Nhân cách lớn làm nên một con người-Trần Ngọc Trác

tapbut1

logo thi ca1

 

NHÂN CÁCH LỚN

LÀM NÊN MỘT CON NGƯỜI

Trần Ngọc Trác

Trần Ngọc Trác


          Sau khi tốt nghiệp Khoa Trồng trọt Trường Nông nghiệp Huế (1979), tôi vào Đà Lạt nhận công tác. Các đồng nghiệp đến sớm đã được phân công những nơi thuận lợi. Tôi và 9 bạn học khác về muộn, bị đưa xuống tận nông trường quốc doanh Hà Lâm, huyện Đạ Huoai, gần kinh tế mới Hương Lâm của Huế. Bảy bạn bỏ nhiệm sở chỉ còn tôi với anh cán bộ trung cấp thú y ở lại. Sau một tháng lăn lộn với ruộng đồng, với công nhân nông trường, tôi nhập viện, suýt chết vì bị sốt rét và lỵ amid. Những năm tháng trên quê mới, những lúc hứng chí tôi lại làm thơ, viết văn, làm báo. Nhiều bài viết của tôi lọt vào “ mắt xanh” các nhà biên tập nên tháng nào tôi cũng có nhuận bút, Hơn 2 năm sau, lãnh đạo Báo Lâm Đồng xuống làm việc xin tôi về Đà Lạt và tôi trở thành phóng viên của Báo. Cuối năm 1982, tôi rời thành phố Đà Lạt ngàn hoa đưa gia đình về định cư ở vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng, tiếp tục phát huy nghề làm báo ở một đài truyền thanh huyện. Gia đình tôi có hai cháu nhỏ. Cháu trai đầu ba tuổi và cháu gái mới sinh được ba tháng tuổi. Cuộc đời tôi bắt đầu từ những năm tháng khốn khó của thời bao cấp.

Tôi gởi cháu trai vào học lớp mẫu giáo của cô Bùi Phương Hạ. Không ngờ Hạ chính là con gái của nhà thơ Quang Dũng.

Đó là những năm, lãnh đạo Hà Nội đưa các thầy cô giáo của thủ đô mới ra trường tăng cường vào dạy học ở vùng kinh tế mới Lâm Đồng. Rất nhiều cô gíáo xinh đẹp đã có mặt ở đây. Hạ là một trong những cô giáo như thế!.

Một buổi chiều, chúng tôi đốt lửa lên, nấu một nồi chè đậu đen – loại đậu có hạt rất to bằng móng tay út – do tôi trồng, vừa mới thu hoạch mấy ngày. Chúng tôi với các cô giáo dạy mẫu giáo quây quần bên nồi chè ngun ngút khói, thơm lựng, trong đó có Hạ.

Hạ kể: Khi em lớn lên, đi học ở Hà Nội mới biết thơ của cha bị coi là tiểu tư sản. Trong sách giáo khoa trung học còn có những dòng rất nặng nề về thơ của cha. Các anh chị em của em lớn lên sinh sống thật gian nan. Bài thơ “ Tây Tiến” nổi tiếng của cha trở thành oan gia cho cả gia đình. Họ bảo: Cha em đã đi theo cách mạng, chiến đấu mà còn mơ tưởng về những cô gái Hà Nội, là tiểu tư sản phải xem xét lại. Vậy là cuộc đời của cha em lận đận cho đến ngày qua đời trong đói khổ ở bệnh viện. Bản thân em ra trường không được vào biên chế Nhà nước. Nhưng em không quan tâm lắm, em muốn các cháu bây giờ được đi học, được vui vẻ là em mừng lắm rồi.

Trong ánh mặt Hạ lúc đó ánh lên những giọt nước mắt long lanh. Trong ánh đèn điện tù mù ở kinh tế mới tôi nhận thấy trong mắt em buồn. Nỗi buồn xa xăm diệu vợi của một thời tuổi trẻ như chúng tôi.

Trong câu chuyện, tôi cố hướng về những kỷ niệm ngày xưa của nhà thơ Quang Dũng, nhưng Hạ bảo: Buồn lắm anh ơi! Và không kể gì nhiều về cha mình.

