Nhà Bè nước chảy chia hai

TẠP VĂN

 

Nhà Bè Nước Chảy Chia Hai

 Lê Việt Ðiểu 

buoi tan trieu3

Buổi chiều xuống thật thấp, những ngọn đồi trọc bên phía đông còn le lói đôi chút nắng, căn nhà trên đỉnh núi Alum-Rock phản chiếu ánh nắng lấp lánh như mặt gương; bên trời tây, rặng Santa Cruz đậm đặt trên nền trời ngã màu xám in rõ những hàng thông trên bầu trời vào lúc hoàng hôn đang tắt. Tất cả như nối tiếc, như gắng gượng cho hết một ngày. Tất cả, có nghĩa là trong đó có hắn nữa.

Mười Chuối ngồi yên bất động trên chiếc ghế thấp, hai tay chống cằm, điếu thuốc hờ hững trên môi bốc những làn khói nhạt. Dáng mệt mõi đăm chiêu của hắn làm bạn ngồi cạnh ngó vô cũng phát chán đời. Ảnh hỏi:

“Ê! vậy lúc này cha làm gì? công ăn việc làm ra sao? Coi bộ vó của cha nội sao giống thằng thất tình quá sá dzậy?”

Mười chơi cái tình làm thinh, anh bạn chắc cũng chán quá nên phủi đít đứng dậy vô nhà, hắn ngồi mình ên ngó chăm chăm xuống chiếc sân đậu xe dưới nhà. Cảnh vào chiều của mùa Thu sao não nề im vắng. Lá chưa vàng, cây
cối chưa đưa cành trơ cội khẳng khiu, nhưng hình như cũng muốn nhuốm mùi rồi đó. Nhớ lại tuần trước đi Denver, nơi đó đã có dấu vết của mùa thu, và báo hiệu tuyết cũng sắp rơi. Vùng đất gọi là “Color” nên màu sắc nhiều kể gì. Hắn về thăm lại nơi “chôn nhau cắt rún” của cuộc đời tị nạn, thăm mấy ông bà Mỹ già bảo trợ, thăm “đường xưa lối cũ” nơi “Tư Ếch đi Sè-goòng” cả bồ đoàn thê tử dắt díu nhau thê thảm đồng ca bài “ta đi loanh quanh cho đời mõi mệt, chẳng biết nơi đâu là chốn đi về” cả một ngày dài không biết mua cái gì bỏ bụng. Hắn về đó để thấy tình đồng hương nó quý hóa đến mức nào, để nhớ lại tờ giấy xanh 20 của anh bạn trẻ “người Việt mình đó hả” giúp đở cho một người Việt chưa hề “quen” nhưng “đã thân nhau như ruột thịt.”

buoi Tan Trieu1
Hắn cũng về để nhớ lại cái đất Ca li ồn ào nắng ấm, và nhai hoài câu hát “triệu người quen không có một người thân, khi lìa trần không có mấy người đưa” mà buồn thấm thía cho cảnh thế thái nhơn tình. Cũng là về thăm lại nơi lãnh đồng tiền lương đầu tiên, những đồng “đô-la” đầu đời tị nạn bằng cái sức gầy còm ốm đói của một “boat people.” Tất cả những hình ảnh cũ đã gợi cho Mười Chuối liên tưởng đến câu hát

“Nhà Bè nước chảy chia hai.
Ai dzìa Gia Ðịnh, Ðồng Nai thì dzià”

Hắn đang nói “Quê mình có cái chỗ ngã ba sông từ Vũng Tàu vô Sài Gòn trên con sông Lòng Tảo kêu bằng Nhà Bè. Ở chỗ này dòng sông, con nước chia làm hai nhánh, một về miệt Ðồng Nai, một về Gia Ðịnh Sài Gòn. Tuy hai nhánh sông nhưng cùng một giòng nước, có hai ngã rẽ nhưng cùng một lối đi về trên một đất nước Việt Nam. Hai lối rẽ, con số 2 như một dấu chỉ của “âm dương.” Thái cực thì trời đất hỗn mang, mù mịt hổng có đất mà cũng hổng có trời luôn.
Nói gút lại là hổng đầu đuôi gốc ngọn gì ráo. Một mớ rối nùi lộn xộn như mớ xà bần, như tổ quạ, như đống tơ vò.

