Chữ Nho(Hán) của Tàu…dễ học-Đỗ Chiêu Đức

Khảo cứu

logo văn học

 CHỮ NHO… DỄ HỌC !

Đỗ Chiêu Đức

Đỗ Chiêu Đức

              thầy đồ

           Như ta đã biết, chữ NHO tức là chữ Hán cổ được hình thành bởi Lục Thư là: Tượng Hình, Chỉ Sự, Hội Ý, Hài Thanh, Chuyển Chú và Giả Tá. Trong bài  “Liễn Dán Chuồng Heo” ta đã nói nhiều về cách tạo chữ theo kiểu Giả Tá rồi. Bây giờ thì ta bắt đầu… Vỡ Lòng lại bằng chữ Tượng Hình nhé !

1. TƯỢNG HÌNH 象形 :

           Tượng Hình tức là vẽ lại hình tượng của người, vật, sự vật một cách tiêu biểu, đơn giản để làm chữ viết. Tiếng Anh gọi là Chinese Pictographs.

           Ai cũng biết chữ NHÂN là người được viết như thế nầy 人. Đây là chữ Tượng Hình đơn giản nhất, cơ bản nhất và cũng… tượng hình nhất: Hình người đứng xoạt 2 chân hiên ngang giữa trời đất đúng như sách Tam Tự Kinh ngày xưa dạy :Tam tài giả, THIÊN ĐỊA NHÂN 三才者,天地人。(TAM TÀI là TRỜI, ĐẤT và NGƯỜI). Con Người là một thành viên của vũ trụ, hợp với Trời và Đất tạo nên cái thế giới nầy nên …

           Khi cần diễn tả sự to lớn thì chữ nhân 人 dang thêm hai tay ra theo lối CHỈ SỰ 指事  (Mượn việc dang hai ta ra để chỉ sự to lớn gọi là Chỉ Sự ) thành chữ ĐẠI 大 , theo diễn tiến của chữ viết sau đây:

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

  Nên…

          ĐẠI là To, là Lớn, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng phát sinh: là Vĩ Đại, là Trưởng thành… Nhưng …

          Con người dù cho có lớn cách mấy cũng không thể cao bằng Trời được, cho nên thêm một nét ngang tượng trưng cho bầu trời lên phía trên chữ Đại, thì ta có chữ THIÊN  là TRỜI, được hình thành theo lối HỘI Ý 會意 , theo diễn tiến của chữ viết như sau đây :

甲骨文

金文

小篆

繁体隶书

   Giáp cốt văn      Kim văn        Tiểu triện     Chữ Lệ phồn thể

          Theo như Giáp Cốt Văn và Kim Văn ở trên, ta thấy rõ ràng hình người có cái đầu to tượng trưng cho Đầu Đội Trời, Chân Đạp Đất, gọi là “Đỉnh thiên lập địa 頂天立地 ” như Từ Hải vậy! :

                       ĐỘI TRỜI đạp đất ở đời,

                 Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông.

 Nên…

          THIÊN 天 là TRỜI, nghĩa phát sinh là Ngày, là Mùa. Như Kim Thiên 今天 là Hôm nay  (giống như chữ Kim Nhật 今日) , Đông Thiên 冬天 là Mùa Đông…

          Nói đi rồi nói lại, về mặt thể chất con người không thể cao bằng Trời, lớn bằng Trời được, nhưng có những người cũng có chí muốn CHỌC TRỜI quấy nước làm nên những chuyện Kinh Thiên Động Địa. Cho nên, chữ Thiên 天 mà nhô đầu lên theo chiều dọc để chọc thủng trời thì sẽ thành chữ PHU 夫 là người đàn ông cao lớn mạnh khỏe hiên ngang đứng giữa trời đất, theo diễn tiến của chữ viết như sau:

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

         PHU 夫 : là Người đàn ông trưởng thành, mạnh mẽ, hiên ngang mà các bà các cô ai cũng ước mong trở thành người hôn phối của mình, nên…

         PHU còn có nghĩa là CHỒNG với các từ ghép nghe cho êm tai và âu yếm là : Phu Tế, Phu Lang, Phu Tướng, Trượng Phu… Như trong Truyện Kiều tả lúc Từ Hải chia tay với Kiều để  lên đường lập nghiệp…

          Nửa năm hương lửa đang nồng,

    TRƯỢNG PHU thoát đã động lòng bốn phương.

         Chữ PHU lại làm cho ta…

 Nhớ lại 2 câu thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương là :

           Duyên THIÊN chưa thấy nhô đầu dọc,

           Phận LIỄU sao đà nẩy nét ngang?

         Duyên THIÊN 天 là duyên trời run rủi, chưa thấy nhô đầu dọc, là chưa thành chữ PHU 夫, nghĩa là chưa có chồng.

         Phận LIỄU 了  (là Liễu bồ, là Phận gái) sao đà nẩy nét ngang?  Chữ LIỄU 了 mà nẩy nét ngang thì sẽ thành chữ TỬ 子 là CON nên 2 câu thơ trên có nghĩa :

           Duyên trời nào thấy đâu run ruỉ,

           Phận gái sao đà đã có con?

