìn chàng bằng cái nhìn dò hỏi và đầy âu lo. Cô hỏi:

-Anh có nhận ra tôi không?

-Có.

-Anh nhớ tôi lắm à?

-Vâng.

-Tại sao anh lại nhớ tôi?

-Tôi đã cầu nguyện cho tôi đừng nhớ Tuyết nữa nhưng tôi không thể nào quên được.

-Thế bây giờ anh còn nhớ tôi không?

-Ðừng bỏ đi.

-Tôi phải về nhà tôi.

-Ðừng về nữa. Hãy ở đây luôn đi. Ba tôi sẽ nuôi Tuyết.

-Nhưng anh còn phải về tu viện mà.

-Không về nữa. Tôi đã bỏ tu viện trốn về đây.

-Trốn bằng cách nào?

-Lúc nửa đêm tôi trèo tường. Mình mẩy tôi xây xát.

Và chàng kéo tay áo chùng đen lên đưa cho Tuyết xem những vết trầy. Chàng hỏi:

-Tuyết ở luôn nhé?

-Thế không làm đám cưới à?

Chàng trai ngẫm nghĩ, lúc này đôi mắt chàng như trẻ hài nhi.

-Ừ. Chàng nói. Ðể hỏi mẹ xem.

Tuyết đứng lên và nói:

-Thôi, bây giờ tôi phải về. Ngủ ngon nhé.

Cô xoa đầu chàng trai và tiến ra phía cửa. Lúc ấy chàng mới hoàn hồn, ngồi bật dậy nhưng cô gái đã biến mất rồi.

Tuyết bước xuống thang lầu và gặp Bà Thúy, ông Thịnh đang ngồi chờ đợi ở phòng khách nhà tập thể.

-Sao hai bác không lên?

Bà Thúy nói:

-Bác sợ nó ngượng không dám nói gì và như thế là nó lại bị dằn vặt đau khổ.

-Nhưng anh ấy rất bình tĩnh. Anh nói chuyện hồn nhiên như trẻ con.

-Nói thế nào?

-Anh ấy bảo con ở luôn đây đừng về nhà nữa. Con nói đùa là muốn thế thì phải làm đám cưới.

-Chết. Sao con lại nói đùa như thế?

-Cháu rất thương anh ấy và không nỡ làm anh ấy buồn.

Ông Thịnh ngồi một bên, lắng nghe hai người phụ nữ nói chuyện. Ông hỏi cô gái:

-Cháu nghĩ gì về tình cảm của con trai bác?

-Cháu nghĩ rằng đó chỉ là sự sôi nổi của tuổi trẻ.

-Không đâu cháu ạ. Ðó là một tình yêu vô cùng dữ dội. Bác mong cháu hãy cứu nó. Không thì nó sẽ chết mất. Bác mong cháu thỉnh thoảng hãy đến đây trò chuyện với nó. Nó cũng không phải là một chàng trai ngốc nghếch đâu. Bây giờ cháu về nhưng hãy hứa cùng bác là sẽ trở lại.

-Thế anh ấy không đi tu nữa sao?

-Bây giờ thì đối với nó không có gì cao cả hơn tình yêu nữa đâu. Bác đã nghĩ tới chuyện kiếm cho nó một việc gì để làm ở thành phố này. Có thể là nó sẽ đi dạy ngoại ngữ. Nếu cần bác sẽ mua cho nó một cái nhà nho nhỏ. Thú thực với cháu là biến cố này xảy ra làm hai bác lo ít mà vui nhiều.

Phần 10.

Đức Cha si tình

 

-Tôi mặc quần áo mới trông tức cười lắm phải không?

-Ðẹp chứ. Tuyết nói. Nhưng lẽ ra anh không nên chọn màu đen và ống quần đừng quá rộng.

Phúc xoay bao thuốc Hero trên mặt bàn, nhìn ly bia sủi tăm vẫn còn đầy nguyên. Anh nói:

-Từ trước đến giờ tôi chỉ mặc có một màu đen. Chọn màu khác thấy kỳ lắm không thể được.

-Bác trai không chọn cho anh à?

-Ông dẫn tôi ra tiệm may và nói con cứ lựa tùy thích. Vậy là tôi chọn màu đen. Tuyết thích tôi mặc màu gì?

