“Trà dư tửu hậu”(8) với Đỗ Chiêu Đức-Những bài thơ “Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt”trong cổ thi bên…Tàu !

TÀI LIỆU VĂN CHƯƠNG CỔ BÊN….TÀU

Dành cho ĐH và độc giả “Hán rộng” !!                    

Bốn bài NGŨ NGÔN TỨ TUYỆT

Đỗ Chiêu Đức

ĐỖ CHIÊU ĐỨC

1. TƯ QUY của VƯƠNG BỘT.

      VƯƠNG BỘT ( 650-676 ), tự là Tử An. Người đất Giáng Châu Long Môn ( thụộc Hà Tân Sơn Tây hiện nay ). Ông nội là Vương Thông, hiệu là Văn Trung Tử, học giả nổi tiếng cuối đời nhà Tùy. Cha là Vương Phước Chỉ, giữ chức Thái Thường Bác Sĩ, Ung Châu Tư Công đời Đường.

Vương Bột

      VƯƠNG BỘT cùng với Dương QuÝnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương văn thi tài ngang nhau, người đời xưng là ” Sơ Đường Tứ Kiệt “. Bột đứng đầu Tứ Kiệt, nổi tiếng bất hủ với bài ” Đằng Vương Các Tự “, để lại một giai thoại văn chương về câu nói ” Thời lai phong tống Đằng Vương Các “, và còn để lại rất nhiều ảnh hưởng cho văn học đời sau bằng các thành ngữ còn thông dụng đến hiện nay.

       Sau đây là một bài Ngũ Ngôn Tứ TuYệt nổi tiếng của ông.

    思歸                     TƯ QUY

長江悲已滯,       Trường Giang bi dĩ trệ,

萬里念將歸。     Vạn lí niệm tương quy.

況屬高風晚,       Huống thuộc cao phong vãn,

山山紅葉飛。     Sơn sơn hồng diệp phi.

           王勃                             Vương Bột

tứ quy Vương Bột

CHÚ THÍCH :

       Câu 3 & 4 của bài nầy còn có dị bản là :

           Huống PHỤC cao SƠN VIỄN,          況復高山遠,

           Sơn sơn HOÀNG diệp phi.              山山黃葉飛。

    HUỐNG THUỘC hay HUỐNG PHỤC gì đều có nghĩa là : Hơn nữa, Vả lại…

    CAO PHONG VÃN : là Gió thu trên cao thổi vi vút vào buổi chiều tối, còn …

    CAO SƠN VIỄN : là Núi cao chập chùng xa xăm diệu dợi.

    BI DĨ TRỆ : là Nỗi sầu cô đọng lại như nước Trường Giang lửng lờ ( như không trôi chảy ).

    NIỆM TƯƠNG QUY : là Chỉ mới có Ý niệm sẽ quay trở về mà thôi.( Ý nói : Muốn về mà không về được ! )

    HỒNG DIỆP hay HOÀNG DIỆP gì cũng đều là lá mùa thu, và cũng đều nên thơ cả ! Có điều, người Việt ta thì hay dùng ” Lá Vàng ” để chỉ mùa thu, còn người Hoa thì hay dùng ” Lá Đỏ “, vì họ có nhiều rừng phong đỏ thắm lúc thu về, còn ta thì lại có :

                   ” Lá VÀNG trước gió sẻ đưa vèo ! “…

  hoặc thi vị hơn như Tản Đà :

                  ” Trận gió thu phong cuốn lá VÀNG,

                    Lá bay hàng xóm lá bay sang….

       để rồi…

                    Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng ! “

Tu Quy VB

DIỄN NÔM :

                    MUỐN VỀ

           Trường Giang sầu nước lửng,

           Muôn dặm muốn về ngang.

           Núi cao ngăn quê cũ ,

           Non non rụng lá vàng !

   Lục bát :

           Trường Giang nước đọng lòng sầu,

           Xa nhà muôn dặm mấy thâu muốn về.

           Núi cao ngăn cách làng quê,

           Muôn chiều lá đổ ủ ê lòng sầu !

                                                 Đỗ Chiêu Đức

2. TUYỆT CÚ của ĐỖ PHỦ :

        Bài thơ nầy được làm vào cuối xuân năm Quảng Đức thứ 2 đời Đường Đại Tôn ( 764 ), lúc bấy giờ, Thi Thánh Đỗ Phủ đang ở Thành Đô ( Tứ Xuyên ), mặc dù tha hương nhưng cuộc sống đã tạm ổn định, nhớ quê nhưng tâm lí đã khá thoải mái.

