Lồng…chim-Trần Công Nhung

Thư giản

WA-Logo3

LỒNG CHIM

TranCongNhung-01
Trần Công Nhung
Khi đã vào nghề chơi, ai cũng muốn chơi cho đạt, chơi cho tới. Chơi mà chắp vá thì không lấy gì làm thú vị. Người đời thường bảo đấy là trưởng giả học làm sang. Nghề chơi không những phải công phu mà còn rất tốn kém. Có chim phải có lồng. Chim hay, lồng phải đẹp mới xứng. Lồng đẹp, cầu lồng, hủ ăn phải giá trị mới đúng điệu. Thứ chút, thứ chút, người chơi chỉ rước cái vất vả vào thân. Thế mà ai cũng tìm cho mình một món để chơi. Có lần theo người em  đến thăm Nhà Cổ Ngoạn Vương Hồng Sển, tôi  hiểu thêm cái khổ của người lao vào nghề chơi. Cụ Vương nói:
–  Tui đã biểu thằng Tằm (chú em tên Bùi Đức Tằm, Chủ Nhiệm một Hãng Phim,  Bà Năm Sa Đéc là diễn viên nên được ông bà xem như con) đừng đi vào con đường của tui, tui đã lỡ khổ một đời rồi.
Cụ Sển kể một chuyện khổ vì chơi :
–   Hồi còn trẻ tui ghiền Basto xanh. Ngày hút một gói, 6 xu. Sau nó lên giá 12 xu, tui hút hai ngày một gói. Nó lên 18 xu, tui hút một gói ba ngày. Tiền còn phải để dành mua đồ cổ chớ.
Cụ Vương giữ vững vị trí “chiến đấu” cho cuộc chơi. Cụ nhất định không để hao tốn vào việc trà thuốc. Cụ đưa tôi đi một vòng xem  kho tàng gia bảo của cụ. Chỉ lướt qua thôi mà đã chóng mặt. Phải là người nghiên cứu, quản thủ đồ cổ may ra mới biết được giá trị hiện vật trưng bày trong  nhà cụ.  Mỗi món quí giá như thế không phải có một hai, mà cả năm hay mười, như bình trà Thế Đức gan gà 10 bộ. Bình vôi  thời Minh Mạng 5 chiếc..vv. Nhân tiện tôi nhờ cụ Vương giải thích một điểm trong sách của cụ Bùi Bằng Đoàn mà tôi nghi không chính xác. Trong một tác phẩm nói về cổ ngọan (tôi không nhớ rõ) khi viết về thú rượu trà : Tửu Tứ, Trà Tam, A Phiến Nhị, cụ Đoàn giải thích:  “Rượu không nên uống nhiều, uống chung thứ tư là vừa. Trà chỉ uống đến nước thứ ba là hết ngon. A phiến hút xái thứ nhì thôi”.
Tôi cũng thích uống trà, trà mà uống nước hai là đã nhạt, không còn thích, huống hồ nước thứ ba. Cụ Vương giảng:
–   Tửu tứ : Rượu uống bốn người. Nhiều người ồn ào, uống rượu tức có đồ nhắm, mọi thứ dọn ra bàn, ngày xưa bàn chỉ có bốn ghế.
–   Trà tam: Uống trà các cụ ngồi sập gụ, không ngồi bàn, một đầu sập kê sát vách. Trên có cái đôn (bàn con chân cao chừng 20cm) bày khay trà cũng một đầu dính tường. Như vậy chỉ còn ba phía cho ba người ngồi.
–   A phiến nhị: Hút một mình kém vui, hai người nằm đối diện thì việc dao du với nàng Tiên Nâu mới tuyệt.
Tôi cho là cụ Vương có lý.
Ngày cụ còn là công chức trẻ, lưu lạc dưới Miền Tây, cụ đã vì mê đồ cổ mà bê ngay chiếc bình Con Sáo 80 mươi đồng, trong lúc lương tháng của cụ chưa tới chục bạc. Khi có chiếc bình, ngày đêm Cụ lo nghĩ phân vân, không đọc được niên đại mà ấm ức. Biết là cổ, nhưng cổ mức độ nào thì chịu. Cụ đã nhờ các giáo sư người Hoa  Chợ Lớn đọc, không vị nào biết. Mãi về sau những nhà nghiên cứu cổ ngữ ở Hong Kong mới giúp cụ đọc niên đại của chiếc Bình (thế kỷ thứ 10 tôi nhớ không chính xác).