Từ đó, chúng tôi coi nhau như anh em một nhà. Nhà thơ Quang Dũng lên thăm và ở lại với con gái rất nhiều ngày. Ông rất thương con vì thơ mình mà vất vả, oan khiên từ những bài thơ lãng mạn mà mình đã viết:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,
Quân xanh màu lá dữ oai hùng.
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới.
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Những câu thơ lung linh, sáng lòa, sang trọng như thế mà trở thành nỗi đau cho cuộc đời các con, có lẽ nhà thơ Quang Dũng cũng không bao giờ lường hết được và ông cũng không biết rằng cái “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” của ông bị quy chụp là ủy mị, là có vấn đề tư tưởng..

Một lần nhà thơ Quang Dũng đến chơi nhà, ông đã hướng dẫn cho tôi cách tập thể dục mỗi sáng sớm trước khi bước ra khỏi giường. Ông bảo: Cần phải có một số động tác vận động làm cho toàn thân ấm lên. Không được vùng dậy bước xuống đất mà chưa khởi động. Rồi ông “ biểu diễn” cho tôi xem.

Nhà thơ Quang Dũng cao to như Tây. Ông từng bị dân quân bắt trói dẫn về trụ sở xã, vì tưởng ông là phi công Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc. May có người biết chuyện nói cho bà con nghe, ông mới được thả.

Nhà thơ Quang Dũng ăn uống rất khỏe, nhưng rất từ tốn, chậm rãi. Hôm đó, tôi nấu một nồi bắp nếp Tây Nguyên. Đây là sản phẩm tôi lao động tự túc trên mảnh đất sau đài truyền thanh của vùng. Quả bắp to dài, hạt mẩy. Quả bắp vừa nhắc từ nồi ra còn bốc khói, nóng hổi. Tôi mời ông dùng, ông cảm ơn và cầm một quả bắp, vừa ăn vừa nói chuyện. Một hồi lâu ông bảo: Mình đếm được 987 hạt nhé! Và cầm bát nước bắp luộc lên uống chầm chậm. Tôi thật ngạc nhiên.

Nhà thơ Quang Dũng hay đến nhà tôi chơi. Nhà tôi lúc đó nằm ở dưới thung lũng của dốc Phì Phò, khu Đống Đa kinh tế mới Hà Nội. Căn nhà gỗ tôi mua lại của một thanh niên tiền trạm vừa về Hà Nội. Nhà lợp ngói prociment, ba bức tường xung quanh làm bằng đất sét trộn với rơm. Mặt trước thưng ván gỗ – loại ván bỏ đi hay nhặt được thành từng khúc, vá víu lại, người đứng ở ngoài nhìn thấy rõ bên trong. Quanh năm gió lùa lồng lộng. Nền nhà đất lổm chổm. Tuy vậy, nhà vẫn có ba gian, xung quanh vườn toàn cỏ tranh. Nhà thơ Quang Dũng đến chơi, thường chống gậy. Cháu trai đầu của tôi khi nghe ông đến, vội vàng chạy lên dìu ông xuống nhà. Nhà hơi dốc, nhưng ông vẫn đi. Một lần, ông vừa đi chơi Đà Lạt về mang theo một nải chuối chín. Ông bảo: Đây là quà của hai cháu nhỏ.

Tôi hay gọi nhà thơ Quang Dũng bằng bác. Hai bác cháu nói chuyện rất tâm đắc. Hôm đó, nhà thơ Quang Dũng ở lại dùng cơm trưa với gia đình. Đến chiều, tôi đưa nhà thơ Quang Dũng về nhà Bùi Phương Hạ. Nói là nhà của Hạ, thật ra là căn phòng nhỏ trong khu tập thể dành cho giáo viên. Hai bác cháu vừa đi chậm rãi, vừa nói chuyện từ khu Đống Đa vào đến Trường Phổ thông cơ sở Đông Anh dưới dốc Bà Mão hơn 7 cây số. Nhưng khi tôi hỏi nhà thơ Quang Dũng về những ngày khó khăn khi bài thơ Tây Tiến bị “ đánh”, thì bác nói sang chuyện khác, và có chút gì đó sờ sợ trong ánh mắt của nhà thơ. Tôi lại nói sang chuyện khác, thấy nhà thơ vui hẳn lên. Bác hỏi tôi về việc Hạ sẽ lấy chồng ở Nam Ban, ý tôi thế nào.v.v…Những lúc rỗi, ông hay lên Đà Lạt chơi và rất yêu vùng đất này. Nhà thơ cũng có dự định vào Nam Ban ở hẳn với gia đình tôi để viết truyện ký, làm thơ. Nhưng mấy năm sau trở về Hà Nội, do sức khỏe không được tốt nên nhà thơ không vào được nữa.

