Hai loại-Truyện Amy Tan/Nguyễn Thị Hải Hà dịch

ĐỌC

truyenngan3

HAI LOẠI

(TWO KINDS)

 

 

amy-tan

AMY  TAN

 

Nguyễn thị Hải Hà  dịch

(gio-o)

into-the-abyss

 Mẹ tôi tin rằng bạn có thể là bất cứ mẫu người nào bạn muốn ở Hoa Kỳ. Bạn có thể mở nhà hàng. Bạn có thể làm việc cho chính quyền và được hưởng lương hưu rất tốt. Bạn có thể mua một căn nhà mà không cần phải đặt số tiền “ứng trước.”[2] Bạn có thể trở nên giàu có. Bạn có thể trở nên nổi danh ngay tức khắc.

“Con có thể là thần đồng,” mẹ tôi bảo tôi lúc tôi chín tuổi. “Con có thể là người giỏi nhất trong bất cứ bộ môn nào. Bác Lindo thì biết cái gì chứ? Con của Bác ấy, con bé ấy chỉ có ranh mãnh là giỏi thôi.”

Hoa Kỳ là nơi mẹ tôi đặt tất cả hy vọng vào. Bà đến xứ này năm 1949 sau khi đánh mất tất cả ở Trung quốc: cha mẹ của bà, ngôi nhà của gia đình, người chồng đầu tiên, và hai đứa con gái sinh đôi. Nhưng bà không bao giờ nhìn lại quá khứ bằng tiếc nuối; Bởi vì có rất nhiều cách để làm cho cuộc đời trở nên tốt đẹp hơn.

Chúng tôi đã chẳng chọn lựa ngay lúc ấy thể loại thần đồng cho thật sự thích hợp. Đầu tiên mẹ tôi cho rằng tôi có thể là một cô bé Shirley Temple[3] người Hoa. Hai mẹ con xem phim cũ của Shirley trên TV như thể mấy cuồn phim này là phim giáo dục của điện ảnh. Mẹ tôi thường khều cánh tay tôi rồi nói, “Ni kan” – Hay là “nhìn kìa con.” Và tôi sẽ nhìn Shirley nhịp chân, hay hát một bài ca dành cho thủy thủ, hay chúm môi thành chữ O tròn vo khi nói, “Ô, tốt quá.”

“Ni kan,” mẹ tôi nói trong khi đôi mắt của Shirley bắt đầu đong đầy nước mắt. “Con biết cách diễn rồi. Không cần có tài để biết khóc!”

Không mấy lâu sau khi mẹ tôi nảy sinh ý nghĩ về Shirley Temple, bà dẫn tôi đến trường đào tạo chuyên viên thẩm mỹ ở khu vực Mission và đặt tôi vào tay của những học sinh mới, chưa hết run tay khi cầm kéo cắt tóc. Thay vì có được những lọn tóc xoăn giống như Shirley Temple, tôi ra khỏi tiệm với mớ tóc tua tủa trên đầu chỗ cao chỗ thấp. Mẹ lôi tôi xềnh xệch vào phòng vệ sinh và cố vuốt tóc tôi bằng nước cho chúng nằm yên xuống.

“Con giống như một người Trung hoa gốc da đen,” bà than thở, làm như tôi cố ý gây ra chuyện này.

Vị giáo viên của trường đào tạo thẩm mỹ đã phải cắt lại mái tóc ướt chèm nhẹp của tôi để tóc đều hơn. “Peter Pan hiện nay rất nổi tiếng,”[4] ông thầy cố gắng trấn tĩnh mẹ tôi. Bây giờ tôi có mái tóc ngắn như tóc con trai, mớ tóc trên trán được cắt thành một đường ngang hơi xéo khoảng năm phân phía trên chân mày của tôi. Tôi thích mái tóc mới cắt này và mong được nổi tiếng trong tương lai.

Thật ra là, ngay từ lúc đầu, tôi cũng rất phấn khởi chẳng thua gì mẹ tôi, có lẽ còn hơn nữa. Tôi hình dung cái tôi là thần đồng này là một trong nhiều hình ảnh khác (về tôi). Tôi cố tìm xem cái hình ảnh nào vừa vặn với chính tôi. Tôi thấy tôi là một cô bé học mua ba lê đứng bên cạnh bức màn sân khấu, chờ nghe cho đúng khúc nhạc. Khúc nhạc này sẽ đưa tôi bay lả lướt vào sân khấu nhẹ nhàng trên đầu mấy ngón chân. Tôi thấy tôi giống như Chúa Hài Đồng được nâng ra khỏi máng cỏ, cất tiếng khóc đầy thánh thiện. Tôi là nàng Cinderella bước ra khỏi cỗ xe làm bằng quả bí đỏ trong khi những nốt nhạc bay nhảy như tranh hoạt họa lấp lánh trong không gian.

Với tất cả hình ảnh tôi tưởng tượng, trong tôi tràn đầy một thứ cảm giác rằng tôi sẽ nhanh chóng trở nên một cô bé toàn hảo. Bố mẹ sẽ rất ngưỡng mộ tôi. Tôi sẽ không bao giờ bị trách mắng nữa. Tôi sẽ không bao giờ cảm thấy cần phải phụng phịu giận hờn vì bất cứ điều gì.

Nhưng đôi khi vị thần đồng trong tôi trở nên thiếu kiên nhẫn. “Nếu mi không nhanh chóng lên và đưa tau trốn thoát nơi này, tau sẽ biến mất mãi mãi,” nó báo trước. “Và mi sẽ chẳng là cái gì xứng đáng cả.”