Chơi đại sự như cụ Vương, khổ đã đành, chơi vặt như tôi mà xem ra cũng khá vất vả. Thời kỳ mới vào nghề chơi chim, nhìn những chiếc lồng của dân chơi chim Sài Gòn, phải nói là bái phục. Lồng làm toàn bằng tre, nhẹ hững, trang trí vô cùng đẹp. Từ quai lồng, cầu chim đậu đến khay lồng, bộ phận nào cũng chạm trổ tinh vi. Người có máu chơi ắt phải mê. Nghe đồn trong Chợ Lớn có quán cà phê Vành Khuyên  (dân chơi Vành Khuyên tụ họp). Tôi mất gần một buổi để tìm đến xem. Quả thật như rằng, quán không lớn lắm, nằm ngay ngã ba đường. Mới tám giờ sáng mà lồng Vành Khuyên đã treo đầy trần nhà và chung quanh vách tường. Tiếng Vành Khuyên líu rân. Nhìn con Vành Khuyên lúc líu thấy dễ thương lạ, cái cổ xù lên, mõ lép nhép liên hồi. Khách uống cafe đều là “Vành Khuyên Member”, dù không phải “member” tôi cũng vào đại, kiếm một chỗ ngồi quan sát. Nghệ nhân toàn người Hoa, họ nói tiếng Quảng tiếng Tiều, xí xô xí xào, tôi giả vờ lắng nghe. Ấy là nghe chim líu chứ biết gì mà  nghe họ nói. Tôi nhận thấy cùng dân Á Châu,  nhưng người mình nói năng nhẹ nhàng hơn người Tàu, Đại Hàn và Nhật. Nhất là người Nhật, trai gái tâm tình mà cứ như cãi lộn. Uống hết ly cà phê đã lâu song tôi vẫn ngồi nán để ngắm nghía cho đã. Chợt có một thanh niên đứng dậy xách lồng đi ra, tôi vội trả tiền rồi chạy theo.
–   Xin lỗi anh, cái lồng này anh mua bao nhiêu mà đẹp dữ vậy ?
Tôi hỏi đại may ra anh ta nói được tiếng Việt. Chàng thanh niên nhìn tôi như dò xét.
–   Chú  chơi chim không ?
Nghe câu hỏi tôi mừng quá, đáp ngay:
–   Có, tôi nuôi nhiều thứ lắm nhưng chỉ có lồng sắt.
–   Chú chơi cháu mới nói, người không chơi nói họ chưởi chết. Một chỉ rưởi, cặp cóng (hủ đồ ăn) mua riêng. Chim ở lồng sắt thì không hót hay được.
Nghe mà điếc con ráy. Mua con chim bổi còn khó huống nữa lồng, cả chỉ vàng. Nhưng phải có những người chịu chơi như thế mới đẻ ra nhiều của lạ trên đời. Cứ kiểu “ăn chắc mặc bền” thì xã hội lù mù  đến bao giờ!
Chuyện lồng như vậy quả là khó. Tạm thời, tôi đành làm lồng sắt. Lồng sắt thì dễ, nhờ thợ mộc đóng khung lồng, theo kích cỡ mình muốn rồi khoan lỗ gài căm xe, hoặc lấy nẹp kẽm của nhà thương  (băng bột người gãy tay, gãy chân) gài vào, coi như ráp lồng. Lồng sắt, thường làm theo kiểu nhà Tây. Gần nhà tôi, trong khu chợ Phước Hải có anh Châu thợ vàng, nuôi chim yến đẻ. Anh làm cái lồng bằng loại kẽm băng bột, lồng dài hơn 2m có dạng một dinh thự. Đúng là “lầu son gác tía”. Anh để lại cho tôi mấy thùng kẽm tha hồ làm. Lúc hết tôi dò tìm mới biết anh mua đồ  ở y tế. Một thời gian tôi thấy loại lồng khối vuông có mái, trang trí cách gì cũng khó coi. Nó nặng nề và chẳng có vẻ gì là lồng chim. Nhất là nuôi chim hót. Khi nhìn thấy lồng bằng tre của Sài Gòn, Hà Nội là muốn vứt lồng sắt của mình. Lồng sắt chỉ còn dùng nuôi chim đẻ như Yến, Phụng, Sắc Ô, Bạc Má .vv.
