Những truyện ngắn của nhà văn Bulgaria(Bảo Gia Lợi)DEJAN ENEV

ĐỌC

truyện ngắn

Của nhà văn DEJAN ENEV

Dẹjan Enev

        DEJAN ENEV

tiệm cầm đồ


♦ Chuyển ngữ:
tạp chí Damau.org
tiệm cầm đồ

image

Dịch từ bản Anh ngữ “The Pawn Shop” của Kafka Kassabova, là một trong 50 truyện ngắn trong tập “Circus Bulgaria” của Deyan Enev do Portobello Books Ltd. xuất bản tại Anh Quốc 2010.

Deyan Enev sinh tại Bulgaria năm 1960, là nhà báo và tác giả viết truyện ngắn. Tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Anh, Đức, Na Uy và Hòa Lan.

 

Chiếc chuông cửa bé tí rung lên và Kalin Banderov ngước lên từ vuông ô chữ mà anh đã vật lộn suốt buổi sáng – cái ô chữ khổng lồ, giống như tấm bản đồ Liên Bang Sô Viết dạo trước. Khách là một bà cụ, mỏng manh như tơ nhện và gầy đến nỗi thân thể bà gẫy gập dưới sức nặng của những cúc áo bằng gỗ to lớn. Chỉ cần nhìn thoáng qua, Kalin Banderov đánh giá được người khách và không giấu nổi nỗi bực bội. Dạo này, loại người như bà cụ hắn gặp nhiều không kể siết. Với sự cương quyết đầy tuyệt vọng, từ những nếp gấp không đáy của thời gian, đám người nghèo khó này cố gắng đem những món đồ không có chút giá trị nào đối với ai khác ngoài họ, vì những lý do tình cảm – đồ kẹp tóc, những cái đê, ví tiền, những miếng lót ly tách có hình cặp chim bồ câu hôn nhau, những lọ mực, đồ gài điếu thuốc, lông vịt, vòng cổ tay bằng thiếc, vàng giả – đến cầm và đôi khi còn gạ bán lại. Kalin Banderov nổi nóng chỉ muốn hét vào mặt họ. Đám bần cùng không hiểu rằng mấy thập niên tình cảm họ gắn bó với những món đồ ấy không đáng giá một xu.

Bà cụ lê bước một cách ngại ngùng về phía chiếc bàn gỗ hồ đào cũ kỹ nơi Kalin Banderov ngồi. Trong lúc lê từng bước như thế bà cụ lẩm bẩm xin lỗi vì nỗi phiền toái bà gây ra.

Đứng ở tận đầu phía xa của cái bàn rộng thênh thang, bà hỏi, “Đây là tiệm cầm đồ phải không ạ?” Bà cụ nhỏ bé đến mức trông bà như bức tượng tí hon bằng sứ đặt trên mặt bàn, u ám và nứt nẻ vì tuổi tác.

“Đúng vậy, thưa bà.”

“Xin lỗi ông nói gì ạ?”

“Tôi nói, đúng vậy, đây là tiệm cầm đồ!”

“Ở đây ông cầm những đồ gì ạ?”

“Đủ loại, thưa bà.”

“Không biết ông có cầm đồ cũ không ạ?”

“Còn tùy, thưa bà. Tốt nhất là bà cho tôi xem món đồ trước.”

“Tôi muốn hỏi ông trả có khá không ạ?”

Kalin Banderov muốn tống cổ bà cụ ra ngay khỏi cửa, nhưng lại quyết định tử tế thêm ít lâu nữa.

“Nếu món đồ của bà còn mới và không hư hại gì, chúng tôi sẽ cầm cho bà đúng với giá của nó, và tôi sẽ cho – nhưng nhắc cho bà nhớ là tùy vào điều kiện của món đồ – tôi sẽ cho bà khoảng từ mười đến năm mươi phần trăm của giá đó. Bà có ba mươi ngày để chuộc lại món đồ. Bà được thêm ba ngày miễn phí. Nếu bà trở lại trong khoảng thời gian ấy, mà không có khả năng chuộc món đồ, bà sẽ có cơ hội gia hạn món đồ của bà thêm một tháng nữa, và dĩ nhiên bà phải trả một số tiền nhỏ. Sau đó nếu bà vẫn không chuộc lại được, nó sẽ trở thành tài sản của tiệm chúng tôi. Chúng tôi có mẫu hợp đồng với những điều kiện liệt kê trong đó. Hai bên sẽ cùng ký vào hợp đồng.”

cụ già1

Bà cụ chăm chú lắng nghe, trong hai cái hốc đen thẫm, mắt bà nhấp nháy và dường như loang nước, như hai mảnh gương nhỏ.

“Tôi có món đồ này,” bà nói.

