Tin Tây Nguyên- lượm lặt 23/2/16

khỉ đọc báo

TIN TỨC LẮK-KON-KU 23/2/16

Đắk Lắk

Các nghi lễ truyền thống đang dần biến tướng

Lễ ăn trâu, cúng lúa mới, cúng sức khỏe voi, cồng chiêng… là những nghi lễ cúng truyền thống từ lâu đời của bà con các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, hiện nay, các nghi lễ cúng đang đứng trước nguy cơ mai một, bị lạm dụng hoặc biến tướng theo chiều hướng bạo lực, đánh mất bản sắc vốn có.

voi2

Lễ cúng sức khỏe voi ngày càng ít xuất hiện trong đời sống của bà con dân tộc

Với người dân Tây Nguyên, voi không chỉ là người bạn đồng hành trong cuộc sống, là biểu tượng tinh thần mà còn là người con Giàng đã ban cho họ. Bằng những tình cảm đặc biệt dành “người con” này, bà con đã tổ chức lễ cúng sức khỏe cho voi với nhiều ý nghĩa sâu sắc. Thông qua lễ cúng, tình cảm giữa người và vật thêm yêu thương, gắn bó, thể hiện lòng tôn vinh, quý trọng của con người đối với vật nuôi. Qua đó, nhắc nhở mọi người phải luôn biết cùng nhau chăm sóc, bảo vệ. Tuy nhiên, nét đẹp truyền thống này ngày càng ít xuất hiện trong đời sống tinh thần của bà con dân tộc nơi đây. Ngay cả các lễ cúng được xem là quan trọng của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số như: Cúng bến nước, mừng lúa mới, cầu mùa, cúng kết nghĩa… cũng đang dần mai một.

Ông Bùi Văn Khối, Trưởng phòng Nghiệp vụ văn hóa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk cho biết: Hiện nay, không chỉ nhiều lễ cúng đang bị mai một mà thậm chí, một số lễ cúng như cúng cơn mưa đầu mùa của người M’Nông, cúng rước Kơ Pan (cúng rước ghế dài vào nhà – PV) gần như biến mất hoàn toàn. “Do sự giao thoa văn hóa, đời sống kinh tế của người dân thay đổi, môi trường sống theo xu hướng hiện đại nên việc mai một lễ cúng là điều khó tránh khỏi”.

Bên cạnh sự mai một, một số nghi lễ văn hóa truyền thống vẫn được duy trì hằng năm nhưng lại bị biến tướng, lạm dụng. Điển hình như lễ ăn trâu của bà con dân tộc Ê Đê bị biến tướng ngay cả từ tên gọi. Theo bà Linh Nga Niê K’dăm, nhà nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên: Trước đây, khi gia đình, dòng tộc hay buôn làng làm lễ bỏ mả, mọi người sẽ tiến hành đâm trâu làm lễ cúng dâng lên thần linh. Nhiều năm trở lại đây, mọi người gọi lễ ăn trâu thành lễ đâm trâu. Cùng với đó, nghi thức tạ ơn thần linh cũng thay đổi. Trong các lễ ăn trâu trước đây, khi đâm chết con trâu, một số dân tộc làm nghi thức khóc trâu rồi đâm một nhát trúng tim để nó chết một cách nhanh chóng. Còn ngày nay, trong các lễ hội, người ta vừa nhảy múa theo nhịp chiêng, lâu lâu lại đâm một nhát để con trâu đau đớn, lồng lộn, chết từ từ do mất máu… Điều này tạo nên sự phản cảm, mang chiều hướng bạo lực, làm mất đi nét đẹp thuần túy của một nghi lễ truyền thống.

trâu

Trong lễ ăn trâu, mọi người sẽ dùng giáo đâm từng nhất một để trâu chết từ từ

Anh Hoàng Đình Nam – một du khách đến từ Hà Nội chia sẻ: Đến Đắk Lắk hòa mình vào các lễ hội truyền thống của người dân tôi rất thích. Tuy nhiên, sau khi chứng kiến cảnh con trâu bị hàng chục mũi giáo đâm chết từ từ tôi lại thấy đau lòng. Hi vọng những hình ảnh có xu hướng bạo lực như vậy sẽ không còn xuất hiện nữa.