Con số 2 gọi là lưỡng cực, lưỡng nghi mới sinh ra đời sống. Mới có âm dương, có chồng có vợ, có nghĩa cha con, có tình mẫu tử, có đạo thầy trò, có ngôi thứ trên dưới đầu đuôi rõ ràng dứt vạt.

Tất cả quy về con số 2 mầu nhiệm ấy “Nhứt âm nhứt dương chi đạo giả” mà, phải dzậy hông anh Hai Ðờn Cò, anh Sáu Lục huyền cầm? Anh bạn già của tui, ảnh trở ra kia cà, tay ảnh cầm một dĩa muối ớt đỏ chót, tay kia một rổ ổi còn xanh lè xanh lét. Mèn đét ơi! nhà tui mà sao ổng tự tung tự tác quá sá vậy nè trời. Ổng chưa kịp ngồi xuống, miệng ổng đã nhồm nhoàm lúng búng đầy ổi. Những trái ổi màu xanh vừa mới hái trên câychưa rửa còn những bụi cám trên vỏ. Ổng nói:

“Ổi ở đây kỳ quá, hổng phải ổi như bên mình.”

Hắn cười thiệt to:

“Ðúng quá chớ còn gì nữa, cây nầy giống như cây ổi, trái như trái ổi nhưng không phải là ổi đâu nghen.”

Thân cây của nó cũng có màu vàng nhạt, vỏ cây cũng tróc ra sần sùi giống vỏ cây bằng lăng bên mình; lá thì giống lá sim rừng, bông trắng như bông ổi, trái tròn tròn như con chim se-sẻ nên hắn kêu bằng ổi sẻ, tên thiệt của nó là gì hắn đâu có biết nên thấy mặt đặt tên bậy vậy thôi. Hắn cầm trái ổi miệng nói lảm nhảm nói với chính hắn:

“Nói nào ngay, cái gì bên này cũng hổng giống như bên mình được. Tỉ như cá bông lau nấu nồi canh chua, cho vô đủ bộ nào ngò ôm, bạc hà, thơm khóm, cà chua, đậu bắp, ngò gai… nhưng húp một chút nước thì hình như hổng bằng nồi canh chua nấu ở bên nhà. Ðúng ra thì nó còn thua nồi canh chua bông so đủa nấu cá lòng tong nữa đó. Tỉ như mắm ruột Châu Ðốc đưa vô một miếng, thì cũng hình như mùi mắm hổng được thơm, miếng ruột cá lóc hổng được béo, được bùi như mắm Châu Ðốc thiệt, nó mặn chát mặn kè, nó xảm lơ xảm lốc; tỉ như… tỉ như… mà thôi cứ nói hoài rồi lại mang tiếng nhiều “chiện” “ăn cơm mới nói chuyện cũ.”

buoi Tân Triều2

Ông bạn hắn nhắc:

“Dzô đi cha nội, ngồi hoài thở vắn than dài chắc lại nhớ nhà chớ gì?” Ổng bỗng đổi giọng” Mà nhớ thiệt hén anh Mười, như miếng bưởi trộn gỏi bữa nay đâu có bắt bằng bưởi Biên Hòa, còn miếng nem ở đây đâu ngọt bằng nem Thủ Ðức”

Thôi mặc kệ cho ông bạn nói, hắn hổng thèm nghe. Ðúng mà. Ðất này đâu phải đất mình, quê này đâu phải quê mình nên dù cho ăn ngon mặc đẹp nhưng đâu bằng cuộc đất nghèo nơi chôn nhau cắt rún phải không. Có những người vì tình thế bó buộc phải ra đi, vì cộng sản nó tàn độc quá nên
phải chạy bậy vậy thôi chớ thiệt ra ai ai cũng muốn sống, và gởi tấm thân nơi quê hương bản quán. Hắn kể có anh bạn người Gio Linh, Quảng Trị,kể rằng “Ðất Quảng Trị cày lên sỏi đá, đôi bàn chân của người Quảng Trị cứng hơn đá. Cuộc đời người nông dân quanh năm đi đất và đến mùa còn phải đạp ló nữa, thế mà những đôi bàn chân ấy không hề biết mõi” Ðạp ló là gì, “chân cứng đá mềm” ra sao hắn không rõ. Nhưng rõ có một điều là dù nghèo, dù khổ người đồng hương của bạn hắn vẫn chưa lần nào nghĩ đến “vô miền Tây đất rộng, tôm cá nhiều”
để tìm cuộc đời sung túc. Họ không đi không phải không muốn sướng, họ không đi vì nơi đó còn có mồ mả tổ tiên “Ði rồi thì lấy ai mà nhang khói phụng thờ” Chỉ nhiêu đó thôi cũng đủ cho thấy người mình quí trọng tổ tiên đất nước ông bà lắm.