         Trong dân gian Nam kỳ Lục Tỉnh, lúc nhỏ tôi cũng thường nghe bà con lối xóm hát rằng:

          Không chồng có chửa mới ngoan,

          Có chồng có chửa thế gian sự thường!

         Về chữ LIỄU 了 là kết thúc, kết liễu, đồng âm với chữ LIỄU 柳 là Dương Liễu chỉ phái nữ mềm yếu dịu dàng ẻo lả như nhánh liễu. Ở đây, Hồ Xuân Hương đã chơi chữ bằng cách sử dụng từ Đồng Âm để đánh đồng 2 chữ Liễu theo âm Hán Việt.

    Những chữ Tượng Hình tiêu biểu nhất là các chữ sau đây:

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

Chữ NHẬT 日 là Mặt trời, là ngày.

          Hình mặt trời có một đường ngang ở giữa tượng trưng cho những vật thể ở bên trong mặt trời. Từ lúc mặt trời mọc cho tới lúc mặt trời lặn, là Ban ngày, là 1 Ngày. Lúc nhỏ, khi vào trường Tân Triều học làm câu đối với Bác Sáu (Thầy Hiệu Trưởng về mặt hành chánh của trường lúc bấy giờ). Bác có đọc cho một câu đối thật hay về Tết như sau :

       Nhựt nhựt nhựt nhựt bình an nhựt,

       Xuân xuân xuân xuân như ý xuân!

     Bốn chữ Nhựt đi liền nhau có nghĩa: Hết ngày này qua ngày khác, nên câu đối trên có nghĩa là :

    * Hết ngày này qua ngày khác đều là những ngày bình an.

    * Hết xuân này đến xuân kia đều là những mùa xuân như Ý!

甲骨文

金文

小篆

繁体隶书

* NGUYỆT 月 là Mặt Trăng, là Tháng :

           Hình lưỡi liềm của vầng trăng khuyết để phân biệt với hình tròn của mặt trời. Từ lúc trăng tròn cho đến lúc trăng khuyết, rồi lại tròn, chu kỳ là Một Tháng. Thường ta hay nghe nói đến từ TUẾ NGUYỆT. TUẾ là Tuổi. Mỗi tuổi là một Năm, nên Tuế cũng có nghĩa là Năm. Ta có từ Vạn Tuế là Muôn Tuổi. Và TUẾ NGUYỆT là Tháng Năm, là Năm Tháng như thơ của Bà Huyện Thanh Quan trong bài Thăng Long Thành Hoài Cổ :

        Đá vẫn trơ gan cùng TUẾ NGUYỆT,

        Nước còn cau mặt với tang thương!

          Trong văn học ta còn thấy chữ NGUYỆT 月 hiện diện trong bài hát nói CHỮ NHÀN của Cụ Nguyễn Công Trứ với 2 câu thơ chữ Hán rất nổi tiếng mà ai cũng đã từng biết qua :

        Thị tại môn tiền náo,          市在門前閙,

        NGUYỆT lai môn hạ nhàn.   月來門下閒。

Có nghĩa :

         * Chợ búa ở trước cửa nhà thì ồn ào náo nhiệt.

         * Ánh trăng chiếu chênh chếch xuống trước cửa, thì cảnh trí trông rất nhàn hạ.

            Đây là lối chơi chữ của cụ Nguyễn Công Trứ, vì chữ THỊ 市 là Chợ đặt phía trước bên dưới chữ MÔN 門 là Cửa thì thành chữ NÁO 閙 là Ồn Ào Náo Nhiệt. Còn…

            Chữ NGUYỆT 月 là Mặt Trăng đặt ở phía dưới chữ MÔN 門 là Cửa thì thành chữ NHÀN 閒 là Nhàn hạ, Rảnh rổi. Nhưng đây là cảnh trí nhàn tản của ban đêm, ta còn có một chữ NHÀN nữa chỉ sự nhàn tản của ban ngày, đó là :

           Mộc tại môn tiền dã thị nhàn.  木在門前也是閑.

Có nghĩa :

        Có một cái cây phía trước cửa để cho bóng mát và đón gió lúc trưa hè oi bức, thì cũng có vẻ Nhàn Tản lắm chứ !? Nên, chữ MỘC 木 là Cây ghép vào chữ MÔN 門 là Cửa thì cũng thành chữ NHÀN 閑 là Nhàn Hạ. Vậy nên… Ta có đến

         2 chữ NHÀN, một cho Ban Ngày 閑, và một cho Ban Đêm 閒 ! (Thật ra 2 chữ nầy là Dị Bản của nhau, đều có nghia là Nhàn Tản, Nhàn Hạ, Rảnh Rổi, Ở Không… Phân biệt ngày đêm chỉ là Phiếm của ĐCĐ mà thôi!).

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

* MỤC 目 là Con Mắt, là Mục đích, là Mục Lục, là Đầu Mục.