Trao đổi với chúng tôi xung quanh vấn đề trên, ông Bùi Văn Khối cho biết: Để tránh phản cảm, sắp tới, trong lễ cúng ăn trâu phục vụ lễ hội du lịch, Sở sẽ vận động người đưa trâu ra chỗ khác để đâm rồi sau đó mới đưa lễ vật vào cúng. Ngoài ra, nhằm tránh việc kẻ xấu lợi dụng lễ hội để bày bán hàng hóa chặt chém, chèo kéo khách, lừa tiền công đức… Chúng tôi cũng đã đề nghị các địa phương phối hợp kiểm tra chặt chẽ, đồng thời chịu trách nhiệm nếu xuất hiện các tình trạng trên.

“Để bảo tồn các lễ cúng truyền thống của bà con, tỉnh đã tiến hành khảo sát nhằm nắm lại nghi thức của các lễ cúng, tổ chức tập huấn cho các cán bộ xã, huyện và vận động người dân cùng phục dựng lại các lễ cúng có xu hướng mất đi”, ông Khối cho biết thêm.

Theo Thanhtra.com.vn

Chiêm ngưỡng văn hóa dân gian ‘Việt Bắc’ tại  Tây Nguyên

(Do chính sách  hay khuyến khích di đân từ Việt Bắc vào Tây Nguyên) 

Đến hẹn lại lên, cứ vào tháng giêng (từ 13-15 âm lịch) hàng năm lễ hội “Văn hóa dân gian việt Bắc” lại được tổ chức tưng bừng tại xã Ea Tam, huyện Krông Năng(ĐắK lắk). Đến với lễ hội nơi đây đồng bào không những được giao lưu, chơi những trò chơi dân gian,…mà còn được chiêm ngưỡng những “đăc sản” văn hóa đặc sắc của ông cha để lại.

Xã Ea Tam thuộc huyện Krông Năng (Đắk Lắk) là một xã thuần nông, với dân số khoảng 2.500 người, và có nhiều dân tộc anh em chung sống như người Kinh, Tày, Nùng, Dao, Thái… cùng chung sống, trong đó chiếm đa số là người Tày, Nùng. Mưu sinh trên vùng đất mới nhưng đồng bào Tày, Nùng vẫn luôn lưu giữ bản sắc, nghi lễ của dân tộc mình.

gói bánh

Thi gói bánh

Tiếp xúc với phóng viên, anh Hoàng Văn Cương (dân tộc Tày, thuộc thôn Tam Trung, xã Ea Tam, huyện Krông Năng) hồ hởi, một năm lễ hội chỉ diễn ra một lần, mình phải tranh thủ dậy sớm để đi dự hội với mọi người. Chúng tôi sinh ra và lớn lên tại vùng đất Tây Nguyên vì vậy việc được tham gia lễ hội cũng là dịp để hiểu biết hơn về những nét văn hóa truyền thống độc đáo, biết về cuội nguồn của dân tộc mình.

sơn nữ Tây Nguyên

Sơn nữ xinh tươi trong không khí từng bừng lễ hội

Trong lễ hội có nhiều trò chơi dân gian và các tiết mục đặc sắc như: Tung còn, cách làm bánh chưng, bánh giày, cách nấu cất rượu men lá, cách quay heo với lá mắc mật, cách làm nấu xôi ngũ sắc…; Nghe vài điệu hát then, lượn cùng cây đàn tính của những chàng trai, cô gái người Tày, Nùng…được say sưa với những chén rượu cay nồng do chính đồng bào cất nấu theo kiểu truyền thống.

Khác với những năm trước, năm nay lễ hội có thêm những nét tươi mới đó là: Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk kết với UBND xã Ea Tam tổ chức trưng bày 150 hình ảnh, bằng chứng lịch thuộc các công trình nghiên cứu, ấn phẩm liên quan đến Trường Sa-Hoàng Sa, ngay trước trung tâm sân khấu để người dân, cũng như đồng bào khi tham gia lễ hội có thể theo dõi và để tìm hiểu thêm về lịch sử 2 quần đảo lớn thuộc chủ quyền Việt Nam.

lễ hội Tây Nguyên của Mường di dân

Lễ hội thu hút được rất nhiều người tham gia

Hòa chung không khí lễ hội với đồng bào, ông Hoàng Văn Hoan (Chủ tịch UBND xã Ea Tam) trưởng ban tổ chức lễ hội “Văn hóa dân gian Việt Bắc” cho biết: Toàn xã Ea Tam đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 95%, việc tổ chức lễ hội này là vô cùng quan trọng, không những tạo không gian cho đồng bào ở trong xã gặp gỡ giao lưu, mà còn tạo được tình đoàn kết sâu rộng giữa các dân tộc trong địa bàn tỉnh ĐắK Lắk. Lễ hội năm nay diễn ra theo đúng như kế hoạch chương trình đề ra, tình hình an ninh trật tự được đảm bảo an toàn, các tệ nạn cờ bạc, trộm cắp trong lễ hội đã được kiểm soát tốt. “Việc tổ chức các lễ hội của các dân tộc phía Bắc trên mảnh đất Tây Nguyên là góp phần không nhỏ trong việc giáo dục, khuyến khích người dân biết trân trọng, tự hào và giữ gìn những nét đẹp văn hóa vốn có của dân tộc mình, đồng thời hòa vào dòng chảy văn hóa của các dân tộc trên Tây Nguyên tươi đẹp”, ông Hoan nhấn mạnh.