Lại trở về cái đất Biên Hòa bưởi ngọt. Có ai trên con đường từ Long Khánh trở về Sài Gòn vào mùa hè mà không nhớ những mái chòi nho nhỏ chất đầy cao ngổn nghện những bưởi ơi là bưởi. Những trái bưởi chín vàng (điểm xuyết những cái chấm li ti tròn tròn, trắng trắng) trên suốt một đoạn dài từ Kẽ Sặt cho đến tận Suối Tiên, Thủ Ðức. Những trái bưởi to như trái dừa Xiêm, ngọt ơi là ngọt, nhưng cũng có một tí chua chua, nói đến bây giờ
trong từng kẽ răng còn ứa nước miếng thèm thuồng hết biết. Những trái bưởi trên bàn thờ ông Thiêng làm tăng thêm sự ấm no sung túc. Những mùa hè năm cũ, dân Sài Gòn nam thanh nữ tú đua nhau ra xa lộ Biên Hòa chia nhau miếng bưởi chấm muối ớt. Tay anh cẩn thận lột từng múi bưởi
trắng hồng, đưa tận lên môi cho “em ghé răng cắn vào” mặt em nhăn lại trông thấy mới dễ “ghét” làm sao. Ơ kìa! Em nhăn mặt vì chua hay em đang làm dáng? Ðâu cần biết làm gì phải hông em, chỉ biết bưởi đã chia cho chúng mình kỷ niệm. Từng tia nước ngọt ngọt chua chua từ những tép bưởi trôi dần vào cuống họng cho giọng em ngọt ngào hơn, thánh thót hơn.
nhà bè nuôi cá
Còn bông bưởi thì…? “Trắng như bông bưởi” câu tục ngữ này đủ cho thấy bông bưởi đẹp lắm, trắng lắm và bông
bưởi đã đi vào văn học sử và tình cảm của dân Việt:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.
Nụ tầm xuân nở ra xanh biết,
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay?
Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã lấy chồng,
Như chim ào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra?”

Ờ! Trái bưởi Biên Hòa vỏ có màu vàng, không như bưởi vỏ xanh ở Chợ Lách, Cái Bè. Ở miệt Cái Bè cam ngọt nổi tiếng ấy mà. Nhưng hắn chỉ thích bưởi Biên Hòa thôi. Khi ăn bưởi, không gọi là gọt bưởi, phải gọi là lột bưởi mới đúng. Trái bưởi dưới đôi tay nhà nghề của
các cô bán hàng, cầm dao thoăn thoắt chạy những khía quanh vỏ bưởi những đường khía vừa vặn đủ lột lấy vỏ, nhưng không phạm bên trong. Khi lột xong đưa ra phần ruột bưởi mọng nước thấy thèm. Còn cái vỏ bưởi đối với tuổi thơ, nó là một món đồ chơi. Dùng phần vỏ đội lên dầu như đội nón, lưng cột sợi dây chuối, vai mang thêm hai bên hai cái bẹ chuối là làm vương làm tướng được rồi. Có nhà còn xâu vỏ bưởi thành từng xâu phơi nắng để dành, không biết để làm gì? để làm thuốc chăng? Có một thời gian sau năm 75 người ta đồn nem Thủ
Ðức lấy vỏ bưởi làm “bì” trộn trong nem. không biết đúng sai!? Nhưng dân mình tận dụng mọi thứ, bị tội nghèo sinh chiện vậy thôi, nhưng đâu có chết ai. Ðâu có bằng cộng sản bán “Ðế Quốc Doanh” thuốc rầy uống vô lật gọng, sùi bọt mép? Có câu truyền tụng trong giới lưu linh rằng:” Ðế quốc nào ta cũng đánh thắng, chỉ có thua “Ðế Quốc Doanh.”

