DÂN CA TÂY NGUYÊN(Cao Nguyên Trung Phần)

TÀI LIỆU DÂN CA DÂN NHẠC TÂY NGUYÊN

Tượng mẹ ôm con_2

Dân tộc Chu Ru còn có tên gọi là Chơ Ru, Kru, Choru,Thượng, Ru. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai – Đa Đảo. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Chu Ru ở Việt Nam có dân số 19.314 người, cư trú tại 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố (tỉnh Lâm Đồng 18.631 người, tỉnh Ninh Thuận 521 người, Sài Gòn 58 người …).

Dân tộc Chu Ru có một vốn ca dao, tục ngữ phong phú, trong đó nổi bật là những câu ca tụng chế độ mẫu hệ, đề cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội cổ truyền. Nhiều truyện cổ phản ánh cuộc đấu tranh bất khuất của người lao động với thiên nhiên và xã hội để giành lấy cuộc sống hạnh phúc. Người Chu Ru còn lưu truyền một số trường ca mà các già làng thường kể bên bếp lửa sàn cho con cháu nghe, suốt đêm này qua đêm khác…

Kho tàng văn học nghệ thuật dân gian của người Chu Ru không chỉ có giá trị về mặt văn học nghệ thuật, mà còn là một nguồn tư liệu lịch sử quý giá.

churu2_Dân tộc Chu Ru

Âm nhạc Chu Ru man mác, giai điệu thể hiện cao tính âm nhạc dân vũ với âm thanh chiêng batrống da trâu.

Về nhạc cụ, đáng lưu ý là trống, kènchiêng. Ngoài trống,kèn bầu (rơkel), đồng la (sar)… còn có r’tông, kwao, tenia, là những nhạc cụ đặc sắc của người Chu ru. Trong những ngày vui, họ thường tấu nhạc với điệu Tamya Arya (Tam-ga), một vũ điệu điêu luyện nổi tiếng mang tính cộng đồng, hầu như người nào cũng biết và ưa thích.

Biểu diễn Rơkel (kèn bầu) trong lễ hội mừng lúa mới của dân tộc Chu Ru.
Biểu diễn Rơkel (kèn bầu) và Chiêng ba trong lễ hội mừng lúa mới của dân tộc Chu Ru.

Điệu Rơkel giữa đại ngàn

Nắng khỏa tràn vào gió. Con đường quầng bụi đỏ. Lũ trẻ như sinh ra từ đất, hồn nhiên và chân trần. Cụ già trầm mặc dáng núi. Những phụ nữ địu con lên rẫy, neo vọng ước trong tiếng chim gù xanh thẳm. Mùi rừng rú, mùi ngai ngái cỏ cây, mùi hoa cà-phê nồng nồng phả, mặc sức phô diễn trên nền trời. Và theo đó, tôi đến nhà chị Ma Tham – Nghệ nhân trình tấu rơkel (kèn bầu) của làng Chu Ru ở plei (buôn, làng) Ma Ðanh thuộc xã Tu Tra (Ðơn Dương, Lâm Ðồng)…

Biết tôi muốn tìm hiểu về chiếc rơkel, chị Ma Tham vui vẻ bảo em gái sang nhà bố mượn, rồi bắt đầu trình tấu và diễn giải. Này là điệu Con sóc (Pro), gửi gắm thân phận người con không có cha, có mẹ, sống thui thủi một thân một mình, đơn chiếc giữa rừng sâu, chỉ biết bầu bạn cùng con chim, con sóc, kiếm được quả gì thì ăn cùng nhau. Giai điệu chậm, buồn, xa vắng, nao lòng… Này là bài Ru con (Ryou anặh) nhẹ nhàng, khoan thai, trìu mến, đong đưa, đong đưa… Còn đây là điệu rơkel đưa tiễn người về nơi “chín suối”, Ma Tham ngập ngừng: “Trước khi đi chôn, mình thổi ru đưa tiễn, linh hồn người quá cố sẽ ở lại bên mình”. Âm điệu nỉ non, day dứt, đắm trong kỷ niệm về người đã đi vào thiên cổ nhưng không hề bi lụy mà là sự ru vỗ, an ủi người ở lại, dặt dìu tiễn linh hồn người đi. “Có hết, có hết, nó “nói” ở trong này này” – Nghệ nhân Ma Tham ngừng thổi, vừa nói vừa chỉ tay vào chiếc rơkel: “Vui cũng có, buồn cũng có, thủ thỉ tâm tình có, đối đáp thách thức nhau có…”, rồi chị kể say sưa.