            Hình vẽ Con Mắt theo hai ba kiểu, khỏi phải bàn cải ta biết ngay chữ MỤC 目 có nghĩa là MẮT. Con mắt là “Cửa sổ của tâm hồn” không có mắt sẽ… không trông thấy gì cả! Nhìn vào mặt người nào đó là ta thường nhìn ngay mắt của họ. Từ đó chữ MỤC có các nghĩa phát sinh như :

      MỤC là Mục Tiêu, Mục đích.

      MỤC là Mục lục, là Danh Mục.

      MỤC là Tên đầu xỏ: Đầu Mục.

      MỤC là Con số: Số Mục.

            Những thành ngữ ta thường gặp có chữ MỤC như :

      MỤC hạ vô nhân 目下無人 là “Dưới Mắt Không Người” để chỉ những người cao ngạo phách lối, xem ai chẳng ra gì.

      MỤC tiêu phấn đấu 奋斗目标 : Nói theo cách nói của từ Hán Việt là Phấn Đấu Mục Tiêu, nghĩa cũng như nhau.

      MỤC quang vô thần 目光無神 : là Tia nhìn đã không có tinh thần, ta gọi là Ánh Mắt Thất Thần để chỉ những người bệnh nặng hoặc sắp chết.

       Sau đây là…

     Bảng chữ Tượng Hình tiêu biểu cho người, vật, sự vật :

     Bảng liệt kê ở trên gồm có 10 chữ theo thứ tự như sau :

1. NHÂN 人 : là Người. Hồi nhỏ khi mới học chữ Nho ở ấp Yên Thượng, quận Cái Răng, Tỉnh Phong Dinh, tôi thường nghe bà con lối xóm đọc câu đầu tiên của Tam Tự Kinh như thế nầy :

         NHÂN CHI SƠ tay rờ cơm nguội,

         TÁNH BỔN THIỆN cái miệng đòi ăn!

     Lớn lên đi lính, thì nghe ông Đại Úy của đơn vị nói vui là :

          NGỌC BẤT TRÁC, BẤT THÀNH KHÍ.

          NHÂN BẤT HỌC, BẤT TRI LÝ !

          Nhỏ mà không học lớn làm Đại Úy!

2. NỮ 女 : là Con Gái, là Phái yếu.

    Ngày xưa, sanh con gái thì kể như không có con, với quan niệm Trọng Nam Khinh Nữ như sau :

         Nhất Nam viết hữu,      一男曰有,

        Thập nữ viết vô.           十女曰無。

Có nghĩa :

      Có một đứa con trai thì kể là CÓ một đứa con. Còn…

      Có 10 đứa con gái thì kể như KHÔNG có đứa con nào. Vì con gái đi lấy chồng sanh con sẽ mang Họ của người khác. Bà con lối xóm hay nói là: “Con gái ăn cơm nguội, ở nhà ngoài!”

3. NHĨ 耳 : là Tai. Vẽ hình cái Tai ở một bên mặt.

        Ta thường nghe câu :

     Khẩu thuyết bất như thân phùng,  口說不如身逢, 

     NHĨ văn bất như mục kiến .          耳聞不如目見。

Có nghĩa :

       Miệng nói không bằng đích thân gặp phải,

       Tai nghe không bằng mắt thấy.

4. MÃ 馬 : là Con Ngựa. họ Mã, như Mã Giám Sinh chẳng hạn.

         Chữ Mã tượng hình của con ngựa đầy đủ đuôi và 4 chân.

         Câu nói bắt đầu bằng chữ Mã trong Tăng Quảng Hiền Văn là :

      Mã hành vô lực giai nhân xú,    馬行無力皆因廋,

      Nhân bất phong lưu chỉ vị bần. 人不風流只為貧

Có nghĩa :

      Ngựa chạy không có sức đều do qúa ốm yếu,

      Người không phong lưu cũng chỉ vì nghèo mà thôi!

5. NGƯ 魚 : là Con Cá.

        Rất rõ ràng, chữ NGƯ từ hình con cá mà ra.

        Cá trong ao tù mà gặp được nước mưa đổ xuống, gọi là: Trì Ngư Đắc Thuỷ 池魚得水. Ta cũng thường diễn tả những chuyện xứng ý hợp lòng bằng câu: Như Cá gặp Nước !

        Để chỉ sự thành công vượt bực thì có câu ví : Như Hóa Long Ngư  如化龍魚, ta nói là Tựa Cá Hóa Rồng!

6. SƠN 山 : là Núi.

        Hình vẽ tượng hình của ba ngọn núi liền thành một dãy, làm ta nhớ đến câu Ca dao của Việt Nam ta:

            Một cây làm chẳng nên non,

       Ba cây chụm lại thành hòn núi cao!

        Sơn đi liền với Thuỷ ta có từ Sơn Thủy 山水, chỉ phong cảnh có núi có nước, nhưng khi đi với từ Hà là Sông, thì ta có từ Sơn Hà 山河, chỉ Núi Sông là Đất Nước! Ta nhớ câu thơ mở đầu bài Xuân Vọng của Đỗ Phủ là :

           Quốc phá SƠN HÀ tại,    國破山河在

Có nghĩa :

        Nước mất, nhưng Nuí Sông vẫn còn đó!