 

Mỗi ngày sau bữa ăn tối, mẹ tôi và tôi ngồi ở bàn ăn làm bằng nhựa formica. Bà đưa ra những bài tập mới, lấy từ những câu chuyện về trẻ em phi thường bà đọc được trong Ripley’s Believe It or Not,[5] hay là Good Housekeeping,[6] Reader’s Digest,[7] và cả chục loại tạp chí khác bà chất chồng trong phòng vệ sinh. Mẹ tôi thâu nhặt những tạp chí này trong mấy căn nhà bà dọn dẹp thuê. Mỗi tuần số nhà bà dọn dẹp rất nhiều, cho nên chúng tôi có nhiều từng ấy tạp chí. Bà đọc tất cả tạp chí này và tìm những câu chuyện về mấy đứa trẻ phi thường.

Đêm đầu tiên bà mang ra câu truyện về một cậu bé ba tuổi biết tên thủ đô của tất cả tiểu bang (Hoa Kỳ) và hầu hết tên thủ đô của các quốc gia châu Âu. Một người giáo viên, thể theo lời kể lại, đã bảo rằng cậu bé này có thể phát âm rất đúng tên các thành phố ngoại quốc này.

“Thủ đô của Phần Lan là gì?” mẹ tôi hỏi tôi, mắt vẫn nhìn vào quyển tạp chí.

Tôi chỉ biết tên thủ đô của California, vì Sacramento là tên con đường chúng tôi đang ở, trong Chinatown (phố Tàu). “Nairobi!” Tôi đoán, nói lên cái tên ngoại quốc nhất mà tôi có thể nhớ ra. Bà kiểm soát cách phát âm của bà chữ “Helsinki” có đúng không, trước khi cho tôi biết câu trả lời.

Những câu đố càng lúc càng khó hơn – làm toán nhân thầm, tìm con đầm cơ trong bộ bài, cố đứng ngược, bằng cái đầu, mà không sử dụng đến tay chân, và ngay cả đoán nhiệt độ hằng ngày ở Los Angeles, New York, và London.

Có một buổi tối tôi phải tìm một trang trong quyển Thánh Kinh, đọc chừng ba phút và sau đó kể lại tất cả chi tiết mà tôi có thể nhớ. “Bây giờ Jehoshaphat đã trở nên rất giàu có và vinh hạnh. . . con chỉ có thể nhớ chừng ấy thôi, Mẹ,” Tôi nói.

Và sau khi nhìn bộ mặt đầy vẻ thất vọng của mẹ tôi lần nữa, có cái gì đó ở bên trong tôi bắt đầu chết đi. Tôi ghét những bài thi đố này, những hy vọng dâng lên rồi trở thành thất vọng. Trước khi đi ngủ đêm ấy, tôi nhìn vào tấm gương treo bên trên chậu rửa tay và khi thấy gương mặt của tôi nhìn ngược lại – và đó vẫn và sẽ mãi là gương mặt bình thường – tôi bắt đầu khóc nức nở. Thật là một cô bé buồn bã và xấu xí! Tôi khóc rống lên, gào the thé như con vật bị điên, cố cào cấu cho rách toang khuôn mặt trong tấm gương.

Rồi tôi nhìn thấy, cái dường như là, khía cạnh thần đồng của tôi – bởi vì tôi chưa thấy khuôn mặt ấy bao giờ. Tôi nhìn ảnh tôi trong gương, nháy mắt lia lịa để có thể nhìn cho rõ. Đứa con gái nhìn ngược lại tôi có vẻ giận dữ và mạnh mẽ. Cô bé này cũng giống tôi. Tôi có nhiều ý nghĩ mới, những ý nghĩ đầy cá tính mạnh mẽ, hay nói đúng hơn, đó là những ý nghĩ chứa đầy những điều phủ định, không nghe không nói không làm. Tôi sẽ không để cho cô bé này thay đổi tôi, tôi tự hứa như thế. Tôi sẽ không trở thành cái người trái với con người thật của tôi.

Thế là từ đó, những đêm mẹ tôi đưa ra những bài thi đố, tôi làm một cách uể oải cho có lệ, đầu tôi dựa vào một bên tay. Tôi giả vờ chán. Và tôi chán thật. Tôi chán đến độ tôi bắt đầu đếm tiếng còi hụ của hải đăng báo động sương mù cho tàu bè qua lại trên vịnh (San Francisco) trong khi mẹ tôi khảo sát tôi các bộ môn khác. Âm thanh của tiếng còi nghe vỗ về và nhắc nhở tôi bài ca dao có con bò nhảy lên cao vượt qua khỏi mặt trăng. Và ngày hôm sau, tôi thử một trò chơi với chính tôi, để xem mẹ tôi có thể chịu thua tôi trước khi có tiếng còi hụ lần thứ tám. Một thời gian sau, tôi thường chỉ đếm có một lần còi hụ, hay nhiều nhất là hai lần. Cuối cùng, mẹ tôi bắt đầu ngừng nuôi hy vọng.

 

Hai hay ba tháng trôi qua tôi không bị nghe nhắc đến chuyện tôi là thần đồng nữa. Và có một ngày mẹ tôi đang xem chương trình The Ed Sullivan trên TV. Cái TV cũ âm thanh có lúc nghe được có lúc không. Cứ mỗi lần mẹ tôi đứng dậy đi đến cái TV (để vặn nút điều chỉnh) được nửa đường, thì âm thanh lại phát ra và Ed đang nói chuyện. Vừa ngay sau khi bà ngồi xuống, Ed lại ngừng nói. Bà đứng dậy, TV phát ra tiếng nhạc rất ồn ào. Bà ngồi xuống. Im lặng.  Đứng lên và ngồi xuống, đi tới rồi đi lui. Trông như một cuộc khiêu vũ cứng đơ không có vòng tay ôm của bà và cái TV. Cuối cùng, bà đến đứng bên cạnh TV bàn tay thì đặt sẵn lên nút vặn.