Theo Tamnhin.net

Mới đây, mô hình nuôi cá lóc đen thương phẩm được xây dựng thí điểm, có những thành công bước đầu đã mang lại triển vọng cho hoạt động nuôi trồng thủy sản ở huyện.

Mô hình được thực hiện tại gia đình ông Ngô Minh Chính (thôn 18, xã Cư Mta) trên diện tích ao nuôi 600 m2 có kè bờ cao. Được đầu tư 100% chi phí mua cá giống, hỗ trợ một phần tiền thức ăn, gia đình ông Chính thả 6.000 con giống cá lóc đen. Qua thời gian 5 tháng thả nuôi, mặc dù có chịu thiệt hại do lượng nước trong ao thấp, gia đình ông vẫn thu hoạch ước đạt hơn 1,9 tấn cá lóc thương phẩm, với giá bán sỉ cho thương lái khoảng 45.000 đồng/kg, mang lại thu nhập trên 87 triệu đồng. Theo hạch toán ban đầu, sau khi trừ tất cả các chi phí đầu tư như chuẩn bị và xử lý ao nuôi, giống, thức ăn, công chăm sóc,… hộ chăn nuôi vẫn thu lãi trên 30 triệu đồng. Ông Chính cho biết, trước đây ông và hầu hết các hộ chăn nuôi khác chỉ coi việc nuôi trồng thủy sản là việc làm thêm nên chủ yếu nuôi theo kinh nghiệm, chưa thực sự đầu tư vào sản xuất và mở rộng quy mô nuôi trồng, chưa biết áp dụng KHKT trong chọn lựa thức ăn, con giống để tăng năng suất, vì thế hiệu quả kinh tế của việc nuôi cá còn thấp. Từ khi tham gia thực hiện mô hình, gia đình ông đã có nguồn thu nhập đáng kể.

cá lóc đen Tây Nguyên

Gia đình ông Ngô Minh Chính đang thu hoạch cá lóc.

Từ thành công bước đầu của mô hình điểm, nhiều hộ nông dân đã đến tận gia đình ông Chính tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm chăn nuôi. Kỹ thuật nuôi cá lóc khá đơn giản vì loại cá này thích nghi được cả môi trường nước đục, nước tù và nước lợ, chịu đựng được nhiệt độ trên 300C, chống chịu tốt với môi trường và tạp ăn. Tuy nhiên, thức ăn cho cá đòi hỏi phải tươi sống như cá tạp, ốc, tép… xay nhỏ và thức ăn viên có hàm lượng đạm hơn 40%. Phương thức nuôi cá lóc trong ao có những ưu điểm như: dễ kiểm soát được môi trường nước và dịch bệnh; thức ăn tập trung, tránh lãng phí dư thừa; chủ động được nguồn nước và ít rủi ro do thiên tai nên có thể tăng vụ nuôi, đặc biệt ao nuôi không cần diện tích rộng, tận dụng được tối đa diện tích nên đã giải quyết được khó khăn thiếu ao hồ, mặt nước để thả nuôi vào mùa khô hạn… Mặc dù là cá nuôi nhưng do thức ăn cho cá từ nguồn cá biển nên thịt cá chắc và thơm ngon, có giá trị không kém cá lóc tự nhiên. Cá lóc đen thương phẩm tại hộ gia đình ông Chính ngoài giá trị dinh dưỡng, thịt săn, chắc và thơm ngon còn là sản phẩm cá sạch nên được người tiêu dùng đánh giá cao.

