Tản mạn về văn học-Ngô Văn Tạo

văn học

NgoVanTao2 

Ngô Văn Tạo và Văn Cao

 Tôi khi xưa nghe các cụ nói : “muốn học làm thơ, phải nhớ và nghiền ngẫm một trăm bài thơ của người”. Nay nghĩ lại, tôi vẫn còn thấy đúng; nhất là tôi luôn theo ý  Heidegger-Gadamer rằng nghệ sĩ phải mở rộng thế giới hiện sinh bản thể bằng cách không ngừng thông diễn giải (hermeneutic) tha nhân và chính mình, đặc biệt qua những tác phẩm nghệ thuật.

Thông diễn giải chính mình, tức là nhớ những tác phẩm của mình và sống lại ngoài những sự đời mà ta đã thật sống khi sáng tác mà cả những ẩn dụ mông lung mơ hồ, những ẩn dụ này nhiều khi ta bật cảm thức hay nhận ra khi nhìn lại. Dưới khía cạnh này, tôi có thể nói đó là ôm mang “một sự ám ảnh” không ngừng đưa ta tới sáng tác đã qua nhưng vẫn còn đâu đó trong tiềm thức.

Chính “sự ám ảnh” đó thường là cơ sở cho sự nghiệp sâu và rộng của nghệ sĩ. Thật vậy, hãy nghĩ đến những ngôi nhà siêu vẹo và những phố không người của toàn bộ những bức tranh sơn dầu “Phố Phái, như tiềm thức của danh họa sĩ Bùi Xuân Phái không lúc nào thoát khỏi sự vắng lặng, sự chắt chiu của cuộc sống, với chỉ một tia sáng mong manh hoài cổ, cùng có một câu hỏi như tuyệt vọng: “Đấy là xã hội con người giờ đây hay mãi mãi?”

Rõ ràng là qua sự nghiệp đồ sộ, tới 600 bài hát, của Trịnh Công Sơn, nhà thơ và nhạc sĩ. chúng ta có thể nói Trịnh Công Sơn là nghệ sĩ của một nhạc điệu, của một hồn thơ. Một nhạc điệu lẩn quẩn trong tâm trí, một ý thơ ôm ấp cuả lý tính. Mà thật không quá ngôn, vì tất cả tác phẩm của Trịnh Công Sơn đều như phát động từ một giai điệu, có thể  đa dạng nhưng ngắn gọn, và cùng một thể cách thâm trầm lưu luyến. Tôi nghĩ tới bài “Đêm thấy ta là thác đổ”, một bài ca dài với chỉ một điệp khúc 13 nốt nhạc, đưa đẩy liên tục những “hai câu thơ gồm 13 chữ.” Còn về ý thơ, cái thi ca (le poétique) căn bản của nhà thơ Trịnh Công Sơn, có thể nhận và đây cũng qua hai câu của bài hát này: “Vườn khuya đóa hoa nào mới nở – Đời ta có ai vừa qua”. Cái cảm thức ôm ấp của một con người trước sự mất mát, phù du bất tất, tinh yêu mong manh như ước mơ…, truyền đạt trong thi ca với cái mông lung của trời đất, cái cô đơn của phận người, cái vô thường Phật đạo, cùng với cái buồn như bất tận vì không làm sao giữ được cái tình thương bát ngát đối với cuộc đời, có tha thân và những hệ lụy: “Tàn đông con nước kéo lên – Chút tình mới chớm đã viên thành” ( Đóa hoa vô thường).

Bùi Giáng

Đã bàn đến thông diễn giải, tất nhiên phải nói tới Bùi Giáng, “cuồng sĩ thi nhân”, trong văn học Việt Nam. Những tập sách mênh mông tư tưởng triết học của Bùi Giáng : “Tư tưởng hiện đại”, “Heideggger và tư tưởng hiện đại”…,là cả một công trình thông diễn giải tận cùng tâm trí, suy tư tận lực những tư tưởng của những triết gia Âu Mỹ. Còn như thi sĩ, Bùi Giáng cũng đeo mang một “ám ảnh”, tâm thức thường trụ của  con người ly khai đời thường thế nhân, rũ bỏ mọi dục tinh khí (libido) với những nàng tiên đứng lề đường, mà đối với Bùi Giáng tất cả đều là đến với nàng tiên “thi ca” (Mnemosyne). Có thể nói Bùi Giáng luôn luôn tự đọc những bài thơ của chính minh, nhớ toàn diện “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, không lúc nào ngừng viết thơ trong đầu theo thể lục bát với ngôn từ của người dân (vernacular): “Anh đi cây bút vẽ bùa -Chào em như mộng mị thừa thải dâng”, “Trường giang có nhớ em Kiều -Của tôi mơ mộng từ chiều hôm nay”….