Bà dường như bị âm nhạc mê hoặc, đó là một bản dương cầm điệu rất nhanh và hay đến độ có thể làm người nghe quên mất cuộc đời, có những đoạn dài có nhịp khá nhanh và sau đó là những đoạn ngắn hơn, líu lo như trêu chọc người nghe rồi quay trở lại với đoạn nhạc nhanh trước đó.

“Ni kan,” mẹ tôi gọi, vẫy tay lia lịa như hối thúc tôi, “Đến đây nhìn cái này nè.”

Tôi có thể hiểu tại sao mẹ tôi chú ý đến bản nhạc này. Bản nhạc được đập mạnh lên phím đàn dưới bàn tay của một cô bé Trung quốc độ chừng chín tuổi, có mái tóc hớt ngắn thật ngắn, theo kiểu Peter Pan. Cô bé này có cái vẻ hấp dẫn của Shirrley Temple. Cô bé có vẻ khiêm nhượng nhưng cũng đầy vinh hạnh y hệt như những cô bé Trung quốc. Và cô bé cũng biết cách nhún người, khẽ quỳ để chào, kiểu cách như chào công chúa, làm cho cái váy phồng màu trắng của cô trải dài trên nên nhà như những cánh hoa của một đóa cẩm chướng màu trắng.

Mặc dù với những dấu hiệu đầy báo động như thế, tôi lại chẳng lo sợ. Gia đình tôi không có đàn dương cầm và chúng tôi cũng chẳng có tiền để mua đàn, thì đừng nói gì đến chuyện phải mua nhạc bản và đóng tiền đi học đàn. Vì thế tôi có thể nói mà không cần phải tiết kiệm lời là có lẽ mẹ tôi sẽ chê bai hay nói xấu cô bé trên TV.

“Đúng phím cách gõ, không nghe hay! Nhạc không biết hát.”[8] mẹ tôi than phiền.

“Mẹ kiếm cách chê bai cô bé ấy để làm gì?” Tôi nói giọng thờ ơ. “Cô bé ấy đàn khá giỏi. Có thể cô không phải là nhạc sĩ tài ba nhất, nhưng cô bé đã cố gắng hết mình.” Tôi biết ngay lập tức tôi sẽ phải rất hối tiếc với những lời tôi vừa nói.

“Cũng như mày vậy,” mẹ tôi nói. “Không được giỏi nhất. Tại vì không cố gắng.” Bà thở phù hơi ra như nấc nghẹn lúc lấy tay ra khỏi cái nút vặn của TV và trở lại ngồi trên ghế sô pha.

Cô bé Trung quốc cũng ngồi xuống để đàn một đoạn ngắn cảm tạ khán giả, lập lại khúc nhạc cô vừa trình diễn trong bài “Anitra’s Dance” của Grieg.[9] Tôi nhớ tên bản nhạc vì sau đó tôi đã phải học để biết đàn bản này.

 

Ba ngày sau khi xem chương trình The Ed Sullivan, mẹ tôi lập thời khóa biểu bảo cho tôi biết lúc nào tôi phải học đàn dương cầm và lúc nào tôi phải tập đàn. Bà đã nói chuyện với Ông Chong, ông ở tầng trệt của khu chung cư này. Ông Chong là thầy giáo dạy môn dương cầm nay đã về hưu, và mẹ tôi đổi công việc dọn dẹp thành tiền để trả học phí cho dương cầm mỗi tuần một lần và mỗi ngày hai tiếng đồng hồ tập dượt từ bốn giờ đến sáu giờ.

Khi mẹ tôi bảo cho tôi biết điều này, tôi có cảm tưởng như mình mới bị tống vào địa ngục. Tôi cằn nhằn rên rỉ và đá bông lung khi tôi không còn chịu đựng được nữa.

“Tại sao mẹ không chịu thích con theo cái kiểu của riêng con? Con không phải là thần đồng! Con không thể đàn dương cầm. Cho dù con có thể đàn, con cũng sẽ không lên TV cho dù mẹ có trả lương cho con cả triệu đô la!”

Mẹ tát vào mặt tôi. “Ai bảo mày làm thần đồng?” Bà hét lớn. “Chỉ bảo mày cố hết sức thôi. Tốt cho mày. Mày tưởng tao muốn mày làm thần đồng? Hừ! Để làm cái quái gì? Ai bảo mày như thế!”

“Đồ vô ân,” Tôi nghe bà lẩm bẩm tiếng Trung quốc, “nếu mà nó có tài bằng với thói trả treo của nó, nó có thể nổi tiếng ngay từ bây giờ.”

Ông Chong, tôi lén đặt cho ông ấy cái tên Chong Cụ, là một người khá kỳ quặc, luôn luôn đánh nhịp bằng ngón tay cho một âm nhạc không tiếng của một ban nhạc vô hình. Trông ông có vẻ như một cụ già từ thời thiên cổ. Tóc trên đỉnh đầu của ông đã rụng gần hết, ông đeo kính thật dày, có đôi mắt đầy vẻ mệt mỏi và buồn ngủ. Nhưng có lẽ tính theo tuổi thật ông còn rất trẻ vì ông vẫn còn sống chung với bà mẹ và chưa lập gia đình.