Huyện M’Đrắk có tổng diện tích nuôi trồng thủy sản nước ngọt 353 ha, trong đó diện tích ao nuôi 308 ha; mặt nước lớn (bao gồm các hồ đập thủy lợi, thủy điện) 39 ha; ruộng trũng 6 ha, tập trung chủ yếu tại một số xã như Ea Pil, Cư Prao, Ea Riêng, Ea Hmlay, Ea Lai, Krông Á, Cư Króa…

Năm 2015, diện tích nuôi trồng thủy sản huyện M’Đrắk là 353/353 ha, đạt 100%, tăng 8 ha so với năm 2014. Năng suất nuôi trồng đạt 13,5 tạ/ha, sản lượng nuôi trồng 476,67 tấn, sản lượng khai thác đánh bắt tự nhiên 43 tấn, tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 520 tấn, đạt 87,25% kế hoạch. Mô hình hình nuôi cá lóc đen thương phẩm là hướng đi phù hợp và đạt hiệu quả kinh tế cao, cần được nhân rộng giúp người dân nâng cao hiệu quả sản xuất, khai thác hết tiềm năng sẵn có ở địa phương. Ông Võ Văn Ánh, Phó Phòng Kinh tế – Hạ tầng huyện M’Đrắk cho biết: Để giúp nhiều nông dân tiếp cận với kỹ thuật nuôi cá lóc, các ngành chức năng huyện M’Đrắk cần tổ chức nhiều lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho các hộ có nhu cầu trên địa bàn và có chính sách hỗ trợ cụ thể khuyến khích nông dân tận dụng khai thác mặt ao hồ có sẵn, phát huy thế mạnh của địa phương, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống.

Theo Baodaklak.vn

KONTUM

Đất & Người Kon Tum:

Dẻo thơm xôi nếp Ri Mẹt

Không phải là người nghiền món xôi nhưng trong một lần có dịp được thưởng thức món xôi nếp than của người Jẻ ở làng Ri Mẹt, xã Đăk Môn (huyện Đăk Glei) tôi đã bị chinh phục bởi cái vị dẻo, thơm, ngon ngọt khó cưỡng. Người ta nói xôi ngon hay không tùy vào loại gạo nếp nhưng với bà con đồng bào Jẻ nơi đây độc đáo hơn là việc sử dụng chiếc nồi hấp xôi truyền thống.

Độc đáo nồi hấp xôi truyền thống

Bên cạnh căn nhà mới được xây dựng khang trang, vợ chồng ông A Ơi và bà Y Yêu ở làng Ri Mẹt, xã Đăk Môn (huyện Đăk Glei) vẫn giữ lại một gian nhà gỗ của căn nhà cũ để làm gian bếp. Cuộc sống thời hiện đại, nồi gang, nồi nhôm, nồi cơm điện cũng được con cái sắm sửa cho ông, bà đủ đầy nhưng cứ hễ nấu đến món xôi là vợ chồng ông lại mang cái nồi hấp xôi bằng gỗ ra dùng.

Ông A Ơi nói, cũng thử nấu nồi gang, nồi nhôm hay nồi cơm điện rồi nhưng không ưng cái bụng chút nào vì những loại nồi làm bằng kim loại tuy tiện lợi trong cách nấu nhưng xôi nấu ra không ngon, không dẻo và cũng không thơm bằng cách hấp xôi truyền thống. Đặc biệt hơn, nếu dùng nồi hấp xôi truyền thống được làm bằng gỗ như người Jẻ, xôi nấu chín không bao giờ bị nhão, bị khô, hạt xôi lại rất mềm mại.

hấp xôi

Hấp xôi bằng nồi hấp truyền thống của người Jẻ. Ảnh: TQ

Ông A Ơi mang ra cái nồi hấp xôi truyền thống của người Jẻ làm bằng gỗ dổi mới được ông đục đẽo cách đây mấy ngày còn thơm mùi gỗ ra giới thiệu: Đồng bào Jẻ ngày trước ở Đăk Môn nhà nào cũng có vật dụng này, bởi xôi là món ăn quen thuộc của người Jẻ bao đời nay.

Nồi hấp xôi của người Jẻ thường được làm bằng những loại gỗ dổi và mít rừng. Đây là những loại gỗ tốt, không bị nứt nẻ, chịu nhiệt tốt, đặc biệt khi gặp nhiệt độ cao có thể tỏa hương thơm lại không độc hại, càng góp phần tạo nên hương vị cho món xôi thêm phần thơm ngon.