-Anh to con, trông rất thư sinh, mặc màu sáng đẹp hơn.

-Nhưng tôi đã may đến bốn bộ như thế này.

-Thế còn giày?

Phúc chìa bàn chân ra khỏi gầm bàn. Giầy da đen láng vớ thì trắng.

-Không được. Tuyết nói. Tôi phải mua cho anh mới được. Giày thì ở cửa hàng tôi nhiều loại rất sang, tôi sẽ đem cho anh.

-Nhưng Tuyết đừng quên tôi là một nhà tu, tôi không thể ăn diện như người thành phố được.

-Bây giờ anh không còn là nhà tu nữa. Anh cứ ăn mặc theo ý tôi đi, không thì tôi sẽ chê anh.

Tuyết rút ra một điếu thuốc đưa cho Phúc. Phúc nói:

-Tại sao tôi lại phải hút thuốc và uống bia?

-Vì đi chơi với tôi anh không thể uống sữa hay nước trái cây, hay ăn yaourt.

-Tôi có thể sẽ chẳng ăn uống gì cả. Tôi sẽ mặc áo chùng đen mà ngồi nhìn Tuyết. Tôi cứ mặc áo chùng đen mà đi chơi với Tuyết không được à? Mặc áo chùng tôi thấy rất đẹp.

-Anh bướng quá. Thế mà lúc đầu tôi cứ nghĩ anh là đứa trẻ con. Tóm lại là anh không thích tôi chọn quần áo và giày cho anh phải không? Nếu vậy thì vĩnh biệt nhé.

Chàng trai đứng bật dậy đưa tay ra ngăn:

-Ôi, lạy Chúa!

-Thôi, tôi không đi đâu. Tôi ngồi xuống đây. Anh cũng ngồi coi nào.

Phúc ngồi xuống và nói:

-Xin tha lỗi. Bây giờ mình đi ra chợ nhé.

-Uống hết bia đã. Ðiếu thuốc của anh đâu rồi?

Phúc nhìn quanh quất và cúi xuống nhặt, lúc ngẩng lên vai anh va vào bàn làm ly bia ngã nhào lăn xuống đất vỡ tan tành. Mọi cặp mắt của các thực khách đều quay lại nhìn. Tuyết cả cười còn anh thì mắc cỡ. Người phục vụ bước nhanh đến lau bàn, thu dọn các mảnh thủy tinh vỡ và rót đầy một ly bia khác. Phúc bưng ly lên nốc cạn rồi tự động rót đầy. Lại nốc cạn. Trong khi đó thì Tuyết tựa ngửa vào lưng ghế khoanh tay mà nhìn.

Chàng trai cứ lẳng lặng rót bia vào ly mình và nốc cạn, không nhìn ai. Hai chai bia trên bàn đã hết. Chàng bảo người phục vụ:

-Cho tôi năm chai nữa.

Tuyết cứ để mặc, cứ khoanh tay ngồi nhìn cái trò quái gỡ đang diễn ra trước mắt mình. Chàng trai tránh không nhìn cô nhưng cũng không có gì hấp tấp hay tỏ ra tức giận. Chàng mỉm cười bâng quơ, lơ đãng nhìn ra đường và cứ ngồi uống suông như thế, hết ly này đến ly khác một cách từ tốn chững chạc.

Ðến chai bia cuối cùng chàng mới nhìn cô bạn gái của mình và hỏi:

-Nếu Tuyết thấy rằng tôi đã uống đủ thì nên uống chai này.

Vẫn khoanh tay trước ngực, lưng tựa vào ghế, Tuyết bình thản nói:

-Anh rót cho tôi đi.

Nhưng cô chỉ uống có hơn nữa ly đã thấy hai má phừng phừng, đầu thì choáng váng. Chàng trai lặng lẽ uống hết phần còn lại và bảo cô gái.

-Tôi đưa Tuyết về.

Tuyết cố gắng đi một mình theo chàng trai ra chỗ gởi xe. Phúc vẫn tỉnh như không, chàng cho xe chạy chậm sát lề bên phải. Tuyết càng lúc càng thấy choáng váng, cô phải cố gắng lắm mới khỏi gục vào lưng chàng trai.