Tôi đã gặp Bà cụ mẹ của ông Chong một lần và như thế cũng là quá đủ rồi. Bà có một cái mùi thật đặc biệt như mùi trẻ em bĩnh trong quần. Mấy ngón tay của bà giống như mấy ngón tay của người chết, như một quả đào cũ có lần tôi tìm thấy trong góc kẹt của tủ lạnh; da quả đào rơi tuột ra khi tôi vừa cầm nó lên.

Chẳng mấy chốc tôi đã tìm ra lý do tại sao Chong Cụ lại về hưu sớm và bỏ dạy dương cầm. Chong Cụ bị điếc đặc. “Giống như là Beethoven vậy!” ông hét to với tôi. “Cả hai chúng tôi đều có thể nghe tiếng nhạc trong đầu!” Và Cụ bắt đầu múa may như điên điều khiển các bản sonatas không có âm thanh.

Các bài học của chúng tôi bắt đầu như thế này. Cụ mở một quyển sách và chỉ vào nhiều thứ khác nhau, giải thích cách sử dụng của chúng: “Khóa! Giọng bổng (treble)! Giọng trầm (bass)! Không thăng hay giáng! Còn cái này là C major! Nghe rồi lập lại theo tôi!”

Sau đó ông đàn thử vài lần gam C, rồi một hợp âm đơn giản, và sau đó, như thể được cảm hứng từ một cơn ngứa ngáy ngày xưa không thể nào gãi được, ông dần dần thêm nhiều nốt nhạc và dạo những nốt láy với tiếng bass đệm theo cho đến khi bản đàn trở nên rất hay và trang trọng.

Tôi bắt chước ông, gam đơn giản, hợp âm đơn giản, và tôi cứ đàn đại những bản không có ý nghĩa gì cả, như tiếng con mèo chạy lên chạy xuống mấy cái nắp đậy thùng rác. Chong Cụ mỉm cười, khen ngợi, và nói, “Hay lắm! Nhưng bây giờ em phải học cách giữ nhịp!”

Và vì thế tôi khám phá ra mắt của Chong Cụ chậm quá nên không theo kịp những nốt nhạc tôi gõ sai. Ông kiểm tra mức nhanh chậm của tôi trong lúc nghỉ giữa hiệp. Để giúp tôi theo đúng nhịp, ông đứng sau lưng tôi, đẩy vai phải của tôi mỗi lần đến đúng nhịp và vẫn làm như vậy ngay cả lúc tôi tập gam và đánh theo nhạc điệu arpeggios[10]. Ông bắt tôi chụm mấy ngón tay vòng ngang quả táo, và cố giữ hình dáng ấy trong khi dánh gam. Ông đi thẳng tắp như tập quân hành đến chỉ cho tôi làm cách nào để mỗi ngón tay nhảy múa bung trên và thả xuống, ngắt âm như một chú lính bé con biết tuân lệnh cấp trên.

Ông dạy tôi tất cả những điều trên, và từ đó những buổi học này tôi nghiệm ra rằng, tôi có thể lười biếng mà vẫn tránh khỏi bị phạt với những lỗi lầm tôi đã phạm phải, vô số lỗi lầm. Khi tôi đánh sai nốt bởi vì tôi không tập dượt đúng mức, tôi không bao giờ tự sửa sai. Tôi cứ tiếp tục đánh đàn cho đúng nhịp. Và Cụ Non Chong tiếp tục điểu khiển giàn nhạc của ông trong giấc mộng riêng tư.

Và như thế có nghĩa là tôi đã chẳng dành cho mình một cơ hội tốt. Tôi học những bài căn bản rất nhanh, và rất có thể sẽ trở thành một dương cầm thủ khi tuổi còn rất trẻ. Nhưng tôi đã khăng khăng không học, không muốn bị biến thành bất cứ một người nào khác vì thế tôi chỉ học đàn những đoạn dương cầm dạo đầu chối tai nhất, với những bản thánh ca nhạt nhẽo nhất.

Suốt năm sau, tôi tập đàn như thế này, làm đúng bổn phận theo cách của tôi. Rồi đến một hôm tôi nghe mẹ tôi và người bạn của mẹ, bác Lindo Jong nói chuyện. Hai người đang nói rất to, giọng điệu đầy vẻ khoe khoang khoác lác, cốt ý nói cho người khác cùng nghe. Lúc ấy vừa xong lễ nhà thờ, tôi đang đứng dựa lưng vào bức tường gạch mặc áo đầm với cái áo choàng bên ngoài màu trắng thẳng thóm đến cứng đơ. Con gái của Bác Lindo, Waverly, trạc tuổi tôi đứng cũng cạnh bức tường nhưng cách xa tôi chừng một mét rưỡi. Chúng tôi cùng lớn lên với nhau và gần gũi với nhau như chị em ruột có nghĩa là cũng cãi lẫy dành bút chì màu và các con búp bê. Nói cách khác, phần lớn, chúng tôi ghét nhau. Tôi nghĩ là bạn ấy phách lối và giả dối. Waverly Jong đã trở thành người có chút tiếng tăm, được mệnh danh là “Quán quân Kỳ thủ Trung quốc trẻ tuổi nhất.”

“Cháu mang về quá nhiều giải thưởng,” Bác Lindo than thở ngày Chủ Nhật hôm ấy. “Cả ngày cháu chỉ đánh cờ. Cả ngày tôi chẳng có thể làm công việc gì ngoại trừ phủi bụi đóng trên giải thưởng của cháu.” Bác liếc mắt nhìn về phía Waverly, mặt đầy vẻ khiển trách, và cô nàng giả vờ như chẳng hề nhìn thấy bà mẹ.