Chiếc nồi hấp xôi có chiều cao trung bình từ 35-40cm (nhiều kích cỡ), nồi nhỏ nhất nấu được từ 2-2,5kg gạo nếp, nồi lớn nhất nấu được từ 5-5,5kg gạo nếp.

hấp xôi1

Vợ chồng ông A Ơi hấp xôi đãi khách. Ảnh: TQ

Thân nồi được đục rỗng từ trên xuống dưới. Để hấp xôi, bà con đặt bên trong nồi hấp (cách chân nồi khoảng 7cm) 1 chiếc rá làm bằng tấm nan tre (có khe hở nhỏ) để đổ nếp lên. Sau khi đổ nếp lên rá, tiếp tục đặt chiếc nồi hấp xôi vào trong một nồi nước đã được bắc trực tiếp lên bếp lửa (mực nước bên ngoài thấp hơn rá đựng nếp bên trong) rồi đậy kín nắp bên trên để lấy hơi. Đun lửa liên tục đến khi mực nước trong nồi sắp cạn, nếp bốc mùi thơm thì mở nắp nồi xôi xới đều. Để xôi chín giữ vị thơm ngon, sau khi xới xôi nếp xong, bà con thường hái lá chuối phủ phía bên trên mặt nồi rồi đậy nắp nồi kín lại.

Để hạt xôi mềm, dẻo, bà con thường ngâm nếp trước khoảng 2 tiếng đồng hồ rồi vớt ra để ráo nước sau đó mới cho nếp vào nồi hấp.

Điểm đặc biệt của xôi nếp được hấp bằng nồi hấp xôi truyền thống của người Jẻ là hạt xôi sau khi chín trút ra dùng từng hạt xôi dẻo thơm quyện chặt vào nhau, không bị dính vào nồi hay bị cháy sém như những loại nồi làm bằng kim loại.

Trăm nghe không bằng mắt thấy, vợ chồng ông A Ơi đã nấu hẳn một nồi xôi nếp than để đãi khách. Chưa đầy 30 phút, chúng tôi đã được thưởng thức cái hương vị dẻo, thơm, ngon, ngọt của xôi nếp làng Ri Mẹt không lẫn vào đâu được với cái vị vừa ngọt, vừa bùi bùi lại béo béo.

Ông A Ơi cho biết thêm, xôi nếp ngon hay không còn tùy thuộc vào sự khéo léo trong việc đục đẽo chiếc nồi hấp xôi. Theo kinh nghiệm của ông, phải canh làm sao để phần thân trên của chiếc nồi có độ dày khoảng 1cm, phần thân dưới của nồi phải có dộ dày khoảng 3cm (theo hướng càng về phía dưới chân nồi độ dày càng tăng) như vậy mới đảm bảo cho chiếc nồi hút nhiệt và giữ nhiệt tốt hơn.

Món ăn không thể thiếu trong ngày cưới, hỏi

Mặc dù trong nhà lúc nào cũng có vài chiếc nồi hấp xôi truyền thống được cất giữ như bảo vật, nhưng để chuẩn bị cho đám hỏi của đứa con trai của mình, ông A Ơi cẩn thận đục đẽo thêm một chiếc nồi nữa vì ông dự tính kỳ này sẽ hấp khoảng chục gùi xôi nếp than vừa đãi khách, vừa làm “lễ vật” mang đến tặng cho nhà gái.

Ông A Ơi nói, phong tục cưới, hỏi của người Jẻ từ xưa đến giờ không thể thiếu xôi nếp cũng như rượu ghè và thịt rừng. Cả nhà trai, lẫn nhà gái cũng vậy. Tuy nhiên, nhà gái có nhiều nếp thì nấu nhiều xôi, ít nếp thì nấu ít xôi; nhưng với nhà trai thì bao giờ xôi nếp cũng phải nấu đến cả chục gùi trở lên, vừa đãi họ hàng, vừa làm lễ vật để khi kết thúc đám cưới, hỏi mang tặng cho nhà gái mang về làm quà.

Ông A Ơi cho biết, thời của ông, lúa nếp còn trồng nhiều nên khi đi cưới vợ, gia đình ông phải nấu cả mấy chục gùi cơm nếp vừa đãi dân làng, còn lại mang tặng cho nhà vợ. Bây giờ, nhiều gia đình người Jẻ ở làng Ri Mẹt, xã Đăk Môn vẫn còn giữ phong tục này. Và mặc dù diện tích lúa rẫy bị thu hẹp dần để trồng những loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao nhưng gần như gia đình nào cũng dành vài chục mét vuông đất để trồng lúa nếp than.

Để làm nên chiếc nồi hấp xôi phải mất mấy ngày liền mới có thể đục đẽo xong và không phải ai cũng có thể làm được. Tuy nhiên, điều đáng quý hơn là để góp phần giữ hương vị xôi nếp thơm ngon của người Jẻ ở làng Ri Mẹt, ông A Ơi đã không ngần ngại bỏ công sức của mình giúp bà con dân làng làm những chiếc nồi hấp xôi truyền thống; có khi ngồi cả mấy ngày liền để hướng dẫn có những người trẻ tuổi học cách làm chiếc nồi truyền thống này.