*

Buổi sáng biển phẳng lặng nhưng chàng không dám đi đâu xa. Chàng cứ quanh quẩn xung quanh căn phòng của Tuyết và mẹ chàng. Chàng ngồi trên bậc thềm nhìn ra biển và thấy nó giống như một cánh đồng cỏ rộng mênh mông. Ở Ðà Lạt chàng không bao giờ được nhìn thấy một khoảng rộng mênh mông phẳng lặng như thế, chỉ có rừng thông, và rừng thông, nhiều tầng, trùng trùng điệp điệp, đầy gió và đầy tiếng chim. Chàng tưởng tượng biển sẽ dữ dội hơn thế, sẽ nổi sóng cuồng nộ gào thét, nhưng hôm nay chàng lại gặp biển phẳng lặng, êm ả, hiền hòa. Chàng đã thức dậy quá sớm nhưng biển vẫn ánh lên vẻ sáng bạc trầm ngâm của nó. Chàng đi bộ một lúc trên cát, cầu nguyện rồi trở về ngôi nhà nhỏ bên sườn núi. Tuyết và mẹ chàng vẫn chưa thức dậy, chàng ngồi nơi bậc thềm và chờ, cũng như chàng chờ tiếng chim hót trong bụi cây, cái tiếng trong trẻo lạ lùng ấy chiều hôm qua đã vang lên giữa im lặng tĩnh mịch làm chàng giật mình. Ðó là lúc chàng và những người thân của mình vừa đặt hành lý xuống thềm nhà. Con chim đã đón chàng bằng tiếng hót của nó. Nửa đêm chàng nằm thức nghe biển. Biển vừa vỗ về vừa trách móc. Và chàng thức dậy cầu nguyện. Lúc ấy chàng hoàn toàn quên đi hình ảnh Tuyết, chàng tưởng như mình đang ở trong giáo đường hay trong căn phòng đá tảng xám xịt lạnh lẽo. Chàng thấy tim mình thắt lại đau nhói và chàng gục xuống lúc quá nửa đêm.

Nhưng sáng ra thì chàng nhớ Tuyết quay quắt. Chàng đến ngay dưới cửa sổ phòng Tuyết mà ngồi chờ, chàng muốn gọi Tuyết thức dậy và rủ cô đi chơi trên bãi biển vắng vẻ. Chàng nhớ cái miệng cười. Nó như chế giễu chàng mà không có ác ý, mà đấy sự âu yếm. Chàng chưa bao giờ thấy ai có hàm răng đẹp như Tuyết. Chàng sẽ dâng linh hồn mình cho cô để cô xé nó tơi tả ra bằng hàm răng của mình, chàng sẽ chẳng hề kêu khóc. Lúc ấy chàng chỉ còn là một cái bóng nhẹ tênh cứ quanh quẩn bên chân cô. Suốt đời quanh quẩn bên chân cô đã là điều vĩ đại rồi, chẳng cần thiên đường, chẳng cần tiền bạc danh tiếng hay quyền lực. Cái ước muốn lạ lùng ấy cứ ám ảnh chàng mãi và chàng ngồi đợi Tuyết mà nhớ xót xa cái miệng cười. Chàng đi đi lại lại nơi khung cửa nhỏ, huýt sáo và hắng giọng. Bỗng nhiên Tuyết hiện ra nơi ấy, tóc rối, quần áo ngủ nhầu nát.

-Tôi đợi Tuyết đã lâu lắm.

Tuyết cười và đưa bàn tay cho chàng qua cửa sổ. Bàn tay của cô gái mới ngủ dậy ấm áp tròn trịa và dịu dàng. Chàng đang đứng dưới thấp nên kiễng chân mới dụi được mặt mình vào lòng bàn tay cô gái, chàng kêu lên, rụng rời tay chân. Chàng phải đứng tựa vào tường mới khỏi ngã. Lúc ấy Tuyết đã biến mất rồi.

Lát sau Tuyết hiện ra, hoàn toàn khác: Áo tắm hai mảnh, tóc đen mượt. Chàng quay mặt đi như thể đang giận dỗi.

-Anh không thích tôi mặc như thế này à?

-Không.

-Vậy thì ra biển phải mặc như thế nào, chẳng lẽ áo chùng đen?

