Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp

ĐỌC

truyenngandai

TƯỚNG VỀ HƯU

Tướng về hưu

Nguyễn Huy Thiệp

NGUYỄN HUY THIỆP

    • Tướng về hưulần đầu được in trên tuần báo Văn Nghệ số 20 /6/1987 của Hội Nhà văn Việt Nam. Nó lập tức trở thành một hiện tượng văn học và được nhà xuất bản Trẻ tuyển chọn in trong tập truyện ngắn với tựa đềTướng về hưu. Nhà xuất bản Văn hoá, năm 1989 cũng cho ra một tập gồm 11 truyện lấy tên là Những ngọn gió Hua Tát… Tuy mới xuất hiện nhưng Tướng về hưu được xem như một truyện ngắn đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp. Nó chẳng những góp phần định hình phong cách của anh mà còn mở ra một thời kỳ mới cho nền văn học Việt Nam, đoạn tuyệt với quá khứ, viết “…lời ai điếu cho một thời văn nghệ minh hoạ” (Nguyễn Minh Châu), đưa văn chương trở về đúng với bản chất của nó.
    • Vì là tác phẩm có tính cách khai phá, lại hàm chứa nhiều dữ kiện thông tin trong mối tương quan đa chiều với những hằng số lịch sử, nên, cho dù đã hai mươi năm trôi qua, đến nay, đọc lại vẫn còn khá nhiều vấn đề cần phải bàn. Có thể nói, Tướng về hưumang dung lượng một tiểu thuyết được tác giả “nén” lại trong 20 trang nên khiến nó tiềm tàng một nội lực có khả năng công phá như một trái bom nghệ thuật, mang đến cho người đọc những nhận thức không giống nhau, thậm chí trái ngược nhau. Một vài nhà phê bình còn cho rằng Nguyễn Huy Thiệp chơi trò phù thủy. Anh thả “âm binh” vào giữa những dòng chữ, và chính những “âm binh” này đã giúp ông thầy cao tay ấn “sục tung (bùn) lên, thoát thành bướm và hoa“(Lời ông Tân Dân trong Giọt máu).
    • Không còn nghi ngờ gì nữa, Tướng về hưu là tác phẩm văn học mang tầm tư tưởng thời đại. Đây là chuyện khá hiếm trong làng văn kể từ sau năm 1945, bởi trong mấy chục năm trước đó, trên văn đàn, công chúng chỉ được đọc những tác phẩm làng nhàng, vụn vặt, (cho dù có bộ tiểu thuyết dày đến vài ngàn trang), chủ yếu là thứ văn chương minh hoạ một cách thô thiển, sống sượng hoặc là loại vô thưởng vô phạt mang đậm chất thù tạc lúc trà dư tửu hậu mà vắng bóng sự khám phá có tầm cỡ nhân loại.
    • Phong cách viết truyện của Nguyễn Huy Thiệp gần giống với cách bố cục của người họa sỹ tài ba là xếp đặt những mảng, những khối khác nhau bên cạnh nhau theo một trật tự bí mật nào đó mà không bình luận, cứ để tự nó nói lên phẩm chất của mình thông qua sự tương phản .Những đoạn kể  hoặc tả  của anh vô cùng ngắn gọn, tiết kiệm từ đến mức tối đa, nhưng đó là thứ ngôn ngữ chắt lọc vừa  lạnh vừa khinh bạc, chủ yếu là gợi, tạo nên một lực hấp dẫn làm người đọc vừa say mê vừa choáng váng, đồng thời lại có cảm giác “như mình vừa bị chửi“(Nguyễn Văn Lưu).
    • Kết cấu của Tướng về hưulà kết cấu xâu chuỗi, theo trình tự thời gian tuyến tính của kiểu bố cục truyện dân gian, nghĩa là rất cổ điển. Các mảng khối liên kết với nhau ở phần chìm tạo nên thứ phản ứng dây chuyền làm các hình tượng nghệ thuật bộc phát với năng lượng vô cùng lớn, “bắn phá” vào tâm thức người đọc, gây nên những cú sốc bất khả kháng. Kiểu chuyển hoá thông điệp nghệ thuật nội tại bằng những liên kết đa chiều này trước Nguyễn Huy Thiệp ít có tác giả làm được. Nó là một mắt xích quan trọng làm nên tính tư tưởng cũng như giá trị nhận thức của tác phẩm, tạo thành một không gian nghệ thuật với nhiều tầng, nhiều vỉa đan xen nhau thông qua một kỹ thuật “nén” thông tin điêu luyện.