7. NHỰT 日 : là Mặt Trời, là Ngày.

        Ta đọc một bài thơ Xuân mở đầu bằng 2 chữ Nhựt nhé !

                日日人空老,     Nhựt nhựt nhân không lão,

                年年春更歸。     Niên niên xuân cánh quy.

                相歡有尊酒,     Tương hoan hữu tôn tửu,

                不用惜花飛。     Bất dụng tích hoa phi!

  Có nghĩa :

                    Ngày ngày người thêm gìa nữa,

                    Năm năm xuân đến chẳng sai.

                    Cùng vui còn có chai rượu,

                    Tiếc làm gì cánh hoa bay!

        Đó là bài Tống Xuân Từ của Vương Nhai đời Đường.

8. NGUYỆT 月: là Mặt Trăng, là Tháng.

           Nhắc đến Nguyệt, đến Trăng là ta lại nhớ đến Mái Tây, đến Tây Sương Ký :

               待月西廂下,    Đãi nguyệt Tây Sương hạ,

                 迎風戶半開;    Nghinh phong hộ bán khai.

        拂牆花影動,    Phất tường hoa ảnh động,

                 疑是玉人來。    Nghi thị ngọc nhân lai !

 Có nghĩa :

                 Đợi trăng dưới mái tây,  

                 Cửa hé gió hây hây.

                 Cách tường hoa lay động,

                 Phải người ngọc tới đây!?

      Làm ta lại nhớ đến 2 câu trong Kiều :

                 Mái tây để lạnh hương nguyền,

            Cho duyên đằm thắm ra duyên bẻ bàng!

9. VŨ 雨 : là Mưa.

         Hình bầu trời nhễu những hạt mưa xuống. VŨ còn đọc là VÕ, đứng đầu trong Tứ Khoái của các cụ ngày xưa :

      Cửu hạn phùng cam vũ,     久 旱 逢 甘 雨

      Tha hương ngộ cố tri ,        他 鄉 遇 故 知

      Động phòng hoa chúc dạ,   洞 房 花 燭 夜

      Kim bảng quải danh thì .    金 板 掛 名 時.

Có nghĩa :

                  Hạn lâu, gặp được mưa rào,

                  Xa quê lại được chào người quen xưa,

                  Động phòng hoa chúc say sưa,

                  Bảng vàng bia đá cho vừa lòng em!

  Và…

          Một câu đối bất hủ của Việt Nam ta mà người Hoa không biết, đó là câu đối của thầy trò Nguyễn Giản Thanh đối đáp lúc tan trường trời mưa không về nhà được, Thầy đồ Đàm Thuận Huy đã ra vế trên như sau :

    Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách,   雨無鈐鎖能留客 –

     (Mưa không cần kềm khóa mà vẫn có thể giữ được khách).

Cậu học trò Nguyễn Giản Thanh liền đối lại là:

     Sắc bất ba đào dị nịch nhân,     色不波濤易溺人 

     (Cái sắc đẹp của phụ nữ, không có sóng gió, nhưng dễ làm chìm đắm con người).

10. VÂN 雲 : là Mây, Hình đám mây cuốn tròn trên bầu trời.

           Vân Vũ là Mây Mưa, là một hiện tượng thiên nhiên bị bàng dân thiên hạ hiểu lệch nghĩa thành… hành động làm tình của con người do thành ngữ VU SƠN VÂN VŨ 巫山雲雨 của anh chàng Tống Ngọc nước Sở đời Chiến Quốc đã viết bài “Cao Đường Phú”, trong đó nói về một thần nữ ở Vu Sơn, “sáng làm mây, chiều làm mưa” và Nữ Thần nầy thường thác mộng để ân ái với vua Sở. Theo quan niệm cổ xưa thì nữ thần và vua giao hợp có thể làm cho phong điều vũ thuận, ngũ cốc phong đăng. Có nghĩa: Mưa thuận gió hòa, lúa thóc được mùa. Nhưng dân gian lại không chịu hiểu theo nghĩa đó, hễ nhắc đến Sở Vương và Thần Nữ thì sẽ nghĩ ngay đến “Mây mưa Ân ái giữa trai gái” mà thôi!

           Để kết thúc chữ VÂN là Mây, cũng như để kết thúc bài viết nầy mời tất cả cùng đọc lại bài Ca Dao dân gian rất hay, rất gợi cảm và rất… tượng hình của ta sau đây :

                  Trên trời mây trắng như bông,

            Ở giữa cánh đồng bông trắng như mây.

                      Cô kia má đỏ hây hây,

               Đội bông như thể đội mây về làng!

        Chân thành cám ơn đã đọc bài. Xin hẹn gặp lại trong bài viết kế tiếp về CHỈ SỰ và HỘI Ý !

               CHỮ NHO… DỄ HỌC (bài 2)

         Không phải cái gì cũng có hình dáng để vẽ ra được, cho nên ngoài cách Tượng Hình để vẽ nên chữ, ta còn có cách CHỈ SỰ.