Trong chuyến về thăm làng cũ (Quảng Bình) sau ba mươi năm cách biệt vì chiến tranh, tôi ghé thành phố Huế, nơi tôi đã sống trọn quảng đời niên thiếu. Tôi đi thăm các phố, trở lại những con đường ngày xưa mình đã đi không biết bao nhiêu lần. Đến phố Gia Long, ngã giữa, tìm thăm hiệu vẽ chân dung Trịnh Cáng, nơi trước đây  tôi thường đến xem người họa sĩ gầy gầy ngồi vẽ. Hồi đó (thập niên 60) nhà tôi ở ngay bến đò Tây Thượng bên Vĩ Giạ. Sáng mờ sương, khi nghe tiếng guốc kéo lẹt xẹt ngoài đường lộ là tôi vội ôm cặp nhập bọn với đám học sinh từ miệt Hòa Vang, lên trường Khải Định Sở Việt Anh. Đi bộ cả chục cây số mỗi ngày, tháng mòn một đôi guốc. Trời mưa mang tơi lá, đội nón lá. Vậy mà tuổi học trò sao vui thế. Mỗi buổi trưa tôi lại lê qua ngã giữa để xem họa sĩ Trịnh Cáng vẽ chân dung. Những chân dung vẽ bằng bột màu, màu đen pha xanh da trời thật đẹp. Tôi mơ ước một ngày kia mình cũng vẽ được như vậy. Ôi còn gì thú bằng. Bên cạnh còn có những tranh phong cảnh,  núi trùng trùng, mây cuồn cuộn, sao mà đẹp dữ vậy. Đây chính là thời điểm mà hạt giống thích chơi lăng nhăng đã được gieo vào tâm tôi. Tôi cảm ơn Studio Trịnh Cáng. Không biết người họa sĩ gầy  nay về đâu.
Không tìm lại được Hiệu Vẽ Chân Dung Trịnh Cáng, tôi tha thẩn thả bộ nhìn lại phố xá ngày xưa, vẫn tường vách cũ kỹ, phố lầu cao lắm cũng chỉ ba bốn tầng. Tôi nhớ trước đây khoảng phố này có nhà sách Nguyễn Văn Mạch. Nhà sách có loại sách Truổi Trẻ và Sách Hồng, 3$ một cuốn. Học sinh trung học thường đọc. Đang mãi tìm kiếm vẩn vơ,  chợt thấy trong một cửa hiệu bên kia đường, có treo mấy lồng chim thật đẹp, tôi băng qua xin vào xem. Những chiếc lồng nuôi chim Chích Chòe, Yến Reo tuyệt quá. Hỏi thăm lồng làm ở đâu, người bán hàng bảo:  “Phải đợi hỏi ông chủ”. Quay ra thấy một anh đi xe thồ tôi hỏi :
–   Anh biết nơi nào làm lồng chim không?
–   Chú ngồi lên cháu chở đi., Lồng chim làm ở Hợp Tác Xã Song Mây ngoài An Hòa chớ mô chú.
Thấy anh xe trả lời nhanh nhẩu tôi tin theo ngay. Lồng chim làm bằng mây tre thì sản xuất ở lò song mây chứ còn đâu nữa. Chiếc xe đạp đen đủi chỉ còn những bộ phận cần thiết để chạy. Một miếng ván gắn sau bọt ba ga (porte de bagage) để khách ngồi. Xe không thắng không chuông, không  “gác đờ bu”, chẳng “gác đờ sên”, anh thồ còng lưng đạp. Xe lăn bánh một cách nặng nhọc. Mỗi khi muốn thắng anh dùng bàn chân mang “dép râu” cà mạnh vào bánh xe. Tôi ngồi sau không mệt mỏi gì, có dịp ngắm nhìn phố xá. Anh đưa tôi lên cầu Gia Hội, qua phố Trần Hưng Đạo, lên cầu Bạch Hổ rồi thẳng ra An Hòa. Đến nơi, tôi hòan toàn thất vọng. Hợp tác xã sản xuất đồ mây tre là làm bàn ghế và đồ dùng trong nhà bằng mây tre chớ ai làm lồng chim. Hỏi lồng chim chả ai biết chỗ nào. Anh xe  đã nói bừa để có mối chạy. Rõ mất thì giờ, nhưng thông cảm cuộc sống của anh tôi không cự nự và nhỏ nhẹ bảo:
–   Thôi anh cho tôi trở lại chỗ cũ.
Để đỡ sốt ruột, tôi hỏi chyện anh xe:
–  Sao anh không thay cái sên mà chạy? Sên giản, đạp cứ tuột thế này thì mệt lắm.
