MÙA HÁI QUẢ-Thơ RABINDRANATH TAGORE (Nobel Văn Chương 1916)

poesie en prose1

poesie en prose

Tagore

Rabindranath TAGORE

Rabindranath Tagore (1861-1941) là nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhạc sĩ và hoạ sĩ Ấn Độ, giải Nobel Văn học năm 1913. Là con thứ mười bốn của một điền chủ – nhà cải cách tôn giáo giàu có. Ông đi học ở trường một thời gian ngắn; về sau học ở nhà với cha. 8 tuổi, R. Tagore nổi tiếng giỏi văn nhất vùng Bengal; 13 tuổi có thể sáng tác nhạc, hoạ, đọc sách cổ bằng tiếng Phạn và dịch kịch Shakespeare; 17 tuổi sang Anh du học; năm 1880, trở về ấn Độ, viết vở nhạc kịch đầu tiên. Năm 1910 ra đời tiểu thuyết sáng giá nhất của R. Tagore – Gora – ủng hộ tính nhẫn nại tôn giáo và chính trị. Năm 49 tuổi R. Tagore xuất bản Gitanjali (theo tiếng Bengal có nghĩa là Lời dâng). Thi phẩm này là lí do cho việc đề cử trao giải Nobel Văn học năm 1913, được cả thế giới công nhận là kì công thứ hai của văn học ấn Độ (sau Sakuntala của Kalidasa, nhà thơ lớn ấn Độ thế kỉ thứ V). R. Tagore được trao giải vì những vần thơ tuyệt diệu, mang những cảm nhận sâu sắc, độc đáo, thể hiện một tài năng thơ ca đặc biệt khác thường. Thơ của Tagore giàu tinh thần nhân loại, là chiếc gạch nối giữa những truyền thống văn hoá ấn Độ và văn hoá hiện đại Phương Tây. Thời kì sau Lời dâng R. Tagore bắt đầu được tôn vinh ở Tổ quốc của mình như một vị thánh. Năm 68 tuổi R. Tagore bắt đầu vẽ tranh và triển lãm ở Munich, New York, Paris, Moxcva và nhiều nơi khác. 80 tuổi R. Tagore qua đời sau hai năm bị mù, để lại 52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 cuốn tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn, bút ký, tiểu luận, diễn văn, hồi ức, thư tín cùng hàng ngàn ca khúc và tranh vẽ vô giá.

BÀI THƠ SỐ 43 – MÙA GẶT

Hình ảnh thơ Tagore

Over the relic of Lord Buddha King Bimbisar built a shrine, a salutation in white marble.
There in the evening would come all the brides and daughters of the King’s house to offer flowers and light lamps.
When the son became king in his time he washed his father’s creed away with blood, and lit sacrificial fires with its sacred books.
The autumn day was dying.
The evening hour of worship was near.
Shrimati, the queen’s maid, devoted to Lord Buddha, having bathed in holy water, and decked the golden tray with lamps and fresh white blossoms, silently raised her dark eyes to the queen’s face.
The queen shuddered in fear and said, ‘Do you not know, foolish girl, that death is the penalty for whoever brings worship to Buddha’s shrine?
‘Such is the king’s will.’
Shrimati bowed to the queen, and turning away from her door came and stood before Amita, the newly wed bride of the king’s son.
A mirror of burnished gold on her lap, the newly wed bride was braiding her dark long tresses and painting the red spot of good luck at the parting of her hair.
Her hands trembled when she saw the young maid, and she cried, ‘What fearful peril would you bring me! Leave me this instant.’
Princess Shukla sat at the window reading her book of romance by the light of the setting sun.
She started when she saw at her door the maid with the sacred offerings.
Her book fell down from her lap, and she whispered in Shrimati’s ears, ‘Rush not to death, daring woman!’
Shrimati walked from door to door.
She raised her head and cried, ‘0 women of the king’s house, hasten!
‘The time for our Lord’s worship is come!’
Some shut their doors in her face and some reviled her.
The last gleam of daylight faded from the bronze dome of the palace tower.
Deep shadows settled in street corners: the bustle of the city was hushed: the gong at the temple of Shiva announced the time of the evening prayer.
In the dark of the autumn evening, deep as a limpid lake, stars throbbed with light, when the guards of the palace garden were startled to see through the trees a row of lamps burning at the shrine of Buddha.
They ran with their swords unsheathed, crying, ‘Who are you, foolish one, reckless of death?’
I am Shrimati,’ replied a sweet voice, ‘the servant of Lord Buddha.’
The next moment her heart’s blood coloured the cold marble with its red.
And in the still hour of stars died the light of the last lamp of worship at the foot of the shrine.