2. CHỈ SỰ 指事 :

         Chỉ Sự là dùng một ký hiệu hoặc hình tượng tiêu biểu nào đó để chỉ những sự việc không có hình tượng mà tạo nên chữ viết, hoặc dùng một chữ tượng hình có sẵn, thêm hoặc bớt nét để làm thành một chữ mới. Tiếng Anh gọi là Indicatives.

         Xem các ví dụ sau đây:

                     1.      2.      3.      4.     5.

       Phía trên, bên trái là ký hiệu chỉ các số đếm ngày xưa, diễn tiến thành các chữ NHẤT 一 , NHỊ 二 , TAM 三 …

       Bên phải có 5 chữ theo thứ tự sau đây:

1. NGUYÊN 元 :

        Hình người quỳ xuống có một vạch trên đầu để chỉ Ý, nên NGUYÊN có nghĩa là : Đầu, là bắt đầu, là Chính. Ví dụ :

        * Nguyên Thuỷ 元始 là Bắt đầu, là Mở đầu.

        * Nguyên Đán 元旦 là Ngày bắt đầu của một năm.

        * Nguyên Thủ 元首 là Người đứng đầu trong một nước.

        * Nguyên Phối 元配 là Người phối ngẫu chính thức, là Vợ lớn, khi vợ mất cưới vợ kế, thì gọi là Kế Phối 继配.

       Câu đối Tết nổi tiếng bao gồm cả trời đất là :

       Nhất nguyên phục thuỷ,     一元復始,

        Vạn tượng canh tân.          萬象更新。

Có nghĩa :

            Một dòng nguyên khí của trời đất trở lại lúc ban đầu.

            Muôn vàn hiện tượng (bao gồm người, vật, sự vật  đều đổỉ mới.

 2. ĐÁN 旦:

        Hình mặt trời mới mọc, một vạch ở phía dưới tượng trưng cho đường chân trời. Nên Đán có nghĩa là Ngày mới bắt đầu, tức là Buổi Sáng, như

         * Đán Mộ 旦暮 có nghĩa là Sớm tối, Sáng Chiều.

         * Đán là ngày Mùng một Âm Lịch, nên ngày mùng một

            Âm lịch đầu tiên của tháng đầu tiên gọi là Nguyên Đán.

         * Đán là Ban ngày đối với DẠ 夜 là Ban đêm.

         * Nhất Đán 一旦 là Một ngày nào đó, mà cũng có nghĩa là

            Trong Một Ngày nữa. Tăng Quảng Hiền Văn có câu :

          Bách niên thành chi bất túc,    百年成之不足,

          Nhất đán hoại chi hữu dư.       一旦壞之有餘。

Có nghĩa :

           –  Cái mà ta gầy dựng cho thành đạt thì một trăm năm vẫn còn chưa đủ. Nhưng…

           –  Cái mà ta muốn phá tán hủy hoại thì trong một ngày cũng có thừa (thời gian để làm việc đó rồi). Ví dụ :

       Sự nghiệp gầy dựng cả trăm năm của ông cha để lại, con cháu chỉ cần cờ bạc phá tán trong một buổi là tiêu tan hết rồi! (không cần phải tới một ngày!)

3. THIÊN 天:

          Như ta đã biết trong phần Tượng Hình, người đứng dang hai tay ra là chữ Đại là Lớn, nhưng đầu vẫn phải đội trời, nên vạch ngang trên đầu người chỉ Trời, nên Thiên là Trời. Ta chỉ thấy được bầu trời xanh lúc ban ngày, nên Thiên cũng có nghĩa là Ngày. Nhưng Trời như thế nào? Trời lạnh lẽo của mùa Đông, Ấm áp của mùa Xuân, Nóng bức của mùa Hè, và Mát mẻ của mùa Thu, nên Trời còn có nghĩa là MÙA, ví dụ:

          * Xuân Thiên 春天 là Mùa Xuân, Hạ Thiên là Mùa Hè, Thu Thiên là Mùa Thu, và Đông Thiên là Mùa Đông.

          * Nhất Thiên 一天  là Một Ngày, Lưỡng Thiên là 2 ngày…

          * Thiên Không 天空 là Bầu trời, Thiên Nhỡn 天眼 là Con mắt của trời, là Con Mắt của Cao Đài Giáo toả sáng khắp nơi, còn gọi là Tuệ Nhỡn: Con nắt của Trí Tuệ!

           Trong Tăng Quảng Hiền Văn có câu :

         Thiên nhỡn khôi khôi,      天眼恢恢,

         Báo ứng thậm tốc!           報應甚速。

Có nghĩa :

             Mắt trời lồng lộng, nhìn khắp cả, nên…

             Sự báo ứng sẽ diễn ra rất nhanh!

4. LẬP 立:

          Lập là Đứng, ta thấy hình người dang tay đứng hiên ngang trên mặt đất, vạch ngang phía dưới chân người chỉ mặt đất nên Lập là Đứng, như :

         * Độc Lập 獨立: là Đứng riêng một mình, không dựa dẵm vào người khác. Nước Độc lập là Nước tự chủ, có chủ quyền riêng, không bị thao túng bởi ngoại bang. Trong nghề võ có thế ” Kim Kê Độc Lập ” là Thế đứng vững dàng như con gà trống vàng đứng một cách hiên ngang vậy!