–   Tiền mô chú, đạp cả ngày không đủ mua gạo.
–   Sao không kiếm nghề khác làm?
–  Nghề chi chú? Bác sĩ, giáo viên còn đạp xe thồ, chú không chộ (thấy) họ đứng  đầy đường đó na (sao)?
Tôi nguôi cơn bực, vui vẻ với anh:
–   Nhờ anh tôi được dạo một vòng thành phố.
Anh xe cười hì hì. Khi trở lại chỗ cũ, người chủ tiệm đã chỉ cho tôi chỗ làm lồng. Lần này tôi đi bộ, vòng qua cầu Gia Hội, xuống Hàng Đường rồi rẽ vào một con hẻm, và dò được nơi làm lồng. Lò sản xuất lồng có tính cách thủ công gia truyền, chỉ có vợ chồng con cái, xúm xít làm với nhau.
Hai cái lồng Sơn Ca cao nghệu treo trước hiên nhà, một cái đang được ráp.
Tôi hỏi:
–   Lồng bán hả anh, bao nhiêu vậy?
–  Dạ năm trăm, mà chừ chưa có mô, lồng nớ ở Đà Nẵng họ đặt. Chiều ni lấy.
–   Anh có thể nhín cho tôi một cái rồi làm sau cho họ được không?
–   Khôông được mô.
Anh vừa trả lời vừa tiếp tục xỏ nan vào từng vành lồng. Bên cạnh chị vợ vót nan, người con gái chẻ lồ ô.
–   Anh thông cảm, tôi ở Nha Trang ra, chỉ ghé qua có ba ngày, lồng anh làm quá đẹp, tôi muốn có một cái mang về kỷ niệm.
Anh có vẻ suy nghĩ rồi nói:
–   Chừ chú chịu thì tui để lại cho chú cái lồng cũ đang nuôi con Sơn Ca nơi tề (kia kìa).
Anh vừa nói vừa nhướng mắt ra dấu về phía chiếc lồng. Tôi mừng và đồng ý ngay. Trước khi giã từ, tôi đặt cọc hai trăm và dặn anh làm sạch sẽ, vẹt ni cho tươm tất. Ba hôm sau tôi trở lại, thấy cái lồng trông như mới làm. Lồng cao chừng 80 phân, khay lồng tròn đều, mí giáp rất khéo. Những chiếc nan nhỏ bằng căm xe đạp, vót đều đặn thẳng tắp. Trông mỏng manh và nhẹ hững nhưng cũng khá chắc. Xách cái lồng đi giữa nắng trưa mà thấy khoẻ. Ai đi qua cũng nhìn. Có người đã đi qua còn ngoái cổ lại, làm cho tôi khoái trong lòng. Lúc lên xe đò, tôi lóng cóng với cái lồng. Xe chật hết chỗ ngồi, tôi phải ngồi ghế xúp (đặt giữa lối đi). Một anh bộ đội trẻ đã đổi chỗ cho tôi, anh nói: “Chú ngồi chỗ ni kẻo hư cái lồng”. Tôi cảm thấy thích thú bất ngờ. Suốt một ngày trời  thấp thỏm ôm cái lồng trước bụng. Nhiều lúc quá buồn ngủ mà đành chống mắt chịu trận. Chỉ sợ lỡ  gật một cái là lồng chim dẹp ngay.
Về đến nhà cái lồng vẫn nguyên vẹn, tôi ngắm nghía hai hôm rồi khởi sự. Trước hết phải phân lồng ra mấy phần. Quai lồng, đầu lồng, khoanh nan, nan lồng, khay lồng, cửa lồng… Ngoài ra còn phần hoa văn chạm trổ, cũng khá dày công. Tôi bắt đầu bằng mẫu lồng đơn giản nhất. Vót nan khó  và mất nhiều thì giờ. Một cái lồng cần khoảng 50, 60 nan, nhỏ như tăm xỉa răng và dài cả thước. Lúc đầu nan tôi vót mập thù lù, lại không thẳng. Phải mất cả tuần lễ tập dợt  mới vót được, gọi là tàm tạm. Cái lồng đầu tiên thành hình trong sự khâm phục của mọi người  chung quanh. Tôi thì thấy còn nhiều bất ổn. Lồng gì mà nan cứ vặn mình như múa dẽo. Khoanh lồng như niềng xe bị tráng. Đầu lồng như nơm cá.. Nhìn chung, lồng “chưa có thần”. Thế nhưng mỗi khi có người đến chơi khen: “Ông này tài thật”, tôi lại vui như mình có thật tài.