Theo Tamnhin.net

Kon Tum: Săn “ong tử thần”

Ong bắp cày (hay còn gọi là ong chần) được mệnh danh là “loài ong tử thần” có khả năng giết chết một người trưởng thành chỉ sau hai ba vết đốt. Thế nhưng, ở huyện Đak Hà (tỉnh Kon Tum), một người đàn ông lại sống bằng nghề săn loài ong tử thần này.

Trời mưa rả rích, trong khoảnh khắc ngắn ngủi cả khu rừng già ở thung lũng Măng Đen (huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) chuyển sang màu đen đặc. Anh Nguyễn Văn Toàn đứng run trong cái lạnh tê tái chìa bàn tay ra trước đám lá, nói: “Ong vào lỗ hết rồi, chuẩn bị “đánh thôi”.

Đạp rừng đuổi theo ong

săn ong1

Anh Nguyễn Văn Toàn dùng khói thổi vào tổ ong để khai thác tổ. Ảnh: Thái Bá Dũng

Đang quan sát hai chú ong mật đập cánh dưới cành cây dại, Toàn bỗng giật bắn mình khi nghe tiếng ù ù xuất hiện xung quanh lùm cây. Toàn đứng bất động, rồi lấy cành cây vót nhọn một đầu, buộc một con châu chấu nhỏ làm mồi nhử ong tử thần. Chỉ vài ba phút, chú ong độc phát hiện thấy mùi thịt côn trùng liền lao tới, cắn xé con châu chấu. Tiếng đạp chân kết hợp với vỗ cánh của chú ong to gần bằng một đốt tay này phát ra những âm thanh ghê rợn. Ôm trọn con mồi, chú ong lao vút đi rồi mất hút giữa rừng. Toàn không rời mắt nhìn theo rồi hét lớn: “Chạy! Đuổi theo thật nhanh kẻo mất dấu”.

Thật khó tưởng tượng được giữa rừng núi thâm u, nhìn lá cây đã khó nhưng Toàn vẫn theo sát được chú ong rừng dựa trên hướng bay. 11 giờ trưa cho đến gần 15 giờ, sau gần 5 km rượt đuổi giữa rừng, chú ong đã bị “bắt tại trận” khi đang tiếp đất về một hang tổ khổng lồ dưới khu rừng thông. Người săn ong lò dò bước chân để không phát ra tiếng động rồi đưa tay ngăn tôi lại: “Tổ ong bắp cày đấy. Cứ nhìn đống đất chúng đào lên là biết tổ đông cỡ nào, ong thợ phải đến cả ngàn con”.

Sau khi xác định được tổ ong nằm sâu dưới lòng đất, bên cạnh hốc cây lớn Toàn hạ trại, nhóm lửa để đợi trời tối hẳn. Khi những chùm lá chỉ còn lại tiếng động, không một kẽ sáng nào len qua nữa Toàn mới bắt đầu “vào trận”. Một ống thổi to bằng bắp tay được nhét đầy vỏ trấu, Toàn gắp hai hòn than đang cháy đỏ thả vào đám trấu rồi ghé miệng vào đầu ống rướn sức thổi cho lửa bén vào trấu. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi, ngọn đuốc được đốt lên cháy nghi ngút giữa màn đêm rồi bất ngờ được nhét thẳng vào cửa tổ ong bắp cày. Ống trấu được dúi xuống lòng đất, dẫn thẳng qua khe hở đủ để khói phả vào lòng đất nơi tổ ong đang đóng. Toàn lấy sức thổi hơi, tổ ong đang yên lặng bỗng phát ra những tiếng ù ù như vỡ tổ, một thứ âm thanh ma quái và đầy chết chóc.

Sau khoảng mười phút phả khói vào tổ, khi những tiếng ù ù đã ngưng bặt, người săn ong dùng xẻng khoét một lỗ lớn rồi ghé tai áp xuống lòng đất một lần nữa. Ong đã “say khói”, hàng ngàn chú ong hung dữ chết chóc đã ngả nghiêng ra mặt đất thì Toàn bắt đầu công việc còn lại của mình là khoét lỗ, đào tổ. Dưới lòng đất chỉ nửa gang tay, một tổ ong khổng lồ to bằng chiếc mâm lộ ra những tầng sáp lớn; hàng ngàn ong mẹ to bằng ngón tay nằm la liệt trong trạng thái “chết tạm thời” sau khi bị người thợ ong phả khói “trúng độc”. Toàn nhặt những chú ong mẹ đang bám vào tổ ra bên ngoài rồi khẩn trương lấy tổ, bỏ vào sọt và nhanh chóng rời khỏi tổ. “Tất cả phải làm thật nhanh, không được quá 10 phút nếu không ong mẹ sẽ tỉnh dậy”-Toàn gấp gáp.