-Tôi vẫn thường tưởng tượng Tuyết trong chiếc áo chùng đen, nhất là những ngày trở lại tu viện. Ðó là cái tuần lễ khủng khiếp nhất đời tôi. Tôi đứng một mình nhìn rừng thông, nhìn thung lũng, chỗ nào cũng thấy Tuyết mặc áo chùng đen, tóc cũng đen, bay phấp phới cùng với hai ống tay rộng. Tuyết chập chờn trên thung lũng, ẩn hiện trong sương khói. Tôi tưởng như sắp hóa rồ, như đang bị quỷ ám. Tuyết mà mặc áo chùng đen thì trên đời này không có ai sánh bằng. Hãy mặc đi và tôi suốt đời thờ lạy cô.

-Anh không thích nhìn tôi mặc áo tắm chứ gì?

-Hãy đi xuống biển một mình đi.

Khi nghe tiếng chân cô gái bước trên cát, lòng chàng nôn nao. Chàng nhìn những đám mây đang cuồn cuộn phía chân trời. Những đám mây hửng sáng nhưng biển thì vẫn điềm đạm. Tuyết đã mất hút nơi nào. Chàng lặng lẽ tháo giày ném trên kè đá và cứ mặc nguyên bộ quần áo rộng thùng thình đi lần xuống bãi cát ẩm ướt. Những con sóng nhỏ tạt nước lên chân chàng, biển thở mạnh và thổi vào mặt chàng vị nồng của muối. Chàng cảm thấy khỏe mạnh và vui, chàng lội xuống nước. Lúc ấy Tuyết từ ngoài xa bơi vào theo kiểu ếch, đầu cô ngụp lên ngụp xuống theo nhịp chậm.

-Ra đây, đức cha!

Tuyết trồi lên và đưa tay vẫy. Chàng ngạc nhiên thấy cánh tay trần của cô bóng ngời lên một màu da thịt rực rỡ. Tuyết lại giơ tay vẫy gọi:

-Ðức cha, ra đây chơi!

-Không biết bơi.

-Con sẽ cứu cha. Ra đây đi.

-Chết chìm ngay.

-Con rất thích được thấy đức cha chết chìm.

-Thật không?

-Thật.

Thế là chàng xăm xăm đi thẳng ra chỗ cô gái đang bơi.

-Khoan đã. Tuyết la lên. Cởi quần áo ra đi chứ.

Nhưng chàng đã bị ngập đến ngực. Rồi nước lên tới cổ. Lúc ấy chàng nghĩ: ta là con cừu Panurge duy nhất còn sót lại. Chàng biết rằng nếu mình bước thêm một bước nữa thì sẽ bị hụt chân chìm lỉm nhưng chàng không dừng lại. Lập tức chàng chới với và chìm xuống. Trong lúc chàng vùng vẫy cố ngoi lên, chàng nghe thấy tiếng cười khúc khích của cô gái và trong ký ức chàng hiện rất rõ hàm răng ngời bóng. Tuyết chạm mạnh vào lưng chàng và đẩy chàng lên, xô chàng dạt theo ngọn sóng.

-Ðứng xuống đi!

Chàng đặt chân xuống, chân chạm đất. Nhưng chàng lại ho sặc sụa, nước trào ra mũi.

Hai người lên bờ và ngồi nơi kè đá. Nước từ tóc và quần áo chàng chảy ròng ròng. Cô gái hỏi:

-Anh giận tôi không?

-Không bao giờ. Hãy bày ra trò chơi khác đi, tôi sẽ làm theo đến khi nào thực sự chết.

-Hay quá! Nhưng anh đừng mách với hai bác nhé.

-Vâng.

-Anh Phúc này! Anh học bơi đi chứ. Nếu có đi vượt biên thì anh sẽ có nhiều hy vọng sống sót hơn.

-Nhưng tôi vượt biên làm gì?

-Vì người ta sẽ không để anh sống yên ổn đâu.

-Tại sao?

-Vì anh không có hộ khẩu thành phố. Anh sẽ không xin được việc làm, anh muốn mở sản xuất kinh doanh cũng không được. Anh sẽ chỉ có thể sống như một chàng trai tầm thường mà thôi.