Ðang dở câu chuyện thì có người tới. Ma Tham nhanh miệng: “Ha Sen – bố chị đấy! Người chế tác rơkel cho lũ làng Chu Ru mình đấy!”. Tôi lặng ngắm cái dáng hình khắc khổ, lầm lũi của người đàn ông đã bước qua sáu mươi lăm mùa rẫy. Chừng như không muốn tôi ngắm nhìn, già Ha Sen liền nói chuyện chế tác rơkel. Trước hết, chọn quả bầu thật già, dày vỏ, kích thước vừa phải và tròn đều, đem vùi vào đất nhão cho ruột rữa ra. Tiếp đến, loại bỏ ruột qua lỗ cắt ở phía cuống, làm sạch bằng nước suối, mang đi phơi nắng. Phơi xong, cho vỏ bầu vào luộc với lá hoặc vỏ cây rừng có chất đắng chát để tránh mối mọt và co giãn sau này. Tiếp theo, gác quả bầu lên giàn bếp khoảng một tháng cho da lên mầu nâu đỏ và săn, rồi lại phơi sương vài đêm nữa. Sau đó, khoét lỗ ở bên hông, kiểm tra âm để lắp sáu ống nứa vào thành hai hàng: trên bốn ống, dưới hai ống.

– Bốn ống trên là nốt Ðộ, Rè, Mi, Fa; hai ống dưới là Sol. Thiếu hai nốt La và Si – Già Ha Sen giải thích, rồi nói tiếp – Ống nứa phải thon gióng, mỏng vừa độ. Ống ngắn cho lượng âm cao, ống dài cho lượng âm thấp. Sáu ống dùi sáu lỗ phía bên ngoài hộp âm (quả bầu); ngoài ra, mỗi ống nứa lại gắn thêm một cái lưỡi gà bằng i-nốc dài khoảng 2 cm ở phía trong hộp âm để tạo độ rung. Khâu này rất quan trọng và cũng là khâu khó nhất. Bởi nó quyết định âm sắc. Cuối cùng mới gắn đường âm (sáu ống nứa) vào hộp âm (quả bầu), và dùng sáp của con ong muỗi hàn kín lại. Chiếc rơkel hình thành. Tất nhiên, để âm chuẩn, có hồn, còn phải tháo lắp, chỉnh sửa nhiều lần.

churu_múa truyền thống

Là định mệnh, hay như một lẽ tự nhiên nhuốm mầu sắc siêu linh trong việc bảo lưu những tinh túy văn hóa dân gian, Ha Sen được Yàng (trời) chọn, trở thành người giữ nghiệp làm rơkel cho lũ làng. Nhờ óc sáng tạo cùng bàn tay khéo léo, tỉ mẩn, cầu kỳ và khả năng thẩm âm tinh tế, Ha Sen đã chế tác nên những chiếc kèn độc đáo, mang đúng điệu thức dân tộc mình. Hơn mười năm nay, rơkel của Ha Sen đã nổi tiếng khắp vùng. Nó theo chân người yêu nhạc có mặt ở mọi nhà. Từ người Raglai ở tỉnh Ninh Thuận đến người Châu Mạ, Chu Ru, K’Ho, Cill, Lạch, Srê… ở hầu khắp các huyện thuộc tỉnh Lâm Ðồng. Không những vậy, rơkel của ông còn vượt sông K’rông Nô để đến với đồng bào Ê Ðê, Ba Na ở Ðác Lắc, Ðác Nông. Người mua rơkel là tìm bạn tri âm tri kỷ. Thả hồn mấy điệu, âm sắc chuẩn là mua liền. Chủ khách đều vui cái bụng, rồi rượu gà được bày ra, chếnh choáng, chất ngất trong men rừng, trong điệu rơkel ngân vang, da diết, cảm thương, bồng bềnh, hoan hỷ…

Cách thức sử dụng kèn bầu sáu ống là thổi (hít) hơi vào cuống bầu. Các ngón cái, trỏ, giữa và áp bàn tay trái giữ lỗ thoát hơi của bốn ống nứa hàng trên. Ngón cái và ngón trỏ bàn tay phải giữ lỗ thoát hơi của hai ống nứa hàng dưới. Rơkel có thể dùng độc tấu, hoặc hợp tấu với các loại nhạc cụ khác như chiêng (chinh sàrr), trống (sơgơk) và các điệu dân vũ Tamya Ariya, T’rum-pô, Dam dra… huyền ảo. Trong giàn nhạc hợp tấu, rơkel đóng vai trò giữ nhịp, tâm sự dọc chiều lễ nghi. Rơkel tấu trước, cồng chiêng theo sau tạo nên bản hòa âm uyên bác, đa nghĩa.