Câu… ong

săn ong2

Một tổ ong bắp cày. Ảnh: Thái Bá Dũng

Để bắt được loài ong độc này, dụng cụ hàng ngày của Toàn chỉ là cuốc xẻng, vỏ trấu, ống thổi khói và vốn “mẹo vặt” được chắt lọc từ hàng chục năm đi bắt ong rừng. “Quê mình ở tận Mai Châu, Hòa Bình nên từ nhỏ đã theo người làng đi bắt rắn độc, bắt đủ các loài ong rồi. Người ta chỉ dám bắt ong mật ít độc nhưng mình thì biết mẹo nên bắt được cả ong bắp cày”-Toàn nói và chìa bàn tay ra, chỉ vào những vết lủng để lại sẹo sau những lần bị ong chích. “Bình thường một con trâu mộng chỉ khoảng 10 vết đốt của ong là lăn ra chết, còn người khỏe mạnh thì chỉ vài ba phát là “chết lâm sàng” nếu không biết cách chữa kịp thời thì nguy cơ bỏ mạng là rất cao”.

Bắt được ong trong tổ đã khó, nhưng làm sao để phát hiện ra tổ ong ở giữa rừng mênh mông lại càng như chuyện đi “mò kim đáy bể”. Nhưng người săn ong tử thần này gần như ngày nào cũng đào được ong đem về bán. Toàn cười rung lên: “Có nghề hết”. Loài ong này thường đi lẻ bầy đến các vùng có hoa để tìm bắt ong nhỏ và côn trùng. Người câu ong chỉ cần dùng một cành cây vót nhọn, buộc một con côn trùng có thắt sợi chỉ mỏng để dụ ong tới ăn mồi. Chú ong sà đến ôm con mồi rồi cắn xé lao đi giữa không trung. Người thợ săn chỉ cần đứng nhìn hướng ong bay, trạng thái ong mệt mỏi hay bay thẳng người là có thể đoán được tổ ong lớn hay nhỏ, cách nơi kiếm ăn xa hay gần. Sau khi quan sát, việc còn lại là… đuổi theo hướng ong bay để dò đến nơi làm tổ.

Theo Baogialai.com.vn

PLEIKU(GIALAI)

Công ty Bò sữa của Hoàng Anh Gia Lai tự ý đắp đập xài nước “chùa”?

(Tư bản cũ hay mới cũng đều áp bức bóc lột  “nhân dân lao động”!!

Nhiều người trồng cà phê ở hạ nguồn suối Ia Châm (huyện Ia Grai, Gia Lai) đã bức xúc tố cáo Công ty cổ phần Bò sữa Tây Nguyên thuộc Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai đã tự ý chặn dòng ở thượng nguồn, bơm hết nước để tưới cỏ nuôi bò khiến họ lâm vào cảnh hụt hơi sau vụ thu hoạch.

Theo các nông dân ở xã Ia Tô, vào mùa khô hàng năm, dân đều sử dụng nguồn nước tại suối Ia Châm để tưới cà phê, nguồn nước rất ổn định. Song hiện tại, nước ở suối này đã gần cạn đáy khiến nhiều diện tích cà phê không trổ bông đúng vụ và thê thảm hơn là có nhiều vườn cây đang héo khô.

Theo chân những nông dân đi thực địa, chúng tôi thấy, hiện có nhiều vườn cà phê do không có nước tưới đang héo khô từng ngày. Gia đình nông dân Lê Văn Việt (SN 1973) sở hữu gần 8 sào (8.000m2) cà phê ở thôn 7 xã Ia Tô. Nửa tháng nay, ngày nào ông Việt cũng chực chờ canh nước tưới đợt 2 nhưng đến nay vẫn chưa xong.

Theo nông dân này, với gần 8 sào cà phê, mọi năm chỉ cần tưới một ngày đêm là dứt điểm. Hiện vườn cà phê của ông có một số ít cây do đã được tưới nước đợt 2 đã bung bông.