Ở Biên Hòa có bưởi, và Biên Hòa còn có cù lao Phố, nơi có ông Thủ Huồng, người đã lập ra cái nhà bè trên ngã ba sông Lòng Tảo. Chuyện kể rằng có ông ta tên Võ Thủ Hoằng, một tay giàu có nổi tiếng ở cù lao Phố, ông giàu nhờ vào cho vay cắt cổ, một vốn là bốn lời nên tiền của không biết để đâu cho hết. Ông gian ác nhưng ông còn biết sợ Trời, sợ Phật. Ngày nọ ông đi đồng thiếp xuống âm phủ để xem sổ bộ của mình. Nơi điện Diêm La
dưới địa ngục, ông Thủ Hoằng trông thấy tên mình đã sẵn, và nơi đó cũng đã sẵn một chiếc gông to tổ chảng chờ ông. Ông hỏi ra thì biết tại mình lường cân tráo đấu, ăn lời cắt cổ tạo nghiệp đã nhiều và sổ Bắc Ðẩu đã dành sẵn cho ông những gì ông đã tạo trên trần thế. Hoảng quá Thủ Hoằng về nhà lo ra công bố thí, xuất của trong lẫm, trong kho ra cúng dường trai tăng, bá tánh. Ông xây chùa, làm cầu, đắp đường.

Nhân một hôm đi qua chỗ ngã ba sông Lòng Tảo, nơi này ngày xưa vắng vẻ ít dân cư như bây giờ, không có chợ búa nên ông Thủ Hoằng cho làm một căn nhà trên một cái bè nổi (Nên tên gọi Nhà Bè) giữa ngã ba sông cho khách thương hồ tá túc khi lỡ độ đường. Từ ngày ông làm phước thiện
để trả nợ xưa, dân chúng qua lại nơi đây nhớ ơn ông và đặt tên cho nơi đó là Nhà Bè. Hiện nay tại cù lao Phố
còn có đền thờ Thủ Hoằng.

Biên Hòa còn có cầu Gành, có ngã ba Vườn Mít, có Tam Hiệp với hàng dãy quán “Hạ cờ tây”, chắc rằng dân “lưu linh” hổng thể quên. Ở Biên Hòa còn có núi Châu Thới, một ngọn núi chơ vơ giữa đồng bằng cũng là nơi chốn hẹn hò của những cặp tình nhân. Có Long Thành với những vườn
cây sầu riêng, tuy không bằng Lái Thiêu, nhưng đi Vũng Tàu về không ghé qua Long Thành nghỉ chơn, tiện thể xách bậy vài ba trái cũng là điều thiếu sót. Ở Long Thành có một lần được ăn một món đồng quê tuyệt hảo: Canh chua gà nấu với lá giang cũng ngộ lắm. Lá giang thân cỏ mọc bò
tràn lan trên những bờ rào, bụi cây, lá hình trái tim như rau giấp cá, vị chua chua, ăn sống cũng ngon. Nghe đâu rằng bên Ðức Tu có món cá chẽm nấu lá giang nhưng chưa nếm thử, nên hổng biết mùi.

Những ý nghĩ lung tung, chạy lòng vòng trong đầu làm hắn ngẫn ngơ như thể thất tình. Ông bạn già bên cạnh vẫn còn nhai nhồm nhoàm trái ổi, ăn ghém thêm mấy đủa gỏi bưởi trộn. Ổng phán:

“Bưởi phải trộn con đuông, hay con nhộng tằm mới bắt. Con tằm nhả tơ làm kén, khi luộc tơ con tằm chết ngắt, cho ra con nhộng có màu vàng sẫm, béo ngậy, đem thứ này trộn với bưởi Biên Hòa. Bưởi chua chua, ngọt ngọt; tằm béo béo, bùi bùi xúc bánh tráng chỉ có nước ngậm mà nghe.”

Ổng vừa kể vừa ra bộ. Tay xúc miệng nhai “hàm thụ”sao mà sảng khoái, làm hắn bắt thèm lây. Hắn nói:

“Thôi kệ, ráng vài năm nữa “Còn trời còn đất còn non nước. Không lẽ ta đâu mãi thế này.” Rồi cũng có một ngày, lưng dựa gốc cây, tay cầm chung rượu miệng cười móm mém, nhìn con đàn cháu đống tung tăng trong khu vườn năm ba công đất. Lúc đó mặc sức phủ phê.”

Buổi chiều đã đi vào bóng tối. Căn phòng nhá nhem, dưới kia trong tầm mắt thành phố đã lên đèn, hắn bỏ mặc ông bạn ngồi nhâm nhi, hắn bật ngữa người ra nhắm mắt.

“Nhà Bè nước chảy chia hai,
Ai về Gia Ðịnh, Ðồng Nai thì về.”

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.