         * LẬP là Đứng một cách vững chắc, là Gầy dựng nên. Ta có các từ sau:

         * Lập Thân 立身: là Làm cho bản thân mình đứng vững chắc trong cuộc sống.

         * Lập Gia 立家: Gầy dựng nên gia đình, tương tự ta có từ Lập Nghiệp, Lập Chí, Lập Pháp, Kiến Lập….

5. DIỆC 亦:

       Hình người đứng dang 2 tay có 2 chấm 2 bên nách, nên DIỆC có nghĩa gốc là Cái Nách, nhưng được sử dụng làm Phó Từ có nghĩa là CŨNG, là CHẲNG QUA, CHỈ LÀ… tuỳ theo nghĩa trong câu. Ví dụ :

      Trong bài hát nói “NGHĨ TIẾC CHO AI” của Cao Bá Quát có 2 câu thơ chữ Hán như sau :

     Ngã DIỆC tri phi ninh tác ngã,     我亦知非寧作我,

     Nhân vô bất thị thả khan nhân.  人無不是且看人

Có nghĩa :

      – Ta CŨNG biết là mình sai đó, nhưng ta thà giữ lấy cái sai của mình, Còn …

      – Người không có gì không phải hả, thì hãy chờ xem người (đúng như thế nào đây?!).

         Hai câu thơ chứng tỏ được sự lẫy đời và cao ngạo của Chu Thần Cao Bá Quát!

       Chữ Chỉ Sự đơn giản nhất là chữ THƯỢNG 上 và chữ HẠ 下. Nét ngang là mặt đất, một nét bên trên như cây nọc cắm trên mặt  đất là chữ THƯỢNG, nét dưới hoặc cây nọc trở đầu xuống dưới là chữ HẠ.

        Chữ TRUNG 中 là một vòng tròn có một vạch sổ ngay chính giữa, nên Trung có nghĩa là GIỮA, là bên TRONG, ta có các từ như :

     – Trung Tâm 中心 là Ngay chính Giữa.

     – Tâm Trung 心中 là Ở Trong lòng.

       Tâm Điểm là Điểm ở Giữa. Điểm Tâm là Ăn Sáng.

       Thượng Trung Hạ luôn luôn đi kèm theo cuộc sống của con người từ ngàn xưa tới nay. Từ thời Chiến Quốc đã có các chức quan Thượng Đại Phu 上大夫, Trung Đại Phu 中大夫, Hạ Đại Phu 下大夫. Vật dụng, quần áo, trang sức, mũ mão… đều phân chia Thượng Trung Hạ, Tốt Xấu Vừa, ngay cả con người trong xã hội cũng phân chia Thượng tầng, Trung tầng và Hạ tầng Giai cấp, nên mới có câu nói :

      Thượng bất chính, Hạ tắc loạn.  上不正,下則亂。

Có nghĩa :

          Trên không ngay, Dưới lộn xộn! Người trên trước mà không đàng hoàng, thì kẻ phía dưới thế nào cũng “dữ ngươi”!

         Xã hội ngày xưa thiếu Thầy Thuốc để cứu nhân độ thế, nên người Thầy Thuốc được tôn xưng là Đại Phu, cũng như ta tôn xưng Thầy Thuốc ngày nay là Bác Sĩ vậy! (Bác Sĩ trong tiếng Hán là học vị Tiến Sĩ. Người học ngành Y luôn luôn phải học đến nơi đến chốn để cứu người, nên thời gian học tập rất lâu rất dài, gọi là Bác Sĩ thì cũng xứng đáng thôi!)

          Trở lại với một chữ chỉ Sự rất… đa sự, đó là chữ Mộc 木. MỘC là chữ Tượng Hình, theo hình vẽ cái Cây có cả phần cành lá phía trên và cả phần rể cây phía dưới như sau :

目前所在的位置:木的甲骨文、金文、小篆在线转换

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

          Từ chữ Mộc 木 nầy, ta thêm phần trên một Gạch Ngang Ngắn chỉ phần Chưa phát triển của cây, thì ta có chữ VỊ 未, có nghịa là CHƯA. Quá khứ Vị lai là chữ VỊ nầy. Còn…

           Nếu ta thêm một Gạch Ngang Ngắn ở trên phần rể cây  để chỉ phần cuối của thân cây thì ta có chữ MẠC 末, có nghĩa là CUỐI, HẾT. Như ta thường  nói “Thời Lê Mạt” tức là thời gian Cuối nhà Lê, còn “Mạt vận” có nghĩa là “Hết thời rồi!”

           Còn nếu ta thêm cái Ngang Ngắn đó ở dưới phần rể của chữ Mộc, thì ta có chữ BỔN 本 là GỐC, là RỂ, là VỐN. Thành ngữ mà ai cũng biết là :

             Mộc BỔN thuỷ nguyên.     木本水源.