-Nhưng tôi chỉ cần có Tuyết thôi. Ngoài ra không cần gì cả. Tôi làm một người hành khất cũng được.

-Nhưng tôi không ưa những người hành khất đâu.

-Thì Tuyết đi làm, tôi ở nhà nấu ăn, rửa chén, giặt quần áo cho Tuyết.

-Ðàn ông ai lại làm thế.

-Mặc kệ đàn ông. Còn tôi chỉ thích như thế.

-Bướng. Anh chẳng có chí khí, chẳng có hoài bão gì sao?

-Hoài bão gì?

-Anh sẽ sang Mỹ hay Úc. Anh giỏi ngoại ngữ, có sức khỏe, anh có thể làm ra tiền và sống thong thả, đầy đủ. Anh không thích như thế à?

-Không. Tôi chỉ thích rửa chân cho em.

-Nhưng sẽ không có chân cho anh rửa đâu.

-Sao vậy?

-Vì tôi sẽ đi. Ði vượt biên. Tôi sẽ đi một mình.

-Cho tôi đi với.

-Anh theo tôi làm gì?

-Làm cái bóng của em.

-Mờ nhạt thế?

-Rất mờ. Khi yêu em tôi muốn xóa nhòa tôi.

-Xóa bằng cái gì?

-Cái nhìn của em. Nó làm tôi rung động, giống như tôi đang ôm em trong tay.

-Sẽ không bao giờ anh ôm được tôi đâu.

Cô nói và phóng xuống biển mất hút dưới làn nước xanh, chàng đứng ngẩn ngơ trên kè đá cho đến khi cô gái ngoi lên và bơi trườn sấp ra ngoài xa. Nắng rực rỡ trên biển, nước xanh và trong vắt. Tuyết lặn sâu xuống, nắng sớm làm cho da thịt cô trắng ngần và ngời sáng. Cô lộn một vòng để ngắm hai đùi mình rồi thở ra thật mạnh cho bong bóng nổi lên như hoa thủy tinh. Tuyết từ từ chìm xuống cho đến khi cô chạm phải một luồng nước lạnh mới búng chân trồi lên. Mặt biển vẫn phẳng lặng đợi cô. Cô nhìn thấy hàng dừa ở tít xa trong bờ, những mái nhà và xe cộ. Chàng trai không còn ngồi trên kè đá nữa, chàng đã lẩn khuất đâu đó hay đã tự xóa nhòa?

 *

Trên nền đỏ tía của chiếc váy rộng có in những cái hoa màu đen, tím than và xám, Tuyết và chàng trai từ bãi cát đi vào chỗ có hàng quán. Cô mặc cái váy ấy trông giống như một bà đầm lộng lẫy. Hai người bước những bước dài vừa đi vừa nói chuyện. Ông Thịnh và Bà Thúy ngồi nhậu nơi một cái bàn kê dưới gốc cây bàng, tiếng sóng át cả tiếng cười nói của đôi bạn trẻ dù họ đã đến sát chỗ hai ông bà ngồi. Phúc có vẻ linh hoạt hơn hôm mới đến rất nhiều, chàng mặc một chiếc sơ mi kẻ sọc rộng và dài trông vừa ngô nghê vừa đáng yêu.

Ông Thịnh mặc quần tắm màu hạt dẻ và mang kính mát. Ông nhìn những sợi lông mọc lưa thưa trên ngực chàng trai khi chàng đến ngồi gần và phanh ngực áo ra cho thoáng. Ông quàng tay qua ôm vai chàng và hỏi:

-Có tiến bộ gì không?

Tuyết nói:

-Hễ cứ ngụp đầu xuống là ảnh phải bịt mũi, không còn tay đâu mà bơi.

Phúc lắc đầu tự chế giễu mình. Chàng cắm cúi ăn món gan bò mà chàng rất thích. Ông Thịnh ngồi nhìn con trai mình ăn và rất hài lòng về sự mạnh bạo trong cách nhai, cách nâng cốc. Còn Bà Thuý thì thấy con trai mình giống hệt hình ảnh ông Thịnh thu nhỏ lại một chút. Phúc uống rượu vang đỏ rất nhiều nhưng chàng chê:

-Không ngon bằng rượu lễ.

-Vì rượu lễ con uống ít nên thấy ngon.