Kalin Banderov cảm thấy những bắp thịt chân mình gồng cứng, như thể anh sắp sửa nhảy chồm tới. Sợi dây chuyền vàng nặng nề trên cổ tay phải của anh nằm bẹp trên mặt bàn như một con rắn không lồ. Cái triển vọng rằng bà già này có món đồ thực sự có giá trị chỉ là một phần ngàn, nhưng bản năng thợ săn vẫn làm cho hai lỗ mũi anh phập phồng.

Bà cụ vùi tay vào chiếc túi áo sờn rách và lôi ra thứ gì đó gói trong nhiều lớp giấy báo. Với hai bàn tay run rẩy, bà từ từ mở gói giấy. Bà hít vội một làn hơi thở gấp, và đặt lên mặt bàn một chiếc đồng hồ Omega bằng vàng đẹp ngoài sức tưởng tượng.

Kalin Banderov cũng biết ít nhiều về những đồ vật quý giá. Anh thường mua ngay lập tức, ngay cả khi những người chủ không nghi ngờ gì về giá trị thực của món đồ, và qua những đường dây phức tạp anh đem bán chợ đen những món đồ ấy ở Phương Tây, nơi giá trị của chúng tăng gấp chục lần.

“Cái đồng hồ này là của chồng tôi,” bà cụ nói bằng giọng êm ả, như thể bà đã kể câu chuyện này hàng chục lần, và câu chuyện đã biến thành bài ca. “Ông nhà tôi thừa hưởng từ bố của ông ấy. Bên trong cái nắp có khắc chữ, ông có thể trông thấy. Ông nhà tôi, cầu cho linh hồn ông ấy nghỉ yên, trước đây là bác sĩ. Ông ấy có thú sưu tầm những đồ vật đẹp. Phải chi ông thấy ông nhà tôi khi ông ấy mang cái đồng hồ này trong túi, trông ông ấy vô cùng sang cả. Khi muốn xem giờ, ông ấy đứng dậy – ông không bao giờ ngồi mà xem giờ – rồi ông ấy bật cái nắp ra và xem giờ một cách thú vị, ít nhất là một phút đồng hồ. Tôi luôn luôn cảm thấy khi ông ấy ngắm chiếc đồng hồ này một cách ngưỡng mộ, thì cả thế giới cũng nhìn ngắm, ngưỡng mộ ông.”

Trong khi lơ đãng nghe bà cụ nói, Kalin Banderov vuốt ve cái đồng hồ quý giá trong tay và nhẩm tính giá trị bằng đô la của nó. Anh bấm cái nắp và nó bật ra một cách thanh lịch. Ở mặt trong, có một hàng chữ khắc vắn tắt. Kalin Banderov đọc hàng chữ một lần, rồi một lần nữa và thêm một lần nữa.

“Cho con trai của bố: Kalin Banderov – với niềm tin và hy vọng.”

Anh hoàn toàn không hiểu.

Khi anh ngước lên nhìn, bà cụ không còn ở đó. Điều lạ là cái chuông cửa cũng không hề rung một tiếng nào.

NGƯỜI MẸ

Cứ mỗi lần hai thằng bé sinh đôi ấy nhập trại của chúng tôi là lại một lần vui nhộn. Và hai đứa nó là khách hàng thường xuyên. Chúng tôi cho chúng nó xuất viện, và hai ngày sau – bang, hai đứa lại đứng lù lù trong hành lang, hai cái đầu to xù tóc tai rối bời cúi xuống đầy vẻ ăn năn như thể muốn nói, Tụi cháu biết làm sao đây, tụi cháu khùng mà. Chúng tôi chào chúng nó như chào những người quen cũ – Tôi cho chúng nó bộ quần áo ngủ tốt và cố gắng tìm cho chúng những chiếc giường gần cửa sổ. Ở đây, trong bệnh viện tâm thần này, chúng tôi gọi hai đứa nó là Barney và Fred. Cả hai đều là những con quái vật, nhưng Barney thì tương đối ổn định, và mềm mỏng hơn một chút. Còn em của nó thì đúng là thiên tai. Mỗi khi thằng nhỏ lên cơn thì chỉ có anh nó là người kiềm chế được nó. Barney sẽ giúp chúng tôi buộc nó vào khung giường, rồi ngồi thật lâu bên giường, xoa nhẹ những ngón tay lên cái đầu đang rên rỉ của em nó. Dần dần Fred trầm tĩnh lại và ngủ thiếp đi. Đúng vậy, cả một lô thuốc mà các y tá giộng vào người nó trong những lần như thế – Chlorazine, Tizersin, Haloperidol – cũng đóng một vai trò quan trọng. Nếu bạn cho từng đó thuốc vào một con bò đực, con bò sẽ chết ngay tại chỗ – nhưng Fred, con thú ấy, lại tỉnh queo. Sáng hôm sau, nó vùi đầu vào chậu rửa mặt nhà tắm và thực hành một chuỗi tẩy rửa đầy man dại. Và đúng sáu giờ ba mươi, nó và Barney sẽ là những bệnh nhân đầu tiên chường mặt ở căng tin để ăn điểm tâm – chải chuốt, gọn gàng và thông minh như hai gã samurai.