“Bác thật là may mắn không bị nỗi phiền toái này,” Bác Lindo vừa nói vừa thở dài với mẹ tôi.

Thế là mẹ tôi ưỡn ngực ra mà nói khoác: “Cái phiền toái của tôi còn tệ hơn cái của bác gấp mấy lần. Nếu tôi bảo Jing-mei rửa bát, nó chẳng nghe thấy gì ngoại trừ âm nhạc. Bác không thể gián đoạn cái tài năng tự nhiên này.

Và ngay lúc ấy tôi nhất quyết phải chấm dứt sự kiêu hãnh lố lăng này.

 

Vài tuần sau, Chong Cụ và mẹ tôi âm mưu bắt tôi tham gia chương trình biểu diễn tài năng tổ chức ở đại sảnh của nhà thờ. Lúc ấy, bố mẹ tôi đã để dành tiền đủ để mua cho tôi một cái dương cầm cũ, loại Wurlitzer Spinet, với một cái ghế ngồi đã trầy trụa nhiều chỗ. Cái đàn này là của để trưng bày trong phòng khách nhà tôi.

Trong buỗi trình diễn tài năng này, tôi sẽ đàn một bản nhạc tên là “Pleading Child” (Đứa Bé Năn Nỉ) trích trong Scenes from Childhood (Cảnh Tượng Thời Thơ Ấu) của Schumann. Bản nhạc này đơn giản, hơi có chiều ủ ê, nghe có vẻ khó đàn nhưng thật ra thì không khó. Tôi phải học thuộc lòng toàn bản đàn, ở đoạn điệp khúc tôi sẽ lập lại để bản đàn có vẻ dài hơn. Nhưng tôi nhẩn nha với đoạn này, được vài nhịp khúc (bar) rồi dở trò dối trá, lén nhìn lên bản nhạc để đọc những nốt nhạc tiếp theo. Tôi chẳng hề chú ý lắng nghe khúc nhạc tôi đang đàn. Tôi mơ mộng mình đang ở một nơi khác và là một kẻ khác.

Cái phần mà tôi thích tập dượt nhất là cách quỳ để chào thật long trọng: chân phải đưa ra, chạm vào hình cái hoa hồng trên thảm với mấy đầu ngón chân, kéo chân sang một bên, chân trái khẽ quỳ xuống, nhìn lên, và mỉm cười.

Bố mẹ tôi mời tất cả các cô chú trong Câu Lạc Bộ Joy Luck (Niềm vui và May mắn) để chứng kiến buổi trình diễn đầu tiên của tôi. Bác Lindo và Bác Tin cũng có mặt ở đó. Waverly và hai người anh cũng đến. Hai hàng ghế đầu được đám trẻ, nhỏ hơn tôi cũng có mà lớn hơn tôi cũng có, ngồi chật hết. Trẻ nhỏ được lên trước. Các em đọc thuộc lòng những bài hát ru em, hay phát ra tiếng cót két như tiếng chim bằng mấy cây đàn vĩ cầm tí hon, lắc vòng Hula chung quanh bụng, nhảy múa trong những bộ váy ngắn xòe vũ ba lê màu hồng, rồi các em cúi đầu hay nhún chào, khán giả đồng thanh kêu lên một cách ngưỡng mộ, “Ô ô ô,” và vỗ tay nồng nhiệt.

Đến phiên tôi, tôi rất tự tin. Tôi nhớ cái phấn khởi thật trẻ con của tôi. Như thể là tôi biết, hoàn toàn chắc chắn, cái khía cạnh thần đồng của tôi thật sự hiện diện. Tôi chẳng có chút sợ hãi nào, cũng chẳng thấy lo lắng. Tôi nhớ là tôi thầm nghĩ. Đến lúc rồi! Đến lúc rồi! Và tôi nhìn ra chỗ khán giả, nhìn khuôn mặt không để lộ ý nghĩ của mẹ tôi, cái ngáp của bố tôi, nụ cười gượng của Bác Lindo, nét mặt quạu cọ của Waverly. Tôi mặc áo trắng, bên trên là lớp đăng ten mỏng, cái nơ màu hồng trên mái tóc ngắn kiểu Peter Pan. Lúc ngồi xuống, tôi tưởng tượng những người chung quanh tôi sẽ nhảy cẩng lên và Ed Sullivan ùa đến để giới thiệu tôi với tất cả mọi người trên TV.

Và tôi bắt đầu đánh đàn. Bản nhạc thật là đẹp. Tôi hoàn toàn chìm đắm trong cái ý nghĩ tôi xinh đẹp vô cùng nên thoạt tiên tôi chẳng lo lắng tiếng đàn của tôi nghe như thế nào. Vì thế tôi rất ngạc nhiên khi tôi đàh sai một nốt nhạc và tôi nhận ra là có cái gì đó nghe không đúng. Và tôi lại gõ sai một nốt nữa, rồi thêm một nốt nữa. Cơn lạnh bắt đầu từ đỉnh đầu tôi và bắt đầu lan dần xuống. Tuy thế tôi không thể ngừng đánh đàn như thể hai bàn tay tôi bị ma ám. Tôi cứ tin là mấy ngón tay của tôi sẽ tự điều chỉnh để đàn đúng trở lại, như chiếc xe lửa sẽ quay trở lại đường rầy cho đúng. Tôi chơi bản đàn lỗi lầm này lập lại hai lần, những nốt nhạc sai đeo đẳng tôi cho đến lúc hết bài.