Tín niệm người Chu Ru cho rằng, sự thông nối giữa kèn bầu và cồng chiêng là sự thông nối giữa âm và dương, giữa vợ và chồng, giữa đực và cái. “Không biết cái nào vợ cái nào chồng, nhưng âm dương (vợ – chồng, đực – cái) thì phải ‘ăn’ nhau” – Ma Tham nói. Nhưng kèn bầu khác cồng chiêng ở chỗ: Nếu cồng chiêng chịu sự ràng buộc nghiêm ngặt của tín ngưỡng đa thần, chỉ được sử dụng vào các dịp lễ hội đặc biệt; và trước khi sử dụng, bao giờ chủ làng (pô plei) cũng phải tiến hành nghi lễ để xin phép thần linh; thì ngược lại, rơkel đã được thế tục hóa, mặc dù vẫn nằm trong quan niệm vạn vật hữu linh.

Do vậy, đồng bào Chu Ru sử dụng rơkel ở mọi lúc mọi nơi, với mọi trạng thái tình cảm. Bài vui thì có cúng thần đập nước, mừng lúa mới, mừng nhà mới, cưới hỏi,… tiết tấu nhanh, rộn ràng, linh thiêng. Với bài Lấy lửa (Mặ ơpui – lấy lửa bằng cách cà vỏ cây nứa vào nhau) thì rơkel thủ thỉ tâm tình: “Con đói rồi vợ ơi, chàng đang làm mỏi tay mới ra lửa, về thổi cơm cho con ăn…”. Bài Tập trung (Tơri gùm) kêu gọi đoàn kết, rơkel lại nói: “Cùng nhau về bên ché rượu cần, ai cũng ở nhà xa là chia rẽ, hãy tập trung một chỗ, cùng sống với nhau nhằm tránh hoang mang, sợ hãi trước hiểm họa thiên nhiên, thú dữ”, rơkel ngân, cuốn, du dương, gọi mời. Bài Giao duyên lại tha thiết, quấn quyện, ngọt ngào: “Tôi yêu đằng ấy, đằng ấy có yêu tôi không? Tôi thương đằng ấy, đằng ấy thương tôi chứ?”. Nam thanh nữ tú Chu Ru thích những điệu rơkel nhanh, mạnh, kiêu hãnh, vui tươi. Còn những người già yêu các điệu trầm, man mác, nhuốm màu hoài niệm.

churu_ĐB

Mỗi thông điệp gắn liền với một điệu thức, một bài bản riêng, không hề lẫn lộn. Người thổi rơkel hay là người biết phân biệt ở chỗ rơkel có đủ điệu thức hay không, âm sắc có chuẩn, đầy đủ hồn vía không. Ma Tham học thổi rơkel từ năm mười ba, mười bốn tuổi và bây giờ chị đã ba mươi chín tuổi. Chị bồi hồi nhớ: “Có người già vào làng thổi, mình hỏi điệu này điệu kia, nghe và để trong cái đầu rồi bắt chước, hai năm sau thì thành thạo. Các bài đều có sẵn, nhưng không ai biết ký âm để truyền dạy bằng văn bản, ai có năng khiếu cảm thụ thì nhớ”.

Lướt nhẹ đôi tay trên chiếc rơkel, nghệ nhân Ma Tham đưa tôi vào một thế giới thần tiên siêu thực, nhưng cũng hết sức bình dị và rất đời, qua những giai điệu bổng trầm: khi trầm thiêng như tiếng sấm rền dội vang từ vách núi; lúc thâm u như tiếng gió giữa đại ngàn; khi róc rách, nhấn nhá như con nước xuôi dòng; lắm lúc lại buông lơi, lả lướt như giọt nắng cuối chiều… Và tôi hiểu, đấy chính là tiếng lòng của người Chu Ru, tự ngân rung, tự thẩm thấu từ thế hệ này đến thế hệ khác: Tiếng vọng của ngàn xanh.