Ta nói là :

                Cây có cội, nước có nguồn!

           Ngày Tết, giới thương buôn hay chúc nhau:

                     Nhất BỔN vạn lợi.    一本萬利.

Có nghĩa :

                 Một đồng vốn, mười ngàn đồng lời!

Ta hãy xem các hình minh họa sau :

        Chữ MỘC 木    VỊ  未   MẠC 末   BỔN 本

Ngoài ra,

         Chữ MỘC 木 còn cho các chữ vừa CHỈ SỰ, vừa HỘI Ý như chữ LÂM 林 là Rừng, gồm 2 chữ Mộc ghép lại, và… chữ THÂM 森 là Rừng Sâu, Rừng Rậm, gồm 3 chữ Mộc ghép lại.

Ở đây ta thấy… Ba cây chụm lại… không có thành hòn núi cao, mà thành Rừng Sâu nước độc với từ Thâm Lâm 森林 (2 chữ nầy được ghép bởi 5 chữ MỘC mà thành).

          Tương tự như chữ Mộc, ta có chữ NỮ 女 là chữ Tượng hình như sau :

骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

Ta thấy…

           Hình của một cô gái ẻo lả, hai tay đưa ra trước với dáng điệu quỳ xuống như để hầu hạ ai. Nên NỮ 女 là Con Gái, là Phái Nữ, giới tính bị ngược đãi kỳ thị trong xã hội phong kiến xưa. Về mặt diễn tiến của chữ viết, thì NỮ là con Gái chưa có chồng, đến khi có chồng rồi thì phải có con. Bấy giờ, phần trên của chữ NỮ được chấm thêm 2 chấm nữa, tượng trưng cho 2 cái vú để cho con bú, và đó chính là chữ MẪU 母 là MẸ, theo diễn tiến của chữ viết như sau :

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

Vậy nên…

        MẪU 母 là chữ được hình thành theo CHỈ SỰ, do chữ Tượng Hình NỮ thêm vào 2 chấm mà thành. MẪU là mẹ, ta có các từ chỉ mẹ như sau :

       – Từ Mẫu, Hiền Mẫu, Huyên Đường.

       – Gia Từ, Gia Mẫu: là từ tự xưng mẹ của mình với người khác một cách khiêm tốn lịch sự.

       – Lệnh Từ, Lệnh Mẫu, Lệnh Đường, Lệnh Huyên Đường  là từ tôn xưng dùng để gọi hoặc để chỉ mẹ của người khác cho lịch sự, khách sáo.

         Huyên Đường là từ chỉ chung về người mẹ mà Cụ Nguyễn Du đã dịch rất hay là NHÀ HUYÊN trong câu :

            Giọng Kiều rền rĩ trướng loan,

       NHÀ HUYÊN chợt tỉnh hỏi cơn cớ gì?!

và khi đưa Kiều theo Mã Giám Sinh, Cụ cũng viết:

            Bên ngoài chủ khách dập dìu,

      Một NHÀ HUYÊN với một Kiều ở trong.

Sau Mẹ là Cha, ta có chữ…

         PHỤ 父 là CHA, cũng là chữ Chỉ Sự theo diễn tiến chữ viết như sau:

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

Quan sát các hình trên, ta thấy…

         Hình của một người đàn ông đứng cong lưng về phía trước, hai tay dang ra một trên một dưới, phía trước đầu là một cây nọc dùng xăm lổ, bỏ hột giống để trồng trọt. Hình tượng của một người đàn ông đang lao động canh tác để nuôi sống gia đình, đó chính là Người Cha: Người lao động chính của gia đình. Các từ dùng để chỉ Cha có:

      – Từ Phụ, Nghiêm Phụ, Xuân Đường, (Thung Đường).

      – Gia Phụ, Gia Nghiêm là từ dùng để tự xưng cha của mình với người khác một cách khiêm tốn và lịch sự.

      – Lệnh Phụ, Lệnh Nghiêm, Lệnh Tôn, Lệnh Xuân (Thung) Đường là từ dùng để tôn xưng cha của người khác một cách khách sáo và lịch sự.

       Trong đêm khi đầu ấp tay gối, Kiều khuyên Thúc Sinh về thăm Hoạn Thư, thì chàng mới …

           Rạng ra trình lại THUNG ĐƯỜNG,

        Thúc Ông cũng vội khuyên chàng quy gia.

       Khi trở lại tìm Kiều không gặp, Kim Trọng đã đau xót đến nỗi “Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao”, khiến cho …

            XUÂN HUYÊN lo sợ xiết bao,

         Hóa ra khi đến thế nào mà hay?!

       Lại một chữ Tượng Hình mà lại là Chỉ Sự nữa, đó chính là chữ CHÚC 祝, ta hãy xem các diễn tiến của chữ viết sau đây :

甲骨文

金文

金文大篆

小篆

繁体隶书

Ta thấy …

         Bên trái có một gạch ngang ba gạch xuôi như cái Bàn Thờ ông Thiên, phía trên có một gạch ngắn như cái dĩa đựng đồ cúng. Bên phải là hình tượng của một người quỳ trước bàn thờ  để van vái. Nên CHÚC 祝 là Những lời Van Vái khi cúng tế, thường thì đều là những lời tốt đẹp, đâu có ai vái những điều xấu bao giờ, nên sau nầy hễ “Nói Những lời Tốt Đẹp Cho Người Khác” thì gọi là CHÚC.