Một lần, nhà thơ Quang Dũng bị tai biến. Bàn tay của nhà thơ không duỗi ra được. Bùi Phương Hạ chăm sóc cho bố tận tình. Nhưng hằng ngày nhà thơ Quang Dũng vẫn đi ra giếng của hợp tác xã cách khu tập thể giáo viên mấy trăm mét, xách nước về cho Hạ. Hạ không đồng ý, nhưng nhà thơ bảo rằng: Cần phải tập luyện để bàn tay trở lại như cũ. Lần sau, vào thăm nhà thơ Quang Dũng, bác khoe đã viết được rồi và đưa cho tôi xem mấy trang bản thảo nhà thơ vừa viết xong. Nét chữ tuy không còn như xưa, nhưng vẫn hiện lên những cảm xúc mà ông dành tâm huyết thổ lộ trong đó.

Ngày Bùi Phương Hạ còn dạy học ở Nam Ban, Hạ có tặng cho tôi một bức ảnh về nhà thơ Quang Dũng đội mũ ca-lô. Tôi thấy chiếc mũ hơi là lạ. Tôi hỏi. Hạ giải thích: Đó là chiếc mũ làm từ…chiếc khăn quàng bằng len. Em quấn chiếc khăn lên đầu bố, kết thành chiếc mũ ca-lô như thời bố đi bộ đội Tây tiến. Con trai bác Trần Lê Văn ( bạn thân của nhà thơ Quang Dũng) đã chụp bức ảnh này và tặng em. Sau đó, tôi đã gởi bức ảnh kèm theo bài viết về Quang Dũng in trên báo Lâm Đồng.

Khoảng cuối năm 1984, Bùi Phương Hạ và một số cô giáo đi tăng cường ở vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng được trở về thủ đô. Tháng 8 năm 1988, tôi ra Hà Nội và cùng anh trai tôi là nhà văn Trần Phương Trà, công tác ở Ban Văn nghệ Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam đi xe đạp đến trụ sở Liên hiệp các Hội Văn học nghệ Việt Nam số 51 Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Hôm đó là ngày tang thương của giới văn nghệ. Nỗi buồn không sao tả nổi, khi ba chiếc quan tài sắp xếp bên nhau của nhà thơ Xuân Quỳnh, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ và cháu Lưu Quỳnh Thơ. Không ai bảo ai, mọi người lặng lẽ, đau buồn, nước mắt cũng lặng lẽ trào ra.

quangdung_buiphuongha_r

 

Nhà thơ Quang Dũng
Và con gái Bùi Phương Hạ ở kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng

Sau đó, tôi đề nghị anh trai tôi chở tôi ghé qua thăm nhà thơ Quang Dũng ở nhà số 45 khu tập thể Nguyễn Công Trứ. Thời kỳ đó, nhà thơ Quang Dũng đang bệnh nặng. Ông nằm trên chiếc giường bệnh, phủ drap trắng. Tôi không tin trước mắt mình là nhà thơ Quang Dũng. Một con người to cao như Tây ngày nào, bây giờ là một bộ xương khô, teo tóp, lọt thỏm trên chiếc giường hơn một mét rưỡi. Trên khuôn mặt ông vẫn rạng rỡ. Mắt ông nhắm nghiền. Bà Bùi Thị Thạch, vợ nhà thơ Quang Dũng ghé miệng vào tai nhà thơ nói nhỏ: Có anh Trác ở Lâm Đồng ra thăm ông. Tôi thấy trên khóe mắt nhà thơ hai giọt nước mắt rơi ra lăn xuống đôi má hóp. Miệng ông thoáng một nụ cười nhẹ. Hôm đó tôi có mang theo máy ảnh, nhưng không dám chụp, sợ ánh đèn flass lóe lên ảnh hưởng đến sức khỏe của nhà thơ Quang Dũng. Trên đường về, tôi kể lại, anh trai tôi trách sao không chụp ảnh. Mỗi lần nhớ đến, tôi rất lấy làm tiếc.

Rời Hà Nội trở về Đà Lạt, trong một thời gian ngắn sau đó tôi nhận được tin nhà thơ Quang Dũng đã từ trần tại bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội.

Sau này khi theo học khoa ngữ văn trường Đại học Đà Lạt năm 1986, tôi đã làm luận văn tốt nghiệp “ Đất nước, con người trong thơ Quang Dũng”, là một trong những luận văn lúc đó được nhà trường đánh giá cao.