      絕句                   TUYỆT CÚ  

   江碧鳥逾白,     Giang bích thủy du bạch,

   山青花欲燃。     Sơn thanh hoa dục nhiên.

   今春看又過,     Kim xuân khan hựu quá,

   何日是歸年.       Hà nhật thị qui niên ?!

              杜甫                               Đỗ Phủ

Tuyệt cú đỗ Phủ

CHÚ THÍCH :

      Bài thơ nầy được Thi Thánh Đỗ Phủ làm vào mùa xuân năm Quảng Đức thứ hai đời Đường Đại Tôn. Lúc nầy ông đang tạm cư ở Thành Đô, cuộc sống tạm ổn định, mặc dù xa quê nhưng trong lòng cũng tạm thoải mái bớt day dứt, nên lời thơ cũng nhẹ nhàng gợi cảm hơn.

    BÍCH 碧 : là BIẾC. Ta thường hiểu là XANH thì mới BIẾC. Thật sự BÍCH là chỉ cái sắc ÓNG ÁNH, như Cẩm Thạch  ” Lên Nước ” thì gọi là BÍCH, bất cứ nó ửng lên màu gì đều là BIẾC cả !.

    DU 逾 :là Càng hơn, là Vượt quá.

    DỤC 欲 :là Muốn, là Giống Như.

    NHIÊN 燃 :là Cháy, Ở đây có nghĩa là Rực Rỡ.

    QUÁ 過 :là Qua, là Đi Qua.

    HÀ 何 :Nghi Vấn Từ, có nghĩa là GÌ, NÀO, SAO… Như : HÀ SỰ là Việc gì ?, HÀ NHÂN là Người Nào?, HÀ CỐ là Cớ Sao ?. Trong câu thơ HÀ NHẬT là Ngày Nào ?

DỊCH NGHĨA :

        Nước của dòng sông càng xanh biếc thì những cánh chim bay lượn trên sông càng trắng hơn thêm, núi càng xanh hơn thì muôn hoa càng như rực rở hơn lên như muốn bốc cháy. Trước mắt ta mùa xuân lại sắp đi qua nữa rồi, không biết là đến năm nào mới có được ngày quay trở lại quê hương đây ?!.

Tuyệt Cú ĐP

DIỄN NÔM :

                     TUYỆT CÚ

             Nước biếc chim càng trắng,

             Núi xanh hoa rực hương.

             Nay nhìn xuân lại hết,

             Biết thuở nào hồi hương ?!

 Thất ngôn :

            Trắng xóa cánh chim làn nước biếc,

            Hoa như rực lửa núi càng xanh.

            Mắt trông xuân lại qua lần nữa,

            Quê cũ năm nào lại gặp anh ?!

                                                Đỗ Chiêu Đức

3. KIẾN VỊ THỦY TƯ TẦN XUYÊN của SẦM THAM .

Sâm Tham

        SẦM THAM 岑參 ( 715-770 ), người gốc Nam Dương ( thuộc Tân Dã, tỉnh Hà Nam hiện nay ), sau thuyên cư về Giang Lăng ( Tỉnh Hồ Bắc hiện nay ), đậu Tiến Sĩ năm Thiên Bảo thứ ba năm 30 tuổi. Ông là thi nhân nổi tiếng đời Đường, chuyên về thơ biên tái 7 chữ, giọng thơ hào hùng, sức tưởng tượng phong phú, đầy màu sắc lãng mạn. Ông mất lúc 56 tuổi.

     見渭水思秦川      KIẾN VỊ THỦY TƯ TẦN XUYÊN     

  渭水東流去,        Vị Thủy đông lưu khứ,

      何時到雍州。        Hà thời đáo Ung Châu ?

  憑添兩行淚,        Bằng thiêm lưỡng hàng lệ,

      寄向故園流。        Kí hướng cố viên lưu  !

                 岑參                                    Sầm Tham

thơ Sâm Tham

CHÚ THÍCH :

      VỊ THỦY 渭水:Còn gọi là Vị Hà, từ Cam Túc chảy qua Thiểm Tây đổ vào sông Hoàng Hà ra biển.