lumiere-tagore

Chuyển ngữ của Bùi Xuân

Trong thánh tích của Đức Phật, Hoàng đế Bimbixa xây dựng một ngôi đền, một lời chào mời bằng đá cẩm thạch trắng
Vào những buổi tối, tất cả các nàng dâu và con gái trong cung Vua đến để dâng hoa và thắp sáng những ngọn đèn
Khi người con trai lên làm vua, trong thời gian trị vì của mình, ông ta đã tắm tín ngưỡng của cha mình trong biển máu, và thắp sáng ngọn lửa cúng thần linh cùng với các kinh thư sùng tín của ông ta
Một ngày tàn thu. Giờ khắc dâng lễ Đức Phật đến gần
Xơrimati, người hầu gái của hoàng hậu, tâm thành với Đức Phật, tắm trong nước thánh, sắp xếp trên khay vàng những ngọn đèn và những bông hoa trắng tươi nguyên, im lặng trước đôi mắt đen huyền trên gương mặt của hoàng hậu
Hoàng hậu rùng mình sợ hãi và nói, “Cô bé dại dột kia ơi, ngươi không biết đấy ư, rằng cái chết là hình phạt cho bất cứ ai mang lễ vật đến dâng cúng ở đền thờ Đức Phật?”
“Đó là mệnh lệnh của đức vua”
Xơrimati cúi chào hoàng hậu, rồi đi từ cửa nhà người đến đứng trước Amita, cô dâu mới, vợ của con trai nhà vua
Một chiếc gương vàng sáng loáng bên vạt áo, cô dâu mới đang bện mớ tóc đen dài và điểm dấu son may mắn giữa đường rẽ ngôi của mái tóc
Hai tay nàng run lên khi nhìn thấy người hầu gái trẻ, và nàng đã khóc, “Ngươi mang điều nguy hiểm đến cho ta! Xéo khỏi đây tức khắc”
Công chúa Xukala đang ngồi bên ô cửa sổ đọc cuốn sách lãng mạn dưới ánh sáng của mặt trời sắp lặn
Nàng giật mình khi nhìn thấy ở trước cửa nhà mình người hầu gái với các nghi lễ thiêng liêng
Cuốn sách rơi xuống vạt áo của nàng, và nàng thif thầm vào tai Xơrimati, “Trốn đi không thì chết mất, cô gái táo tợn ơi!”
Xơrimati đi từ cửa nhà này đến cửa nhà khác. Cô ngẩng đầu lên và khóc, “Ôi những phụ nữ trong cung cấm, hãy nhanh lên!
“Thời khắc dâng lễ Đức Phật đã đến!”
Một số người sập cửa trước mặt của cô và một số thì chửi rủa
Tia sáng cuối cùng của ngày mờ dần trên mái vòm bằng đồng của toà tháp tráng lệ
Bóng tối dày đặc bao trùm góc phố; sự nhộn nhịp của kinh thành mất hẳn; chiêng trống nơi đền thờ thần Siva báo hiệu thời gian cầu kinh buổi tối
Trong cái u ám của buổi tối mùa thu, những hồ nước trong trẻo chìm khuất, những vì sao lấp lánh ánh sáng, các vệ sĩ canh gác vườn thượng uyển giật mình nhìn qua lùm cây thấy rõ hàng đèn thắp sáng tại ngôi đền thờ Đức Phật
Họ lao tới với kiếm sắc tuốt trần, khóc, “Nàng là ai, sao mà ngốc nghếch, liều lĩnh chết người?”
Một giọng nói ngọt ngào trả lời, “Tôi là Xơrimati, đệ tử của Đức Phật”
Liền đó, máu từ trái tim cô nhuộm đỏ đá cẩm thạch lạnh lẽo
Và trong giờ phút lặng thinh, các vì sao đã tắt cùng ánh đèn thờ phụng cuối cùng ở dưới chân đền

Tagore_poesie-1c251

Khi bạn so găng với cuộc đời, cuộc đời luôn luôn thắng (Andrew Matthews)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.