    • Dễ dàng nhận thấy là phần lớn các nhân vật trong Tướng về hưuđều cô đơn. Đó là sự cô đơn tinh thần, tâm lý, thậm chí cả ý thức hệ. Những người sống trong ngôi biệt thự khá sang trọng vào cuối những năm tám  mươi của thế kỷ trước, về đời sống vật chất không đến nỗi nào nhưng họ không hoà nhập được vào cuộc sống chung mà mỗi người là một thế giới riêng. Điều này dẫn đến hệ quả là, tuy có mối quan hệ ruột thịt nhưng họ lại nhìn nhau như những kẻ xa lạ. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng cái chính là cái gọi là gia đình ấy sống trong một không gian tù túng, bế tắc. Những mâu thuẫn xã hội được thời gian tích tụ tạo nên sự trầm uất, bắt buộc mỗi cá thể phải tự chịu đựng, giống như người mắc chứng ung thư phủ tạng, lúc nào cũng bứt dứt khó chịu, làm các mối quan hệ và cách thức ứng xử trở thành gượng gạo, khiên cưỡng, đôi khi giả dối. Mỗi thân phận cô đơn ở đây giống như một lát cắt ngẫu nhiên mang tính quy luật, trong đó thấp thoáng bóng dáng cuộc sống được ẩn dụ như là sự phản chiếu của một tương lai được nhà văn dự phóng tổng quát dưới dạng những bi kịch, hài kịch và cả chính kịch. Nhân vật kỹ sư Thuần, ở phần dẫn chuyện từng nói, viết truyện này, “là sự bênh vực của tôi đối với cha mình“. Đấy chỉ là một cách nói. Trên thực tế, anh ta đã đưa vị tướng già lên bàn “giải phẫu tâm lý”. Tất cả những gì được xem là phần “nội tạng” của bậc anh hùng chiến trận đều phơi ra tước bàn dân thiên hạ. Hoá ra, cái sự được gọi là anh hùng ấy cũng có những cung bậc của nó. Nó không chỉ có cao cả mà cũng thấp thoáng chút thấp hèn. Nó vừa minh bạch vừa mờ ám, vừa thẳng tuột vừa quanh co trong một khối hỗn độn đầy mâu thuẫn.
    • Đọc Tướng về hưu, không ít người ngộ nhận, xem tướng Thuấn là biểu tượng của một thời oanh liệt, về hưu không theo kịp với nhịp sống hiện đại, bị lạc lõng trước cuộc sống bộn bề, phức tạp, nhố nhăng trong một xã hội đang chuyển mình từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Câu nói “Sao tôi cứ như lạc loài” dường như chứng minh cho nhận định trên. Quan điểm ấy không sai nhưng tầm thường, chưa bắt đúng mạch tư tưởng của thiên truyện. Thực ra, cái làm nên hình tượng tướng Thuấn chính là hệ ý thức. Ông là sản phẩm của chiến tranh, ra đời trong bối cảnh lịch sử dân tộc không bình thường. (Bỏ nhà đi bộ đội từ năm mười hai tuổi vì bị bà mẹ kế đối xử cay nghiệt). Đây có lẽ cũng là động cơ của gần như cả một thế hệ thanh thiếu niên nông thôn Việt nam dưới thời Pháp thuộc). Họ bước vào cuộc chiến, lúc đầu dường như chưa phải là lòng yêu nước như một số nhà phê bình minh định mà phần lớn vì miếng cơm manh áo, vì sự an toàn bản thân sau những xung đột gia đình. Sau nhiều năm cầm súng đánh nhau, lại qua nhiều đợt rèn quân chỉnh cán, nhất là thời kỳ ôn nghèo kể khổ, tố cáo tội ác địa