         CHÚC còn có nghĩa là Phù Thủy Nam, ta gọi là Thầy Pháp Thầy Cúng, người chuyên cúng tế ở các đình chùa miếu mạo, bây giờ là Ông Từ, nói theo chữ là Miếu Chúc 廟祝. và Ông Từ ngày nay chỉ ở để giữ chùa và ăn ké cơm chùa mà thôi! Trong Tăng Quảng Hiền Văn có câu :

                Quan thanh thơ lại xú,       官清書吏廋,

                Thần linh miếu chúc phì.    神靈廟祝肥。

Có nghĩa :

        – Ông quan thanh liêm thì người thư ký ốm (vì phải làm việc nhiều và không có tiền… hối lộ!)

Còn…

        – Ông thần mà linh thiêng thì ÔNG TỪ (người giữ chùa) sẽ mập ra (Vì có nhiều người đến cúng tế cho mà ăn!).

         Những từ được thành lập bởi chữ CHÚC rất nhiểu, nhất là vào dịp Tết Âm Lịch như hiện nay, Ta thường gặp các từ:

        – Chúc Xuân, Chúc Tết,

        – Chúc Phúc, Chúc Thọ.

        – Chúc may mắn, Chúc làm giàu, Chúc mua may bán đắc, Chúc An Khang Thịnh Vượng… Chữ CHÚC đã được Việt hóa thành chữ NÔM và mất đi Ý nghĩa ban đầu là Lời VAN VÁI.

         Chữ được thành lập theo lối Chỉ Sự còn rất nhiều, trên đây chỉ là những chữ tiêu biểu, và… không riêng gì chữ Hán cổ, trong dân gian ta cũng có những câu chuyện Chỉ Sự về  ngôn ngữ vô cùng lý thú …

        Xin mời cùng đọc một Bức Thư Chỉ Sự độc đáo sau đây…

   …Ngày xưa, có một anh lính thú ở xa, nhân có bạn được phép về thăm nhà, mới nhờ bạn đem về cho vợ ở nhà trăm quan tiền và một bức thư.

        Giữa đường, anh bạn tò mò giở thư ra xem, không thấy ghi số tiền gửi là bao nhiêu cả, chỉ thấy vẽ bốn con chó, một hình bát quái, hai con dê và một cái chũm chọe, nên nảy ra cái ý ăn bớt. Về đến nơi, anh ta chỉ giao cho vợ bạn bức thư và bốn chục quan thôi.

        Người vợ xem thư biết thiếu tiền, lên quan nhờ phân xử.  Quan hỏi:

– Chồng chị gửi người ta bốn mươi quan tiền, người ta mang về đưa tận tay cho, còn kiện cáo nỗi gì?

 Người vợ đáp :

– Bẩm quan lớn, anh ta ăn bớt ạ! Chồng con gửi cho con tới một trăm quan kia ạ!

– Sao chị biết?

– Bẩm quan lớn, thư chồng con viết rành rành ra đấy xin quan xem thư, sẽ rõ!

      Quan giở bức thư quái gở kia ra xem, không hiểu gì cả liền hỏi:

– Thế là thế nào? Bức thư không có chữ nghĩa gì cả, sao chị lại biết chồng chị gửi một trăm quan?

– Bẩm quan lớn, chồng con vẽ rõ ràng ra đấy. Bốn con chó là tứ cẩu, cẩu là cửu, tứ cửu là tam thập lục, là ba mươi sáu (36). Bát quái có tám cạnh, bát bát vị chi là lục thập tứ, là sáu mươi tư (64). Sáu mươi tư với ba mươi sáu chả là một trăm quan đó sao?

       Quan cho là phải, bắt anh kia phải trả đủ số tiền. Nhưng ngài còn thắc mắc hỏi chị kia:

– Thế còn hai con dê và cái chũm choẹ là ý thế nào?

      Chị ta sượng sùng không nói. Quan hỏi mãi mới thưa:

– Ðấy là nhà con vẽ đùa thôi ạ!

– Ðùa thế là có ý gì, phải nói ra cho rõ ràng.

– Bẩm quan lớn, hai con dê và cái chũm chọe là nhà con muốn hẹn con rằng, đến Tết Trùng Dương (ngày 9 tháng 9, còn gọi là Trùng Cửu) thì nhà con sẽ về thăm cái chũm chọe, ơ… không, thăm con… đấy ạ!

         Đó, ta thấy CHỈ SỰ hay là thế, thú vị là thế, ngày xưa nước ta cũng đã có vô vàn cách Chỉ Sự để truyền đạt ý nghĩa và sự việc một cách độc đáo của riêng mình rồi !

          Xin hẹn bài viết tới!

                Đỗ Chiêu Đức  

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.