Để có những ngày bên nhà thơ Quang Dũng, tôi thầm cảm ơn Bùi Phương Hạ. Hạ có chiều cao như bố. Mỗi lần anh em đi chơi với nhau, tôi bao giờ cũng đi trên lề cao, Hạ đi dưới lòng đường. Tôi chỉ có 1,65 mét, trong lúc đó Hạ cao hơn 1,7 mét. Khuôn mặt của Hạ đẹp như bố, mắt to, mũi cao. Về sau, Hạ lấy Nam, sinh được cháu Bảo. Cháu Bảo rất đẹp trai, cao lớn, khuôn mặt giống mẹ.

Khi nghe tin Bùi Phương Hạ mất, tôi thật sự bàng hoàng. Tôi viết bài thơ “ Thương Hạ”:Cha thương em lặn lội lên rừng, Đêm trở rét dạ sờn không đủ ấm./ Ngoài kia gió quần lên cấp chín,/ Dáng cha to bè đốt lửa đêm đêm./Em bình lặng như đời trong sạch quá,/Em vô tư đến lớp đến trường./Bầy em nhỏ trong căn nhà nhỏ,/ Làm dịu êm một kiếp ly hương./ Mười năm ra trường còn lận đận/ Vì em – con Quang Dũng nhà thơ./ “ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,” * /Câu thơ xưa gian khó đến bây giờ…/ Hà Nội hôm nay nhà cao, đường rộng/ Em trở về tay trắng như xưa./ Ba năm lên rừng, em vào biên chế/ Cuộc đời thêm trang biết mấy cho vừa./Anh thảng thốt / không ngờ / em ra người thiên cổ/ Ngày nào đây còn sưởi lửa cùng nhau./ Nhà thơ lớn – cha em ngồi đó,/ Bóng ông đỏ lừ sáng mãi mai sau.

Nhà thơ Quang Dũng có một anh con trai dạy học ở Trường Đại học Nông nghiệp Thái Nguyên sáng tác nhạc; một cô con gái út là Bùi Phương Thảo, giáo viên, hiệu phó Trường Tiểu học Võ Thị Sáu, Hà Nội là theo nghiệp bố. Thảo thay bố và các anh chị để chăm sóc cho mẹ. Thảo còn là cây bút nữ làm thơ viết văn rất hay ở Hà Nội. Thảo đã dành nhiều thời gian sưu tầm bản thảo của bố và hợp tác với những người yêu thơ văn Quang Dũng để xuất bản thành sách.

Mấy lần ra Hà Nội, tôi đến thăm nhà thơ Trần Lê Văn, Ngô Quân Miện, Lữ Giang, nhạc sĩ Mặc Hy … những người bạn rất thân của nhà thơ Quang Dũng, tôi được nghe nhiều câu chuyện về nhà thơ Quang Dũng, càng hiểu hơn nhân cách lớn của ông. Bây giờ tôi không còn được thấy nhà thơ Quang Dũng, em Bùi Phương Hạ bằng xương bằng thịt – nhưng hình ảnh của hai bố con ông luôn hiện hữu trong tôi. Những kỷ niệm không thể nào quên ấy sẽ mãi mãi đi suốt cuộc đời của tôi. Đó là những con người mà tôi vô cùng yêu quý, kính trọng. Những năm tháng khó khăn, vất vả của thời bao cấp không làm cho hai bố con gục ngã. Nhân cách lớn đã làm nên một con người, không chỉ là những bài thơ để đời và ở lại với triệu triệu trái tim người mà là đạo lý làm người của nhà thơ Quang Dũng.
*Thơ Quang Dũng
==))((==
TRẦN NGỌC TRÁC

ĐỌC THƠ GIỮA RỪNG

Kính tặng nhà thơ Quang Dũng

Ngọn gió ùa qua rừng cây rung lên,
Những chiếc lá dập dờn trong tiếng gió.
Câu thơ trầm xoắn một vùng đất đỏ,
Câu thơ bay lên cháy bỏng ở trong đời.

Người đọc thơ không trẻ không già,
Lời thơ không cầu kỳ khúc chiết.
Người đọc thơ chẳng hề biết mệt,
Niềm vui ở bên mình, công chúng yêu thơ.

Nước mắt không rơi ra, ai đó khóc thầm
Vội đưa cánh tay trần lên chấm mắt…
Câu thơ như lời khuyên thầm nhắc,
Một chút thơ thôi xao xuyến bao lòng.