Bỗng có tiếng gà gáy khan bên đồi. Tôi biết phần việc của mình đã xong. Rời sơn thôn về lại phường phố. Bà con Chu Ru tiễn tôi bằng những bàn tay giao đãi ân tình, những giọng cười vang vang, những đôi mắt bập bùng sắc lửa. Ðiệu rơkel dư ba. Lại nghe vẳng xa lời Ma Tham: “Có hết, có hết, nó “nói” ở trong này này”. Tạm biệt Ma Tham, tạm biệt già Ha Sen, tạm biệt những gương mặt dặc dài nắng gió, tạm biệt điệu thức rơkel, trong tôi lại ngân vang những thanh âm ngày mới. Vâng, thanh âm của niềm tin đại ngàn.

Bà Ma Bio và bộ Chiêng ba truyền thống của dân tộc Chu Ru. (ảnh K.A.)
Bà Ma Bio và bộ Chiêng ba truyền thống của dân tộc Chu Ru. (ảnh K.A.)

‘Tiếng chiêng đàn bà’ bên dòng suối khóc

Theo TP – Một tổ chức thuộc UNESCO đã mời bà đóng vai chính trong bộ phim về hành trình gian nan giữ nhịp hồn chiêng. Vượt thoát khỏi quan niệm xưa cũ “ching quăng, yăng mê” (chiêng cha, ché mẹ), bà đã dạy cho nhiều sơn nữ đánh cồng chiêng để gìn giữ di sản phi vật thể thế giới đang bị mai một dần.

Ma mị những thanh âm

Bà là Tou Neh Ma Bio, 55 tuổi, người Chu ru, trú tại bản Diom A, xã Lạc Xuân, huyện Đơn Dương, Lâm Đồng. Chúng tôi tìm đến bản Diom A xa xôi, cách TP Đà Lạt mấy chục cây số để được nghe diễn tấu cồng chiêng. Thế nhưng, nghệ nhân bảo muốn thẩm được cái hồn của chiêng Chu ru phải lên núi thiêng K’ Lơl, ra dòng suối khóc Đa Nhim huyền thoại hoặc đến thác nước kêu ở bản K’Băm.

“Trong các lễ hội của người Chu ru, tiếng trống, tiếng chiêng đã vang trở lại, những vũ điệu tamya nhịp nhàng, uyển chuyển cũng dần hồi sinh. Công đầu là của nghệ nhân Ma Bio đó”.

Giám đốc Trung tâm Văn hóa Thể thao huyện Đơn Dương Đặng Huệ Chí Nói rồi bà tập hợp một số thành viên ưu tú của đội cồng chiêng cùng chúng tôi đến thác nước. Nhờ có cánh rừng nguyên sinh thâm u bao bọc xung quanh nên thác vẫn giữ được nét hoang sơ với làn nước trong vắt. Chúng tôi từng tham quan hàng chục ngọn thác lớn nhỏ dọc dài đất nước, nơi nào cũng nghe tiếng thác đổ ầm ào, tuy nhiên ở đây, dòng nước lớn giội xuống ghềnh đá tung bọt trắng xóa nhưng chỉ phát ra âm thanh rì rào khá êm tai. “Vì vậy mà nó được đặt tên là Thác nước kêu. Nguyên nhân có thể do rừng núi có sự kiến tạo khác thường nào đó” – già làng Ya Ba nói.

Bà Ma Bio thử âm thanh chiêng.
Bà Ma Bio thử âm thanh chiêng.

Điều thú vị nữa là dòng Đa Nhim chảy qua địa bàn huyện Lạc Dương và TP Đà Lạt có nhiều đoạn vượt ghềnh đá, tuôn đổ dữ dội, thế nhưng khi uốn lượn ven các buôn làng của đồng bào Chu ru, dòng nước lại êm đềm, nỉ non như tiếng khóc. Về sự tích con suối này, già làng kể, nhiều năm liền hạn hán khốc liệt, buôn làng đói khổ, người chết vô số. Chàng Ha Biang quyết chí đi kiện trời. Sau bảy ngày vượt núi cao hiểm trở, gạo hết, nước cạn, chàng gục chết giữa rừng.

Nàng Ka Lang đi tìm, khóc than thảm thiết bên xác chồng. Tiếng khóc của nàng và con voi đầu đàn vang đến tận thiên đình khiến trời cảm động cho mưa suốt ba tháng ròng. Nước mắt hòa cùng nước mưa và chảy thành dòng suối mang tên Đa Nhim.