chủ, cường hào, hệ ý thức dần dần hình thành, đã tạo nên một nhân cách sống. Đồng hành với hệ ý thức là tư duy chiến tranh. Người lính coi chiến đấu với kẻ thù là lẽ sống. Kiểu tư duy này đương nhiên trở thành một trạng thái tâm lý, hằn sâu thành đường rãnh trong não bộ đến mức coi đó là chân lý phổ biến. Tướng Thuấn là sản phẩm của hệ ý thức đương đại nhưng đồng thời cũng là di sản của lịch sử dân tộc. Qua các triều đại phong kiến, trừ trường hợp Nguyễn Trãi, còn hầu hết những bậc được coi là minh quân, lương tướng đều giải quyết các xung đột lân bang trên chiến trường, từ đó dẫn đến tâm lý suy tôn những vị anh hùng chiến trận hơn là những nhà văn hoá lỗi lạc của dân tộc. Chính vì thế mới có chuyện “Cả ở trong họ, trong làng, tên tuổi của cha tôi cũng được mọi người ngưỡng vọng“, hoặc “Cha là tướng. Về hưu cha vẫn là tướng. Cha chỉ huy. Cha mà làm lính thì sẽ loạn cờ“. Thói quen này có yếu tố di truyền, được tích hợp qua vô vàn cuộc chiến mà người ta lấy làm tiêu chuẩn định giá phẩm chất con người.
    • Do lấy chiến tranh (kể cả nội chiến và chiến tranh chống ngoại xâm) làm mẫu số chung nên mọi hành vi của mỗi thành viên cũng như của cộng đồng đều được quy chiếu vào đó, làm nảy sinh một hiện tượng không bình thường, đó là thứ tư duy và hành động mang tính đại khái,  tạm bợ. Những việc lớn trong cuộc đời con người lẽ ra phải được đắn đo, cân nhắc kỹ lưỡng để loại trừ những sai lầm rất dễ xảy ra thì lại tiến hành một cách vội vã vì phải tuân theo nếp sống thời chiến. Tướng Thuấn lấy vợ trong  kỳ nghỉ phép ngắn ngủi do nghĩa vụ với tổ tiên và dòng họ hơn là tình yêu. Việc làm nhà đối với ông cũng chỉ là thứ yếu, đến nỗi người con trai tuy rất kính nể bố cũng phải nói: “Đấy là một ngôi biệt thự đẹp nhưng khá bất tiện. Tôi xây cất dựa theo thiết kế của một chuyên gia kiến trúc trứ danh, bạn của cha tôi, ông này là đại tá, chỉ thạo việc xây doanh trại”. Bóng ma chiến tranh cứ lởn vởn trong tâm thức. Nó mới chính là thứ luật bất thành văn quy định cách ứng xử, hành vi cũng như các mối quan hệ thay vì những giá trị mà ta vẫn gán cho nó là truyền thống, bản sắc nhưng thực chất chỉ là những giá trị ảo.
    • Những dự cảm của tác giả về khối mâu thuẫn và những bi kịch trong gia đình tướng Thuấn gắn liền với những biến động xã hội đương thời. Chi tiết viên cựu tư lệnh vừa khóc vừa cầm phích đá đựng thai nhi ném vào đàn chó béc giê : “Khốn nạn! Tao không cần sự giầu có này!” là ngọn roi quất vào niềm kiêu hãnh, phản ánh sự đổ vỡ trong nhân sinh quan người cựu chiến binh. Đó có phải là một điềm báo ứng theo quy luật nhân quả ? Lúc này tình cảm đã lấn át lý trí, ông ta không nhận ra (hay cố tình không nhận ra), chính những bào thai sau khi được nạo phá ấy đã góp phần làm cho ông và con cháu ông có được cuộc sống sung túc, trong khi bàn dân thiên hạ vẫn còn đang phải mòn mỏi xếp hàng thành những dãy dài, để chờ các cô mậu dịch viên đầy quyền uy ban phát cho từng cân gạo mốc. Đọc đến đây, chắc sẽ có người thoáng nghĩ, cái hàm thiếu tướng và thâm niên ngót sáu mươi năm cầm súng lẽ nào chỉ là một thứ hư danh? Lại một nghịch lý nảy sinh. Những vị anh hùng cả đời gắn với súng đạn khó có thể sống hoà hợp với nền kinh tế thị trường, cho dù ở thời kỳ sơ khai còn mang đậm chất rừng rú. Nếu vì một lý do nào đó, buộc phải “chung voi với đức ông“, tất yếu sẽ dẫn đến một thứ bi hài kịch bởi “món nộm suồng sã” như lời nhân vật Phăng nói với vua Gia Long trong truyện ngắn Vàng lửa.