Khi tôi đứng dậy, tôi nhận ra đôi chân tôi run rẩy. Có lẽ tôi chỉ hoảng sợ hão và khán giả, như Chong Cụ, đã nhìn thấy tôi đàn đúng hoàn toàn và chẳng nghe được chỗ nào bị sai. Tôi chìa chân phải ra phía trước, chân trái khẽ quỳ xuống, đầu ngước lên, miệng mỉm cười. Cả thính phòng hoàn toàn im lặng, ngoại trừ anh Chong Cụ, mặt mày hớn hở và hét to lên, “Hoan hô! Hoan hô! Tuyệt vời!” Nhưng ngay lúc ấy tôi nhìn mặt mẹ tôi, bấn loạn. Khán giả vỗ tay yếu ớt, và khi tôi quay trở lại chỗ ngồi của tôi, cả khuôn mặt tôi run giật như thể tôi cố gắng nén tiếng khóc. Tôi nghe một cậu bé nói với mẹ cậu, “Thật là quá tệ,” và người mẹ trả lời, “Nhưng mà, cô ấy đã hết lòng cố gắng.”

Và bây giờ thì tôi nhận ra khán giả nhiều đến mức độ nào, dường như cả thế giới. Tôi cảm nhận được những đôi mắt cháy bỏng trên lưng tôi. Tôi cảm nhận được nỗi nhục nhã của bố mẹ tôi khi họ ngồi như phỗng từ lúc ấy cho đến hết buổi trình diễn.

Chúng tôi có thể trốn ra về lúc nghỉ giải lao. Lòng kiêu hãnh và một thứ sĩ diện kỳ quặc đã khiến cho họ thả neo ngay trên ghế của họ. Và thế là chúng tôi xem tất cả chương trình buổi diễn. Một anh con trai mười tám tuổi có bộ râu mép giả đã trình diễn một màn ảo thuật, tung hứng mấy cái vòng lửa lúc ngồi trên chiếc xe đạp một bánh. Một cô gái ngực to đầy trĩu, mặt đánh phấn trắng hát một ca khúc trích từ vở nhạc kịch Madama Butterfly và được khen ngợi. Và một cậu bé mười một tuổi được hạng nhất vì đã trình diễn một khúc nhạc vĩ cầm rất khó và tiếng nhạc nghe như tiếng vo ve của một con ong bận rộn.

Sau buổi trình diễn, gia đình họ Hsus, họ Jong, và họ St. Clairs trong Câu Lạc Bộ Joy Luck đến gặp bố mẹ tôi.

“Thật là nhiều trẻ em có tài năng,” Bác Lindo nói bâng quơ, mỉm cười gượng gạo.

“Đó lại là một chuyện khác,” bố tôi nói, và tôi tự hỏi không biết ông có chế giễu tôi, hay là ông có nhớ đến điều tôi đã làm sai không.

Waverly nhìn tôi rồi nhún vai. “Cậu chẳng phải là thiên tài giống như tớ,” nó nói một cách thản nhiên. Và nếu tôi đã không cảm thấy xấu hổ đến mức độ này, có lẽ tôi đã giựt bím tóc và thoi vào bụng của nó.

Nhưng vẻ mặt của mẹ tôi mới là điều làm tôi cảm thấy tan nát: cái vẻ im lìm, trống rỗng như đã nói là bà đánh mất tất cả. Tôi cũng cảm thấy giống như mẹ tôi, và dường như tất cả mọi người bây giờ đang đến gần, cũng giống như những kẻ tò mò muốn nhìn một tai nạn vừa xảy ra, để nhìn xem phần thân thể nào của người bị tai nạn đã biến mất. Khi chúng tôi lên xe buýt để về nhà, bố tôi ngâm nga một điệu nhạc vu vơ còn mẹ tôi thì im lặng. Tôi cứ nghĩ bà chờ khi về đến nhà rồi sẽ quát mắng tôi. Nhưng khi bố tôi mở cửa căn hộ, mẹ tôi đi thẳng vào trong, vào phòng ngủ. Không cáo buộc. Không đổ lỗi. Và tự nhiên, tôi thấy thất vọng. Tôi chờ cho bà bắt đầu quát mắng để tôi có dịp trả treo và khóc òa lên, rồi đổ thừa cho bà tất cả mọi nỗi khốn khổ của tôi.

 

Tôi cứ tưởng rằng sau cái thảm họa trình diễn tài năng tôi sẽ không bao giờ còn phải học đàn dương cầm nữa. Nhưng chỉ hai ngày sau,  khi đi học về, mẹ tôi từ nhà bếp đi ra và thấy tôi đang xem TV.

“Bốn giờ rồi kìa,” mẹ tôi nhắc cho tôi nhớ như thể ngày hôm nay cũng như những ngày khác. Tôi sững sờ, như thể bà đang yêu cầu tôi chịu đựng cuộc tra tấn của buổi trình diễn tài năng lần nữa. Tôi càng hạ neo bám đất chặt hơn phía trước cái TV.

“Tắt TV đi,” mẹ tôi nói vọng ra từ nhà bếp, năm phút sau.

Tôi không nhúc nhích. Và tôi quyết định. Tôi không cần phải vâng lời mẹ tôi nữa. Tôi không phải là nô lệ của bà. Đây không phải là Trung quốc. Tôi đã phải vâng lời bà trước đây, và nhìn xem chuyện đã xảy ra. Bà mới là người ngu xuẩn.

Mẹ tôi từ bếp đi ra và đứng ở chỗ ra vào phòng khách có hình vòng cung phía trên đầu. “Bốn giờ,” mẹ tôi lập lại, lần này giọng to hơn.