“Tùng, tùng, tùng…”, bà Mabio gióng trống để dẫn dắt nhịp chiêng. “Bing beng, bing beng…” tiếng chiêng của các nghệ nhân chân trần vang lên hòa theo nhịp trống. Điệu chiêng rất chặt chẽ trong khúc thức, thẳm sâu, huyền bí. “Đó là điệu t’rumpô mời các đấng quyền năng vô hình về dự hội. Bởi cồng chiêng được trao sứ mạng tạo nên mối giao cảm giữa con người với thần linh nên bất cứ lễ hội nào của người Chu ru cũng bắt đầu bằng điệu chiêng này. Tiếng nói của dân làng nhiều khi không vọng tới tai Yàng (trời -PV) nhưng qua tiếng chiêng thì Yàng nghe thấy hết”, nhà nghiên cứu Tou Prong Dzung, người được ví như từ điển sống về văn hóa Chu ru cho biết.

Sơn nữ Chu Ru bên dòng suối kêu.
Sơn nữ Chu Ru bên dòng suối khóc.

Kế đến là bài chiêng đón khách và mời khách nâng cần rượu với âm điệu chậm, nhẹ nhàng, bài mừng cơm mới với tiếng chiêng rộn ràng đuổi nhau, điệu damdra cho đôi lứa tìm bạn tình lúc thì đắm say, vấn vít khi lại tưng bừng, vui nhộn. Tiếng trống păhgơnăng trập trùng vang vọng từ vách núi hợp tấu cùng điệu kèn rơkel du dương và nhịp chiêng ngân nga lan tỏa khắp khu rừng.

Từng tham gia nhiều lễ hội của đồng bào nam Tây Nguyên, bao giờ cũng thấy nam giới chơi chiêng, còn nữ múa xoang minh họa. Thế nên, lần này chúng tôi vô cùng ngạc nhiên vì đa số các thành viên của đội cồng chiêng là nữ, ngay cả đánh trống – việc khó nhất khi diễn tấu cồng chiêng cũng do bà MaBio đảm nhiệm. Phải chăng vì là tiếng chiêng nữ giới nên tiết điệu không nhanh, dồn dập, rừng rực khiến người nghe rạo rực như khi thưởng thức tiếng chiêng của một số dân tộc ở bắc Tây Nguyên như Ê đê, Gia Rai…?” – tôi thắc mắc.

Già Ya Ba mỉm cười rồi giảng giải, đường chiêng của nữ rõ ràng không mạnh mẽ bằng nam giới, tuy nhiên mấu chốt vấn đề là ở chỗ tiếng chiêng phải hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và tiếng lòng của dân làng. Xứ sở của thác kêu, suối khóc, ruộng nương bát ngát, đồng cỏ mênh mông thì tiếng chiêng phải trầm lắng, ngân xa mới đồng điệu. “Ngày xưa, vì sự cai trị hà khắc của nhiều quan lại vùng ven biển, một bộ phận người Chăm đã trốn lên núi sinh sống cùng các tộc người Mạ, K’Ho ở nam Tây Nguyên và lấy tên là Chu ru, nghĩa là chiếm đất. Tiếng chiêng của người Chu ru nghe thăm thẳm như hoài nhớ, bày tỏ nỗi niềm là vì thế” – một cụ cao niên góp chuyện.

Vũ điệu Tamya ở thác nước kêu.
Vũ điệu Tamya ở thác nước kêu.

Truyền lửa cho thế hệ sau

Những thập niên 1980-1990, đời sống khó khăn, thiếu thốn, lại bị kẻ xấu lợi dụng nên nhiều gia đình ở xã Lạc Xuân đã bán cồng chiêng để có vốn sản xuất hoặc đổi lấy những vật dụng sinh hoạt, thiết bị vui chơi, giải trí khác, thậm chí đập bỏ chiêng để bán đồng nát. Thấy giới săn đồ cổ săn lùng ráo riết, vét dần những bộ chiêng cổ, chiêng quý ở các bản làng, Ma Bio đến từng nhà khuyên can đừng bán chiêng. “Có gia đình quá nghèo túng buộc phải bán chiêng, mình liền bán ruộng để mua, quyết giữ cho được chiêng quý của người Chu ru”, bà Ma Bio kể.