Đến cái  lồng thứ 5, tôi đã rút ra được những nguyên tắc uốn vành khay, khoan lỗ, vót nan. Nan lồng giờ thẳng tắp, khay tròn láng, lại thêm hoa văn chạm trổ nhại theo kiểu lồng Hong Kong. Tất cả chỉ là vấn đề quen tay. Nhưng lồng vẫn còn  dạng nơm cá, trong khi lồng Sài Gòn hay Hong Kong thì đầu lồng trũng xuống rất duyên dáng. Tôi suy nghĩ ngày đêm mà không tìm ra được nguyên lý. Nan đã hơ lửa uốn rõ cong, vậy mà khi luồn vào thì tất cả đều ngóc đầu dậy, làm cho lồng giống cái chuông. Tất cả các công trình nghệ thuật tô điểm đều trở thành không giá trị. Có người bày, sau khi làm xong lấy đá đằn lên đầu lồng. Vô lý. Chẳng lẽ sản xuất trăm cái lồng, đằn trăm tảng đá? Mà rõ ràng tại chỗ làm lồng, tôi có thấy thế đâu. Tôi gọi những học trò cũ học trường kỹ thuật và yêu cầu tìm giúp “đáp số” bài toán. Ai nấy đều chịu. “Tại sao đầu lồng chim lại trũng xuống”? Tôi dùng nghi vấn này như một “công án” và “tham thoại” ngày đêm. Đi đâu và lúc nào đầu óc tôi cũng hiển hiện công án: “Tại sao đầu lồng trũng xuống”. Một hôm đang khoan vành lồng, muốn nan đi một đường thẳng thì các lỗ vành phải thẳng hàng, trong lúc sơ ý tôi khoan xiên một lỗ, hình ảnh chiếc nan “múa dẽo” hiện ra, vậy là tôi  đã giải đáp được “công án”. Thử thí nghiệm, đúng như tôi nghĩ. Lỗ nan trên đầu lồng phải khoan nghiêng mũi khoan 15 độ, lúc nan đi qua buộc phải cong mình xuống, làm cho đầu lồng trũng tự nhiên và đều đặn. Một nguyên tắc đơn giản thế mà phải mất mấy tháng trời mới tìm ra.
Qua được “truông”, tôi đi một mạch, tuần làm 3 cái lồng, càng ngày càng tinh tế không thua gì lồng Sài gòn. Càng làm càng say mê. Làm không biết mệt.
Lần đầu tiên bán cái lồng họa mi 2.400 đồng, mua được nửa tháng gạo cho cả nhà. Một điều chưa bao giờ tôi dám nghĩ. Những ngày kế tiếp có khách đến lai rai. Lạ một điều là  lồng treo đầy nhà thì không  thấy  đẹp. Khi có người mua, xách lồng đi, mới thấy cái lồng duyên dáng làm sao. Lần về Sài Gòn,  ngang qua đường Lê Văn Duyệt, thấy có nhà treo mấy lồng chim, tôi nhận ra trong số có chiếc lồng của mình. Dừng lại tôi vờ hỏi thăm :
–   Lồng này mua ở đâu vậy Bác ?
Chủ nhà có vẻ khoái chí cười:
–  Ông bạn thân đi chơi Nha Trang mua giùm. Nha Trang có tay làm lồng khá lắm.
Tôi cảm ơn, vừa đi vừa cười “Tác giả đây mà không biết, tệ thật”.
Một hôm nhà văn Võ Hồng đến thăm, ông đặt câu hỏi:
– Nghệ thuật thì tôi chịu ông, nhưng còn điều gì làm ông ngồi vót hàng ngàn cái nan như vậy mà không mỏi mệt?
Tôi cười không trả lời, nói lảng sang chuyện khác. Vì tôi có ngồi vót nan đâu, vót nan chỉ là hình thức sử dụng “điện năng” mà thôi. Chơi phải có người cùng chơi, tôi đi rủ một số bạn già trẻ cùng nuôi chim. Chim thì miền Trung như có đủ chủng loại chỉ trừ Họa Mi. Dần dà chúng tôi có một nhóm rồi tiến lên câu lạc bộ. Càng có nhiều người chơi chim, tôi càng bận công việc làm lồng, và, bỗng nhiên tiếng đồn tôi là nhà chuyên sản xuất lồng chim.Tháng 4-95
Trich sách Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.