Khoảng mười một giờ sáng, sau khi bác sĩ đã thăm bệnh, cặp sinh đôi ấy trầm lắng xuống. Như thể đã có lệnh trước, hai anh em nhảy lên giường, nằm im lặng như những chiếc thuyền giong buồm trong vùng thần chú biển lặng sóng êm.

“Hai đứa nó lại đang thủ dâm nữa rồi,” những bệnh nhân chung phòng báo cáo. Tôi chỉ nhún vai. Chúng tôi không phản đối loại công việc ấy.

cap-song-sinh-dien-trai-lam-chao-dao-cong-dong-mang-sau-khi-giam-can

Trong trại bệnh chúng tôi có một cô y tá tên là Julia, được gọi một cách trìu mến là Juleto, Julia bé bỏng. Cô ta mới đi nghỉ hè ở biển về và bộ đồng phục trắng cô mặc bên ngoài thân thể trần truồng không che được cặp chân màu sô cô la đầy mê hoặc của cô. Mỗi lần Juleto đi qua chỗ hai anh em sinh đôi, hai đứa nó như bị ma ám, và những con mắt bò đực nóng bỏng của chúng nó bỗng dưng lạc thần. Tôi thường chọc ghẹo cô ta về chuyện đó, nhắc nhở cô ta cẩn thận với hai đứa nó, và luôn mang theo một ống chích đầy thuốc phòng hờ trong túi. Cô ta nghĩ là tôi giỡn chơi.

Thế rồi, một ngày thứ Bảy đẹp trời nọ vào cuối mùa hạ, khi hầu hết các bệnh nhân ở ngoài sân và tôi thì ở đâu đó trên lầu của bệnh viện, hai anh em sinh đôi xoay sở cách nào mà bắt cóc được Juleto và nhốt cô trong nhà tắm với hai đứa nó. May mắn là có một bệnh nhân phát hiện ra và chạy vội đi tìm tôi. Tôi phải huy động một lực lượng hùng mạnh và tìm cách phá cửa nhà tắm để giải cứu Juleto trước khi chuyện tồi tệ xảy ra. Cô ta không bao giờ kể về cực hình mà cô đã trải qua khi bị giam trong nhà tắm với hai con nhân sư hoang dại ấy. Trong khi chúng tôi trói hai đứa nó, Barney có vẻ như thoáng nhận ra chút mặc cảm tội lỗi. Còn Fred, thằng đười ươi ấy, thì không. Mặc dù đã bị buộc chặt vào thanh giường, Fred vẫn tiếp tục vặn vẹo, rên rỉ, và những sợi dây to bản căng tới mức muốn đứt bung dưới sức mạnh thú hoang của nó. Nó chỉ biết là món đồ chơi của nó đã bị tước đoạt. Đám y tá lăng xăng, và lụi vào những cái mông thú hoang những lượng thuốc an thần khổng lồ tới mức lần này chắc hai đứa nó phải chết thật thôi. Nhưng không phải vậy. Sáng hôm sau, hai đứa nó lại vẫn đứng đầu hàng chờ ăn điểm tâm như thể không có chuyện gì xảy ra vậy.

Nhưng một lát sau đó, Fred lỡ bậy ra quần. Barney nhỏ nhẹ hỏi tôi mở cửa nhà tắm, để nó có thể tắm rửa cho em nó. Sau đó, tôi cho Fred bộ quần áo ngủ khác, và Barney cũng ngập ngừng hỏi xin một bộ cho mình.

“Hôm nay Mẹ đến,” nó nói. “Hôm nay là Chủ nhật. Chủ Nhật nào Mẹ cũng đến.”