Trong 3 tháng ra miền Trung nắng gió để đóng phim, bị cuốn hút bởi âm điệu của bộ chiêng 6 chiếc, Ma Bio tậu một bộ ở làng đúc Phước Kiều (Quảng Nam), sau đó lên Gia Lai tìm nghệ nhân giỏi để học chỉnh chiêng. Túi tiền đã cạn, lại nhớ bản làng cùng đội chiêng đến nao lòng nhưng bà vẫn kiên trì bám trụ nơi đất khách quê người, cấy lúa thuê để kiếm sống, tiếp tục học cách dạy tiếng cho chiêng và gom góp tiền làm lộ phí về quê.

Không còn ruộng vườn mênh mông, cò bay thẳng cánh nhưng đổi lại bà sở hữu 3 bộ chiêng cổ của người Chu ru (mỗi bộ 3 chiếc được đặt tên là mẹ, dì và con gái bởi người Chu ru theo chế độ mẫu hệ), 2 bộ chiêng bằng (mỗi bộ 6 chiếc), 3 cái trống da nai… Chỉ vào bộ chiêng ba cổ nhất, bà Ma Bio nói : “Cách đây hai năm, mình phải bán hơn hai tấn lúa mới đón được bộ chiêng này từ xã lân cận là Tu Tra về đó!”. Về bộ chiêng bằng 6 chiếc treo gần đó, bà Ma Bio hào hứng: “Đây vốn là bộ chiêng chết (bị lạc tiếng-PV), mình phải mất nhiều công sức để dạy lại”.

Đồng thời với việc sưu tầm, lưu giữ chiêng quý, gần 10 năm qua, bà Ma Bio dày công tập họp, dạy cho lớp trẻ đánh chiêng. Bà kể, thấy người biết đánh trống, chơi chiêng ngày càng hiếm, mỗi bản chỉ còn vài ba người; những làn điệu dân vũ cũng mai một dần trong các nghi lễ và sinh hoạt văn hóa cộng đồng, mình buồn và lo lắng lắm. Lỡ mai những người già trong bản về bến nước ông bà mà không có người thay thế thì nguy mất. Mình đề nghị phải truyền dạy chiêng, trống và các vũ điệu cho bọn trẻ, người già đồng tình nhưng bọn trẻ lại thờ ơ.”

churu38

Bà đã đến từng nhà để thuyết phục nhưng đa số trai bản theo trào lưu nhạc hiện đại, không chịu học nhạc cụ truyền thống vì cho rằng quá lạc hậu, đơn điệu, khó hiểu; thậm chí một số chàng trai còn vận động người già mang bán những bộ cồng chiêng quý để mua thiết bị âm thanh điện tử. Bà quay sang vận động các sơn nữ dẫu biết rằng chơi trống, đánh chiêng là việc khó đối với nữ giới bởi đòi hỏi sức khỏe tốt và sự dẻo dai. Ma Bio mất rất nhiều công sức giảng giải về vị trí của mỗi người trong dàn chiêng; tiết tấu, giai điệu của từng bài chiêng… Bà đánh chậm rãi từng nhịp để các em làm theo.“Có đứa quên nhịp hoài làm mình bực lắm nhưng không dám la vì sợ các em lại tự ái, nản lòng rồi bỏ học. Mình ráng giữ bình tĩnh, bày đi bày lại nhiều lần các em mới nhớ được”- bà Ma Bio hồi tưởng.

Dần dà lớp trẻ ở Diom A cũng cảm nhận được sự huyền diệu của cồng chiêng, rủ nhau đi học ngày càng đông. Thanh niên ở bản lân cận là K’Băm cũng tìm đến xin học. Hiện đã có khoảng 70 em biết đánh chiêng, trong đó một số sơn nữ tấu chiêng hay, múa giỏi như Nai Luyến, Tou Ruy, Ma Tina. Đội chiêng của nghệ nhân Ma Bio đã đi biểu diễn, tham gia liên hoan ở Hà Nội và một số tỉnh Tây Nguyên; từng đạt giải B Liên hoan Dân ca dân vũ Tây Nguyên lần thứ 3…

Cách cầm chiêng, gõ nhịp của các sơn nữ vô cùng duyên dáng, uyển chuyển. Những cánh tay mềm mại đưa lên, nhịp xuống, những động tác lắc hông gợi cảm đã truyền lửa đam mê đến cộng đồng, cuốn hút khán giả.

(Theo báo Tiền Phong)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.