“Ngày nào tôi cũng ăn chực nằm chờ ở đây để canh nước, cứ tưới được khoảng vài chục phút là nước lại cạn. Nếu những ngày tới, tình hình không cải thiện thì coi như năm nay tiếp tục mất mùa”, người đàn ông này than thở.

cỏ của HAGL

Cánh đồng cỏ của Công ty cổ phần Bò sữa Tây Nguyên

 

Một nông dân khác sở hữu 1ha cà phê nói chen vào, những năm trước, dù trời khô hạn nhưng lượng nước vẫn miễn cưỡng đủ cho dân. “Năm ngoái cà phê mất mùa, mất giá, nông dân chỉ sống lay lắt cầm chừng, thậm chí vay nợ để tái đầu tư. Giờ không có nước tưới để cây đơm hoa, mất mùa là cái chắc rồi. Không biết sang năm chúng tôi sống như thế nào đây”, ông than vãn.

Trước tình trạng bất thường trên, các nông dân đã tiến hành “điều tra” thì phát hiện ở thượng nguồn suối Ia Châm đoạn qua làng O Gia, xã Ia Pếch, lòng suối đã bị ai đó đắp đập chắn ngang khiến lượng nước chảy về phía hạ du giảm mạnh. Người dân cho rằng đó chính là đập do Công ty cổ phần Bò sữa của Hoàng Anh Gia Lai đắp để bơm nước tưới cỏ cho bò ăn.

cà phê thiếu nước tưới

Nhiều cây cà phê đang chuẩn bị nở hoa nhưng héo úa vì không có nước tưới

 

“Theo quy định, Công ty cổ phần Bò sữa Tây Nguyên nếu cần sử dụng lượng nước lớn từ 2 con suối trên thì phải có có công văn xin phép địa phương và đương nhiên là phải trả tiền đàng hoàng chứ không thể xài chùa. Huyện chưa có bất kì văn bản nào đồng ý cho công ty sử dụng nguồn nước trên. Không thể vì lợi ích của doanh nghiệp mà để người dân thiệt thòi, chúng tôi sẽ yêu cầu xã báo cáo gấp và có hướng xử lý nhanh chóng đối với vấn đề này”, ông Phan Trung Tường khẳng định.

Làm việc với ông Kiên Lơ – Trưởng thôn O Gia được biết, trạm bơm trên được đắp vào cuối tháng 1. Người ta tiến hành bơm nước nhiều lần vào buổi tối, mỗi lần bơm với thời gian từ 1 đến 2 giờ. “Họ thường bơm nước vào ban đêm, cứ mỗi lần bơm là suối cạn sạch luôn”, ông trưởng thôn khẳng định.

Về vấn đề này, ông Nguyễn Ngọc Thạch, quản lý nông trường bò sữa Ia Pếch của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai nói rằng, trước Tết, nông trường đã đắp 1 số đập và lắp hệ thống bơm nước tại khu vực suối Ia Châm đoạn qua làng O Gia.

Tuy nhiên, nông trường mới chỉ bơm nước vài lần vào buổi tối để thử lượng nước như thế nào và hiện nay đã dừng bơm. Nông trường mới chỉ trồng 45ha cỏ, chưa tưới gì nhiều. Do đó, thông tin bà con phía hạ nguồn suối Ia Châm thiếu nước tưới do ảnh hưởng bởi nông trường là vô lý.

Còn theo ông Phan Trung Tường – Phó Chủ tịch UBND huyện Ia Grai, đến nay, xã Ia Pếch vẫn chưa có báo cáo cho huyện về việc Công ty cổ phần Bò sữa Tây Nguyên đã tự ý đắp đập ngăn suối Ia Châm và bơm nước tưới cỏ.

Cũng theo ông Tường, Công ty bò sữa này đã đặt máy bơm tại 2 dòng suối Ia Châm và Ia Dáp. Tổng diện tích cây nông nghiệp bị ảnh hưởng về nước tưới trong khu vực này là 1.021ha cà phê và 14ha lúa. Lượng nước tưới của 2 con suối trên chỉ miễn cưỡng đủ phục vụ sản xuất lúa, cà phê trong vùng.

Riêng suối Ia Châm, từ năm 2013 đến nay, vào mùa khô thường không đủ nước cung cấp cho dân tưới cà phê vào đợt 2, đợt 3. Chính vì vậy, huyện đã yêu cầu phía công ty bò sữa không được bơm nước tưới trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 4, phải ưu tiên nước phục vụ cây nông nghiệp của nhân dân.

tưới cỏ1

Hai con đập và máy bơm nước tưới cỏ được cho là của Công ty cổ phần Bò sữa Tây Nguyên chặn dòng nước tưới khiến nông dân lao đao
tưới cỏ2

 

Mương dẫn nước tưới vào vườn cà phê của nông dân xã Ia Tô đang cạn trơ đáy

tưới cỏ3

Suối Ia Châm, đoạn qua xã Ia Tô đang bị cạn khô dần

 

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.