      TẦN XUYÊN 秦川:Địa danh xưa, tức tỉnh Thiểm Tây ngày nay. Trong thơ chỉ đất Quan Trung, là một dãi đất ở trung bộ tỉnh Thiểm Tây.

      UNG CHÂU 雍州:Một trong chín Châu ngày xưa, bao gồm một phần của tỉnh Cam Túc và một dãi của tình Thiểm Tây ngày nay.

      CỐ VIÊN 故园:Vườn Cũ, chỉ Cố Hương, nơi được sanh ra và lớn lên.

DỊCH NGHĨA :

              THẤY DÒNG SÔNG VỊ MÀ NHỚ TẦN XUYÊN

     Dòng sông Vị chảy về đông, không biết bao giờ mới đến đựoc xứ Ung Châu quê ta.( Nay ta thương nhớ quê hương mà không về được, nên…) chỉ còn có nước nhỏ thêm hai hàng lệ nhớ quê xuống sông, nhờ nước sông mang hai hàng lệ nhớ thương nầy về với cố hương quê ta mà thôi !

DIỄN NÔM :

             TRÔNG SÔNG VỊ NHỚ TẦN XUYÊN

                   Xuôi đông sông Vị chảy,

                   Ung châu ngang quê nhà.

                   Ta thêm hai hàng lệ,

                   Về tận cố hương xa !

  Gián Cách :

                   Sông Vị chảy về đông,

                   Uông Châu bao giờ đến ?

                   Ta thêm lệ đôi dòng,

                   Gởi cố hương yêu mến !

    Lục Bát :

                  Về đông sông Vị chảy mau,

              Bao giờ mới đến Ung Châu quê nhà ?

                  Nhỏ hai hàng lệ thiết tha,

              Gởi về tận chốn quê xa mịt mùng !

4. TĨNH DẠ TƯ của LÝ BẠCH :

Lý Bạch

       Bài thơ TĨNH DẠ TƯ của Thi Tiên LÝ BẠCH với lời lẽ mộc mạc, giản dị, nhưng lại rất thực tế, nhân bản, dễ đi sâu vào lòng những người tha hương cô thân chiếc bóng, lòng nhớ quê luôn canh cánh khôn nguôi !

    靜夜思                    TĨNH DẠ TƯ

  床前明月光,          Sàng tiền minh nguyệt quang,

      疑是地上霜。        Nghi thị địa thượng sương.

    舉頭望明月,        Cử đầu vọng minh nguyệt,

      低頭思故鄉。        Đê đầu tư cố hương !

                 李白                            LÝ BẠCH

thơ Lý Bạch

  CHÚ THÍCH :

    Chữ 靜 được phát bằng 2 âm TỊNH và TĨNH, nhưng nghĩa thì lại như nhau. TĨNH DẠ 靜夜 : là Trong đêm thanh vắng. Đêm vắng lặng.

    NGHI 疑 : là Nghi Ngờ. Ở đây có nghĩa là NGỠ là , Tưởng là.

    CỬ ĐẦU : là ngước đầu, là ngẩn đầu lên.

    ĐÊ ĐẦU : là Cúi đầu xuống.

NGHĨA BÀI THƠ :

                     NỖI NHỚ NHUNG TRONG ĐÊM VẮNG VẺ

       Trước giừơng ta nằm, ánh trăng sáng vằng vặc đang chiếu rọi, ánh trăng huyền ảo mơ màng như có một làn sương mỏng phủ trùm cả đất trời. Trong đêm vắng lặng nầy, ta không sao chợp mắt được. Ngước đầu nhìn lên vầng trăng sáng như thuở nào, nên khi cúi đầu nhìn xuống lại tưởng nhớ đến quê hương !

       Tình cảm mộc mạc mà chân thật biết bao, nên chi bài thơ với những từ rất giản dị lại cũng rất dễ đi vào lòng người suốt trên ngàn năm nay !

DIỄN NÔM :

                     NHỚ QUÊ ĐÊM VẮNG

                 Trước giừơng nhìn trăng sáng,

                 Mông lung ngỡ sương đêm.

                 Ngữa trông vầng trăng bạc,

                 Nhớ quê dạ buồn thêm !

 Lục bát :

                 Trước giừơng nhìn ánh trăng trong,

              Mông lung cứ ngỡ sương lồng bóng mây.

                 Ngữa trông trăng sáng đêm nay,

              Cúi đầu lòng những ai hoài nhớ quê !

                                                   Đỗ Chiêu Đức

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.