“Con không còn muốn học chơi đàn nữa,” tôi nói dịu dàng. “Tại sao con phải học nó chứ? Con không phải là thiên tài.”

Mẹ tôi đứng trước cái TV. Tôi nhìn thấy ngực mẹ phập phồng vì giận dữ.

“Không!” Tôi nói, và tôi cảm thấy mạnh mẽ hơn, như thể con người thật của tôi bắt đầu xuất hiện. Té ra cái tôi này vẫn ở bên trong con người tôi từ trước đến nay.

“Không! Con không học!” Tôi hét lớn.

Mẹ tôi lôi phắt cánh tay tôi, kéo tôi lên khỏi nền nhà, tắt phụt TV. Mẹ tôi mạnh dễ sợ luôn, nửa kéo, nửa bế tôi về hướng dương cầm trong khi tôi đá tung cả tấm thảm mềm dưới chân tôi. Mẹ tôi bế bổng tôi lên và đặt tôi lên ghế. Tôi khóc nức nở, nhìn bà một cách oán giận.  Ngực mẹ càng phập phồng lên xuống dữ hơn và mồm mẹ há to, mỉm cười khùng điên như thể bà rất hả dạ vì bà đã không khóc.

“Mẹ muốn con trở thành một người không phải là con!” Tôi khóc nấc. “Con không thể nào là đứa con gái đúng với ý mẹ muốn.”

“Con gái thì chỉ có hai loại thôi,” mẹ tôi gằn giọng nói bằng tiếng Trung. “Một loại biết vâng lời cha mẹ, còn loại kia chỉ làm theo ý mình! Nhà này chỉ chứa một loại con gái thôi, loại con gái biết vâng lời.”

“Tôi ước gì tôi không phải là con của bà. Tôi ước gì bà không phải là mẹ tôi,” Tôi hét lớn. Khi tôi thốt ra những lời này tôi trở nên sợ hãi. Tôi có cảm giác như giun, cóc, và những côn trùng nhớt dãi đang bò ra khỏi ngực tôi, nhưng đồng thời tôi cũng cảm thấy dễ chịu, như thể cái con người hư hỏng của tôi đã trồi lên.

“Đã trễ rồi, không thể thay đổi được nữa,” mẹ tôi rít lên.

Tôi cảm thấy cơn giận của mẹ tôi đã dâng cao đến mức tột độ. Tôi muốn nhìn thấy nó tràn ra. Và ngay lúc ấy tôi bỗng nghĩ đến mấy người con gái mẹ tôi đã lạc mất ở Trung quốc mà chúng tôi không bao giờ nhắc đến. “Thế thì tôi ước gì tôi đừng bị sinh ra đời!” Tôi gào lên. “Tôi ước gì tôi chết đi! Giống như mấy người chị của tôi vậy.”

Như thể tôi vừa mới thốt ra một câu thần chú rất hiệu nghiệm. Alakazam! và mặt của bà bỗng mất hết thần sắc, miệng bà ngậm lại, hai tay bà thõng xuống, bà lui ra khỏi phòng, đầy sững sờ, như thể bà là một chiếc lá nâu khô, mỏng manh, dễ vỡ, và vô hồn bị gió thổi tung đi.

 

Đó không phải là điều thất vọng duy nhất của mẹ về tôi. Những năm sau đó tôi càng làm bà thất vọng nhiều hơn, mỗi lần như thế là mỗi lần tôi xác định ý chí độc lập của tôi, rằng tôi có quyền không thành công như bà mong muốn. Tôi không được toàn điểm A. Tôi không là chủ tịch hội học sinh. Tôi không vào được Đại học Standord. Tôi bỏ dang dở Đại học.

Bởi vì không giống ý nghĩ của mẹ, tôi không tin là tôi có thể trở thành bất cứ mẫu người nào nếu tôi muốn. Tôi chỉ có thể là tôi thôi.

Những năm tháng về sau, chúng tôi không bao giờ nhắc lại thảm họa trình diễn tài năng của buổi trình diễn ra mắt hay những lời cáo buộc sau đó ở cái băng ghế để ngồi đàn piano. Tất cả những điều này không bao giờ được nhắc lại, như một sự phản bội mà bây giờ không thể nào dám nói ra. Và vì thế tôi không bao giờ tìm ra cách để hỏi mẹ tôi vì sao bà lại mơ ước những điều to lớn đến nỗi sự thất bại trở thành hiển nhiên như thế.

Và càng tệ hệ hơn, tôi đã chẳng bao giờ hỏi mẹ tôi điều mà tôi sợ hãi nhất: Tại sao bà đánh mất hy vọng?

Bởi vì sau cuộc cãi nhau ở cái đàn dương cầm, mẹ tôi không bao giờ nói đến chuyện học đàn của tôi nữa. Những buổi học đàn chấm dứt. Nắp đàn đóng lại, bỏ lại bên ngoài bụi bặm, nỗi khốn khổ của tôi, và những giấc mơ của mẹ.

Vì thế mẹ làm tôi ngạc nhiên. Mới mấy năm trước đây, mẹ ngỏ ý tặng tôi cái đàn dương cầm, làm quà tặng sinh nhật cho tôi, sinh nhật thứ ba mươi. Tôi đã bỏ chơi đàn từ thưở ấy. Tôi xem lời tặng của mẹ là dấu hiệu của sự tha thứ, cảm giác tội lỗi nặng nề trong ngực tôi biến mất.

“Mẹ có chắc chắn không?” Tôi hỏi ngập ngừng. “Mẹ và Bố sẽ không nhớ tiếc nó sao?”