Mẹ chúng nó đến lúc hai giờ chiều. Tôi vắn tắt kể cho bà nghe những gì đã xảy ra. Bà kéo tôi qua một bên và bắt đầu nói bằng giọng ê a như đang hát, như thể đang lập lại những gì bà đã kể nhiều lần. “Tôi lấy chồng lúc còn trẻ. Chồng tôi là cai tù. Anh ấy to con, đẹp trai, giống hai thằng bé sinh đôi này. Khi tôi có thai, anh ấy dễ thương lắm, lúc nào cũng giúp đỡ làm nhẹ bớt gánh nặng cho tôi. Anh ấy không bao giờ chuyện trò về công việc của anh ấy, nhưng tôi cũng thấy là công việc đã đẩy anh ấy vào đường cùng. Một buổi sáng kia, làm ca đêm về, anh ấy đi xuống bếp và đứng đó hoài, mặt trắng bệnh như tờ giấy. Tóc đẫm mồ hôi, dán cứng vào trán. Tôi thức dậy làm đồ ăn sáng cho anh ấy. Bỗng dưng anh ấy bảo tôi rót cho anh ấy một ly rượu trái cây. Anh ấy uống hết, rót ly khác và bảo tôi đi ra ngoài. Chúa ơi, phải như tôi cứ đứng yên ở đó thì hay biết mấy. Tôi vừa đóng cửa thì nghe tiếng súng nổ. Ước chi tôi cứ đứng ở đó. Anh ấy tự bắn vào miệng. Tôi gào khóc như chó sói suốt ba ngày. Đến ngày thứ ba, bụng tôi đau quặn và tôi vào nhà thương. Ngay đêm hôm ấy, tôi sanh hai anh em nó.”

Người đàn bà ngưng nói, rồi xin phép tôi cho hai đứa nó đi dạo với bà ngoài khu vườn của bệnh viện. Sau khi xảy ra vụ Juleto, hai đứa nó bị cấm ra khỏi trại bệnh, nhưng tôi quyết định đánh liều cho chúng nó ra. Hai đứa ngoan ngoãn mỗi đứa đứng một bên mẹ, và cả ba cùng bước xuống cầu thang.

Tôi thích làm những ca Chủ Nhật. Một số bệnh nhân về nhà, một số khác đi dạo trong nắng và khu trại yên tĩnh. Tôi thường dùng khoảng thời gian này để đọc sách, và ngày hôm ấy cũng không ngoài thông lệ. Tôi ở trong phòng, khóa cửa lại và ôm cuốn sách. Đọc được một giờ, mỏi mắt tôi dựa cửa sổ nhìn xuống đủ sắc màu của những chiếc lá ngả vàng, đang sắp sang thu, Cửa sổ hướng ra sân sau của bệnh viện. Lẫn trong đám cây, có đủ thứ đồ lặt vặt – những cái bàn gẫy chân, những chiếc giường cũ phế bỏ, những tấm nệm rách, những chiếc dép mục rách, những đĩa kim loại sét rỉ, những chậu sứ nứt nẻ màu sắc của những dốc đá ven bờ biển. Lũ mèo mập ú ngự trị trong vương quốc bị lãng quên này.

mother

Tôi giật mình nhìn thấy người bên hàng giậu. Đó là cặp song sinh và và mẹ chúng. Người mẹ đang lấy thức ăn từ trong bọc ra và cẩn thận đặt lên chiếc bàn ngủ đã gẫy. Hai đứa bắt đầu tọng thức ăn vào miệng gấp gáp tới mức tưởng chừng chúng đang bị săn đuổi. Mặt chúng nó xám xanh vì những hàm răng làm việc quá mức. Người mẹ tiếp tục đổ thêm và thêm thức ăn. Khi hai thằng bé đã ngốn ngấu xong mọi thứ, người mẹ cẩn thận gói mọi thứ vào trong bọc. Rồi bà lấy ra một tấm chăn trải trên nền đất. Hai thằng bé ngồi lên đó như thể theo đúng mệnh lệnh. Người mẹ vẫn đứng, và thong thả cởi từng nút áo. Trông như thể bà ta đang ở trên bờ một con sông, sắp sửa bơi xuống nước. Thân thể trần truồng của người đàn bà trông trẻ trung lạ lùng và được chăm chút kỹ lưỡng, như thân thể một người đàn bà ba mươi tuổi. Bà thong thả nằm xuống giữa hai thằng con. Tôi lặng lẽ đóng cửa sổ lại, và lui về phòng mình.

Tối hôm ấy, hai thằng bé hiền lành như thiên thần. Chúng ngồi coi tất cả mọi thứ trên ti vi – tin tức, phim tập, The Flintstones, thứ mà chúng coi một cách thích thú. Vào khoảng mười giờ đêm, bệnh nhân lần lượt trở về phòng. Hai thằng bé sinh đôi lịch sự chúc tôi ngủ ngon và trở về giường.

Tôi trở về văn phòng, mở cánh cửa sổ ban chiều nhìn vào bóng đêm. Còn bảy tiếng đồng hồ nữa mới hết ca làm việc của tôi. Đây là ca cuối cùng của tôi trong vai trò y công bệnh viện tâm thần. Tuần tới, tôi sẽ là sinh viên đại học.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.