-Không phải đâu ba. Rượu lễ ngon ghê lắm. Từ bên Tòa Thánh Vatican gởi qua, đựng trong thùng gỗ. Ðức cha rất thương con, ngài thường gọi con đánh đô mi nô và cho con uống rượu lễ chiết ra trong chai đựng sâm banh. Cái màu đỏ của nó tuyệt lắm.

Ông Thịnh:

-Hồi ở Pháp ba cũng rất mê vang đỏ. Ở Mantes La Jolie thường ngày ba đi câu cá trên sôngSeine. Ăn cá nướng và uống vang đỏ. Bây giờ ba vẫn nhớ những ngày ấy.

Bà Thúy:

-Vậy thì ông càng nên đi với chúng tôi.

-Tôi già rồi, còn đi đâu nữa.

Tuyết bẻ gập ống hút, thắt thành cái nơ.

Chàng trai liếc nhìn Tuyết rồi cười. Tuyết nói:

-Bác còn nhiều thời gian để suy nghĩ mà. Con đi chơi đây.

Cô xoay người, và cái váy sặc sỡ bung ra, tóc cô cũng bay về phía ấy. Phúc xô ghế đứng dậy:

-Xin phép ba, mẹ.

Và chàng chạy theo cô gái.

Buổi chiều đến rất nhanh trên thành phố. Ðàn yến trắng bay ríu rít trong bóng hoàng hôn đã nhạt và mỏng dần trên mặt biển mù mịt. Mặt trời lặn trên biển, đỏ chót. Phúc lẽo đẽo theo sau cô gái. Gió biển cứ làm cho váy cô tốc lên, cứ phần phật, còn tóc thì chảy mạnh mẽ như suối. Hình ảnh ấy mê hoặc chàng, chàng gọi:

-Tuyết ơi, Tuyết!

Nhưng cô gái đi rất nhanh, đi lẩn trong bóng chiều, trong đêm tối. Chàng đuổi kịp cô gái khi mặt biển bị xóa nhòa trong bóng tối, chỉ còn nhìn thấy những vì sao trên cao và những đốm lửa dưới thấp. Biển đen và sâu thẳm nhưng hơi thở của nó mạnh mẽ tạt vào lồng ngực. Chàng ôm ghì cô gái trong tay và cảm thấy cái nóng của miền nhiệt đới trên cổ cô gái. Biển thổi vào giữa hai người, tóc cô gái đập vào mặt chàng đau rát, môi chàng dính những hạt cát nhỏ. Cô gái gái giãy dụa và cắn chàng:

-Anh đã trở thành người khác rồi.

Nhưng gió đã làm chàng rạo rực khủng khiếp. Chàng quỳ xuống dưới cát mịn vòng tay ôm qua lưng cô gái, áp mặt vào cái bụng mềm mại. Chàng nói:

-Cái hàm răng đẹp của em đâu. Hãy cắn tôi đi. Hãy cắn chết tôi đi. Hãy xé linh hồn tôi cho tả tơi từng mảnh.

-Anh điên rồi à?

-Ừ.

-Tôi rất ghét những kẻ nói lảm nhảm.

-Kệ em. Hãy cắn đi.

Tuyết đành quỳ xuống theo chàng trai và ôm lấy đầu chàng. Phúc say mềm, buông tay nằm ngửa trên cát. Ðêm vuốt ve họ bằng sự im lặng dịu dàng. Chàng trai nói:

-Suốt gần mười năm đi tu anh chỉ trò chuyện với những bức tường đá lạnh lẽo, những bức tường cao xám xịt và thiêng liêng. Anh trò chuyện với Chúa trong cái tĩnh mịch ấy. Trên những mái vòm, trên những cửa kính lúc nào cũng như ửng ánh hào quang của Chúa. Những tường đá cừ thỉnh thoảng vang lên những bước chân, tiếng thở và giọng nói trầm ấm của Chúa chạy lan trong từng gân đá tảng. Những lúc như thế lòng anh tràn ngập niềm vui, trong sạch như pha lê. Ðó là những cảm xúc mà em không thể nào biết được, mà ngoài những người tu kín ra không ai có thể trải qua. Những đồng thời cũng không ai trải qua được nỗi nhớ cuồng dại sau khi anh gặp em và trở về giữa những căn phòng đá xám rộng thênh thang đó. Một sự lạnh lẽo khủng khiếp, nỗi hoang vắng và cô đơn vô bờ bến. Anh nhìn mặt trời cũng thấy ảm đạm, nhìn đóa hoa nở trong vườn thấy trơ trẽn, nhìn rừng, rừng lặng thinh quay mặt đi. Em không thể hiểu được là lúc ấy anh nhớ tới mức nào. Anh đi lang thang mà như lạc trong nghĩa trang, đi giữa mộ bia bỏ quên lâu ngày rêu phủ. Những con dốc giữa trưa anh leo lên mệt lử ngồi nhìn dòng suối khô cạn. Thời gian ấy thật khủng khiếp.