“Không, đây là đàn của con,” mẹ nói chắc chắn. “Luôn luôn nó là của con.” Chỉ có con đánh được.”

“Con có lẽ cũng không còn có thể đàn được nữa.” Tôi nói. “Đã lâu quá rồi.”

“Con học nhanh mà,” mẹ tôi nói như thể mẹ biết chắc bẩm điều này. “Con có tài tự nhiên. Con có thể là thần đồng nếu con muốn.”

“Không, con không thể làm thần đồng được.”

“Con không cố gắng,” mẹ tôi nói. Và bà không có vẻ giận dữ hay buồn bã. Bà nói như thể tuyên bố một sự thật mà bà không thể nào chối cãi. “Lấy nó đi,” mẹ tôi bảo.

Nhưng tôi không lấy cây đàn ngay lúc ấy. Chỉ cần mẹ ngõ ý tặng tôi là đã đủ rồi. Và sau đó, mỗi lần tôi nhìn thấy cây đàn trong phòng khách của bố mẹ tôi, đặt trước khung cửa sổ rộng lớn, nó khiến tôi cảm thấy vinh dự, như thể đó là một pho tượng huy chương bóng loáng mà tôi được lại trao cho.

 

Tuần trước, tôi gửi một người thợ căng dây đàn đến căn hộ của bố mẹ tôi để căng dây đàn trở lại, chỉ thuần vì lý do tình cảm. Mẹ tôi qua đời mới vài tháng trước đây và tôi đang giúp bố tôi sắp xếp lại việc nhà, mỗi ngày một chút. Tôi cất nữ trang vào trong những túi nhỏ may bằng lụa. Những cái áo ấm mẹ đan màu vàng, màu hồng, màu cam sáng chói – tất cả những màu tôi ghét – Tôi cất chúng vào trong những cái hộp có chất chống mối mọt.  Tôi thấy mấy cái áo lụa Trung quốc, loại được xẻ bên hông. Tôi xoa làn áo lụa lên da, rồi tôi gói chúng lại bằng những tờ giấy quyến và quyết định mang nó về nhà tôi.

Sau khi tôi đã cho thợ căng dây đàn, tôi mở nắp đàn và sờ lên những cái phím đàn. Âm thanh của nó nghe ấm áp hơn là trong trí nhớ của tôi. Thật như vậy, đó là một cây đàn rất tốt. Trong cái hộc dưới băng ghế vẫn còn những tờ giấy tập viết nốt nhạc trên giấy kẻ hàng bằng tay, vẫn còn những cuốn nhạc mua lại của người đã dùng có mấy cái bìa rách được dán lại bằng giấy dán màu vàng.

Tôi mở quyển nhạc của Schumann đến đoạn nhạc ảm đạm tôi đã đàn trong buổi trình diễn ra mắt. Nó nằm trên trang bên trái, “Đứa Bé Năn Nỉ.” Nó có vẻ khó hơn là bản nhạc trong trí nhớ của tôi. Tôi đàn thử vài nhịp, thấy ngạc nhiên vì tôi nhớ lại những nốt nhạc thật dễ dàng.

Và lần đầu tiên, có vẻ như vậy, tôi để ý đến bản nhạc ở trang bên tay phải. Bản nhạc có tên là “Hoàn toàn hài lòng.” Tôi cũng thử đàn bản này. Điệu nhạc của bản này có vẻ nhẹ nhàng hơn nhưng cũng có cùng một nhịp điệu du dương và cũng khá dễ đàn. “Đứa bé Năn Nỉ” ngắn hơn nhưng chậm hơn; “Hoàn toàn hài lòng” dài hơn nhưng nhanh hơn. Và sau khi tôi đàn cả hai bản vài lần, tôi nhận ra chúng là hai phần của chung một bản nhạc.

 

[1] Amy Tan, “Two Kinds.” Literature – The Human Experience, 9th edition, Richard Abcarian and Marvin Klotz, California State University, Northridge, Emeriti, Bedford/St. Martin’s, New York. @2006. P. 464-472.

[2] Ở Hoa Kỳ, người mua nhà thường thường phải có một số tiền khoảng 20% tiền của căn nhà, đặt trước, thì dễ được ngân hàng chấp nhận cho vay số tiền còn lại. Thể lệ này có khi được miễn hoặc giảm số tiền đặt trước nếu người mua đạt những điều kiện đặc biệt, như mua nhà lần đầu, hay lợi tức thu nhập thấp.

[3] Thần đồng diễn viên của Hoa Kỳ.

[4] Tác giả ví von cô bé bị cắt tóc quá ngắn trông giống như con trai.

[5] Chương trình trên TV về những mẩu chuyện kỳ bí rất khó tin nhưng người ta bảo là có thật.

[6] Tên một tạp chí với chủ đề phụ vụ gia đình, nữ công gia chánh.

[7] Tạp chí bao gồm khoa học thường thức, chuyện gia đình, truyện ngắn, sách thu gọn với cách viết đơn giản dễ đọc có khuynh hướng xây dựng làm tốt xã hội.

[8] Amy Tan nhái cách nói tiếng Mỹ không rành của bà mẹ. Tôi cố gắng diễn tả theo cách nói tiếng Mỹ không rành của người Việt.

[9] Ghi chú trong nguyên tác, bản nhạc của Edvard Grieg (1843-1907) được viết kèm thêm để trình diễn trong vở kịch Peer Gynt của Henrik Ibsen.

[10] Arpeggios là những nốt nhạc hát nốt sau đi kèm nốt trước chứ không hát cùng một lúc.

 

 

 

Nguyễn thị Hải Hà  dịch

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.