Câu thơ không đài các, gọt dũa tận cùng
Nơi đọc thơ cần chi nhà văn hóa.
Giữa đồi rừng mọi điều như mới lạ
Tiếng hoan hô lay động rừng già…

Người nghe thơ có trẻ, có già
Cả cháu bé còn đòi hương sữa mẹ.
Những câu thơ hay, ý thơ mới mẻ
Thơ vào lòng người nhè nhẹ ơn sâu.

Thơ giao duyên nối nhịp bắc cầu
Người đọc thơ, người nghe thơ-đồng cảm.
Ở nơi đây không còn chi lạ lẫm,
Thơ bay lên trầm lắng muôn màu.

Thơ với tình người ơn nghĩa vạn đời sau…

KTM Hà Nội 1982

quangdung_kinhtemoilamdong_r

Vùng kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng năm 1977

Trần Ngọc Trác

 

==))((==

 

QUANG DŨNG

quangdung

Chân dung Nhà thơ Quang Dũng

          Nhà thơ Quang Dũng, tên thật là Bùi Đình Diệm. Ông sinh tại làng Phượng Trì năm 1921 tại Hà Nội, là tác giả của một số bài thơ nổi tiếng như: Tây Tiến, Mắt người Sơn Tây, Đôi bờ….Ông còn vẽ tranh và viết nhạc. Ông mất ngày 13 tháng 10 năm 1988 tại Bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội.

Trước năm 1945, ông học ban trung học trường Thăng Long (Hà Nội)..Sau khi ra trường ông về dạy học ở Sơn Tây. Ông tham gia vào quân đội và trở thành phóng viên tiền phương của báo Chiến đấu.

Năm 1947, ông được điều đi học Trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây. Sau khoá học, ông làm đại đội trưởng ở tiểu đoàn 212,Trung đoàn Tây Tiến. Ông tham gia chiến dịch Tây Tiến đợt hai, mở đường qua đất Tây Bắc. Trong thời gian này, ông còn được cử làm Phó đoàn tuyên truyền Lào – Việt.

Cuối năm 1948, sau chiến dịch Tây Tiến, ông làm Trưởng tiểu ban tuyên huấn của trung đoàn 52 Tây Tiến; rồi làm Trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu III. Ông đã viết rất nhiều truyện ngắn xuất bản và viết kịch, cũng như đã triển lãm tranh sơn dầu cùng với các hoạ sĩ nổi danh. Ông sáng tác nhạc, bài Ba Vì của ông rất nổi tiếng ở trong khu kháng chiến. Năm 1948 khi dự Đại hội toàn quân ở Liên khu III tại làng Phù Lưu Chanh, tỉnh Hà Nam, ông viết bài thơ Tây Tiến.

Tháng 8 năm 1951, ông rời quân đội. Sau 1954, ông làm biên tập viên tại báo Văn nghệ, rồi chuyển về công tác ở Nhà xuất bản Văn học.

Ông là người tài hoa, vẽ tài, hát giỏi, thơ hay. Bài thơ Tây Tiến của ông mang đậm nét hào hùng, bi tráng pha chất lãng mạn được chọn vào giảng dạy trong giáo trình trung học phổ thông. Một số bài thơ của ông đã được phổ nhạc như Tây Tiến (Phạm Duy phổ nhạc), Đôi mắt người Sơn Tây (Phạm Đình Chương phổ từ hai bài thơ Đôi bờĐôi mắt người Sơn Tây), Kẻ ở ( Cung Tiến phổ nhạc). Đặc biệt bài thơ Em mãi là 20 tuổiđược 3 nhạc sĩ phổ nhạc khác nhau (Việt Dzũng, Phạm Trọng Cầu, Khúc Dương). Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Tác phẩm riêng của nhà thơ Quang Dũng đã được xuất bản: Mùa hoa gạo (1950), Bài thơ sông Hồng (1956), Đường lên Châu Thuận (1964), Làng Đồi đánh giặc (1976), Mây đầu ô (1986), Quang Dũng- tác phẩm chọn lọc (1988).

quangdung_buttich1

 

Bút tích của nhà thơ Quang Dũng

quangdung_vovacon

 

Bà Bùi Thị Thạch – vợ nhà thơ Quang Dũng và con gái Bùi Phương Thảo

quangdung2

Chân dung nhà thơ Quang Dũng

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.