-Ai dạy anh cái thói yêu đương như thế?

-Ba anh bảo thời trai trẻ ông cũng như thế. Liều lắm.

-Nhưng chắc là không có chuyện trèo tường trốn đi giữa đêm khuya như anh.

-Em có biết những bức tường đá ở tu viện như thế nào không? Cao ba mét, xây bằng đá ong sần sùi. Anh phải leo ở đoạn vắng vẻ nhất cách xa chỗ ông già và con chó ngao. Chỗ ấy gai góc mọc chằng chịt, anh luồn trong bụi gai, áo chùng mắc nhì nhằng gỡ hoài không ra, cuối cùng anh đu lên một sợi dây leo rướn người lên cố bấu lấy bờ tường. Lúc ấy con chó sủa dữ dội, nó chạy đến, sục sạo trong lùm gai nhưng khi nhận ra anh thì nó im lặng lảng đi. Anh nằm mọp trên đầu tường, ngực ê ẩm vì bị xây xát. Anh bám dây leo để tuột xuống nhưng nửa chừng thì dây đứt. Trời tối đen như mực, anh rơi xuống như hòn đá không biết lăn vào cái gì mà như bị trăm ngàn mũi kim châm sâu vào da thịt. Lúc hoàn hồn ngồi dậy mới biết kiến bu đầy mặt mũi tay chân, chui rúc cả trong quần áo lót. Anh chạy như bị ma đuổi, băng qua khu rừng thông đến một ngọn suối và nằm gục nơi đó. Thế mà lúc còn nằm thao thức trên giường anh nghĩ mình có thể chạy một mạch về tới Sài Gòn, đến ngay nhà em giữa đêm, bắt cóc em đi.

-Anh có máu điên trong người.

-Không phải. Nhưng anh mê em quá. Mê như điếu đổ. Ừ điếu đổ là gì em có biết không?

-Chẳng biết.

-Anh cũng không biết.

-Không biết sao anh lại nói?

-Vì anh không biết diễn tả cách nào để em hiểu về chuyện anh mê em.

-Em có gì đâu mà anh mê?

-Mê hàm răng.

-Thôi, hàm răng hoài chán lắm.

-Không chán. Không có cái gì của em làm anh chán. Em cứ cho anh một cái gì đi. Chẳng hạn như một cái cúc áo, anh sẽ chơi với nó suốt ngày không chán.

-Nhưng đến ngày thứ hai thì anh chán.

-Không bao giờ. Hay là em cho anh cái áo em đang mặc.

-Ðể làm gì?

-Anh mặc.

-Anh dám mặc em cho liền.

-Mặc ngay.

-Mặc ra đường?

-Ra đường thì anh khoát thêm chiếc áo chùng đen. Chẳng ai biết.

Tuyết quay mặt đi:

-Thôi mệt, không nói nữa.

-Nhưng anh thích nói.

-Thì anh ngồi đây mà nói một mình. Tôi về.

Rồi Tuyết bỏ chạy. Phúc la lên:

-Có cái gì lù lù ngoài biển kìa.

Cô gái cũng vừa nhận ra một con quái vật khổng lồ nhô mình lên khỏi mặt nước, cô rú lên và chạy ngược lại. Phúc đón lấy cô gái ôm siết vào lòng. Tuyết nhắm mắt lại run rẩy hỏi:

-Con gì vậy?

-Chẳng có con gì cả, khi nước rút xuống thì mô đá hiện ra.

(Còn tiếp …)

ĐÀO HIẾU

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.