Chưa từng theo học trường quy, nhưng thông diễn giải triết gia thi nhân thế giới, nhiều khi thẳng (bằng cách nào??) trong ngôn ngữ xứ người, Pháp, Anh, Đức, Trung văn hán tự. Cái cảnh mà tôi quen biết, Bùi Giáng lang thang hàng tháng mang trên tay quyển truyện đầy thi vị của Gerard de Nerval :”Sylvie, souvenir du Valois”, để luôn luôn dịch lại, để tìm thi ý…Chính qua những chìm đắm “ám ảnh” như vậy, Bùi Giáng đã dần đi tới biết Pháp văn như tiếng mẹ đẻ, dù chỉ viết văn chứ không có cách nào thông thạo lời nói.

Dưới đây, tôi nhớ lại một hôm tình cờ, bên gốc cây mít tại vườn nhà, Bùi Giáng đã viết  theo trí nhớ cho tôi một đoản văn tiếng Pháp : “Adieu au poète” (Vĩnh biệt nhà văn Albert Camus) Một đoản văn xuôi, nhưng chính thật là một bài thơ (un poème en prose). Tôi trình bày để bạn đọc xa gần nhận định thêm về tài nghệ của Bùi Giáng, hơn nữa vì những bạn đọc ở mọi miền khác nhau tôi cũng mạn trình bày với lời dịch ra Anh văn và Việt văn của chính tôi.

Adieu au Poète

De l’homme venu de nulle part, de la Terre grave et souffrante, nous apporter message de son soleil, de ses étoiles éblouissantes, des tendresses profondes et des cruautés dures à soutenir, des vérités du monde rempli de mensonges, mensonges délicieux d’un corps qui se glisse le long d’un amour furtif qui se veut fidèle…

Mais lui aussi s’en est allé. Et personne jamais ne colmatera la brèche ouverte par sa mort.

Il ne reste à présent que silence, le silence désemparé.

Le silence désemparé parmi les ruines, l’écho d’une insurrection harmonieuse, l’étrange musique d’un piano silencieux…

Pour celui qui s’en est allé, quitter le monde signifie aussi dire “Oui” à la tendre indifférence du monde; mais ceux qui restent, seuls dans le tourment de l’histoire, se sont rendus compte de tout ce qu’ils ont perdu par l’absence du compagnon.

Bùi Giáng 1965

Farewell to a poet

He who came from nowhere, from the grave land of sufferings, bringing us message of his sun, of his dazzling stars, of profound tenderness and of cruelties so hard to surmount, truthful facts of the world full of lies, white lies of body gliding into furtive love, striving for faithfulness…

He too had to pass away. And we are left with an open wound by his death.

We are left with silence, helpless silence.

Helpless silence in the ruins, echo of harmonious upheaval, strange sound of silent piano.

For the poet who passed away, leaving the world is to say “yes” to the tender indifference of the world, but those who stay, now by themselves in the turmoil of history, will realize how much they miss the presence of their companion.

Translation of Ngô Văn Tạo

Vĩnh biệt nhà thơ

Anh đã đến từ vô cùng, từ đất khổ, mang cho ta thông điệp của mặt trời, của những vì sao lấp lánh, với tình thương bất tận với vết đau của tội ác, những sự thật của thế giới đầy gian trá, những lời mật ngọt với chiếc thân kiều diễm của mối tình vụng trộm vẫn ước thầm chung thủy…

Nhưng rồi anh cũng phải đi. Trở về cõi chết, để lại cho ta vết thương không thể hàn gắn.

Chỉ còn sự im lặng, sự im lặng vô thường trụ.

Im lặng hoang mang giữa lâu đài đổ vỡ, dư âm hòa điệu của sự trỗi dậy, tiếng nhạc huyền ẩn của cây dương cầm đã gãy…

Anh ra đi, cũng là chấp nhận ”sự hững hờ êm dềm man mác của cuộc đời”*. Nhưng chúng tôi cảm nhận bao nhiêu là mất mát vì anh đã bỏ chúng tôi ở lại đơn côi trong “dòng lịch sử cuồng nộ dị hình”*..

* ngôn từ của Bùi Giáng

Ngô Văn Tao phỏng dịch và góp ý. Như trên theo Bùi Giáng, thi sĩ là kẻ đồng hành của mọi người. Thi sĩ tìm nói lên hết, những hoài bão và những ưu phiền, tình yêu và yếu hèn tội lỗi, mâu thuẫn với chính mình cùng với những thành kiến mang đầy hiểm họa, giữa dòng cuồng nộ của lịch sử, kỳ vọng đạt tới tuyệt đối trong nghệ thuật….

Ngô Văn Tao

Tháng 2/ 2015

IMG_1013

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.