    • Ta phải thừa nhận, tướng Thuấn là người độ lượng và có lòng nhân tuy trong đời ông đã từng chôn cất ba nghìn người. Ông từng chia đều vải lính cho cả nhà, muốn dọn xuống nhà ngang ở với bà vợ già mất trí nhớ, cho tiền cha con ông Cơ về Thanh Hoá xây mộ, băn khoăn khi nhìn thấy họ lao động vất vả trong khi cô con dâu lại có phong cách bà chủ, còn anh con trai thản nhiên ngồi hút thuốc Galan. Nhưng xét đến cùng, đó chỉ là thứ lòng nhân nhỏ, không giúp gì được đám dân nghèo thấp cổ bé họng luôn bị đủ các thứ “nghĩa vụ công dân” tròng lên đầu lên cổ. Nó là sản phẩm của nghệ thuật tuyên truyền hơn là sự thức tỉnh lương tâm. Tướng Thuấn không có viễn kiến. Ông chỉ nhìn thấy những thân phận đơn lẻ mà quên đi số phận của cả một dân tộc. Câu hỏi khá ngộ nghĩnh của đứa cháu nội “Đường ra trận mùa này đẹp lắmcó phải không ông?”, đã phần nào chứng minh, guồng máy chiến tranh đã biến tâm lý con người thành bạn đồng hành, thành niềm khoái lạc, một cảm hứng bệnh hoạn nhưng lại được đẩy lên ở cấp độ nhận thức lý tính.  Ai biết được ba nghìn người lính “bất đắc kỳ tử” mà vị tư lệnh đã tiễn đưa sang thế giới bên kia nghĩ gì về những cuộc chiến tranh liên miên trong mấy thập kỷ qua? Nhưng có điều chắc chắn, câu thành ngữ “nhất tướng công thành vạn cốt khô” đúng hơn bao giờ hết trong trường hợp này. Bi kịch của dân tộc từ mấy nghìn năm qua liệu có phải xuất phát từ trạng thái tâm lý như tướng Thuấn ?
    • Sự cô đơn của tướng Thuấn  một phần có thể bắt nguồn từ nỗi buồn nhớ một cái gì đã thuộc về quá khứ nằm trong chuỗi ẩn số của  dân tộc với những khuyết tật về tâm lý mà ông là đại biểu. Như cá bị tách ra khỏi nước, xa môi trường quen thuộc, ông trở thành cô đơn trong chính ngôi nhà mình. Viên tướng từng hỏi con trai khi mới hồi hưu : “Nghỉ rồi cha làm gì?”. Thuần khuyên bố viết hồi ký nhưng ông từ chối, còn Thuỷ gợi ý : “Cha nuôi vẹt xem” thì bị phản ứng ngay: “Kiếm tiền à?“. Rõ ràng vị cựu tư lệnh dị ứng với tiền cho dù đồng tiền làm ra hoàn toàn lương thiện, chứng tỏ một tâm lý sống phụ thuộc, bình quân chủ nghĩa. Đó là thói quen xếp hàng nhận thứ tiêu chuẩn tối thiểu để duy trì sự tồn tại cũng ở mức tối thiểu. Nói chung, lớp người như tướng Thuấn đã ra khỏi cuộc chiến nhưng tâm lý vẫn còn gắn liền với súng đạn như lời Thuần kể: “Cha tôi sụp hẳn đi từ khi về hưuHôm nay cầm thư, thấy ông nhanh nhẹn và trẻ trung hẳn”. Để thoát khỏi nỗi cô đơn “Sao tôi cứ như lạc loài“, ông háo hức trở lại đơn vị cũ. Và, “sinh ư nghệ, tử ư nghệ“, ông “hy sinh” trên đường lên chốt biên giới. Sự ra đi của tướng Thuấn có một cái gì bi tráng của người anh hùng “đánh đông dẹp bắc” ngày xưa, nhưng cũng thật đáng buồn là ông lại chết bởi chính viên đạn của người anh em “môi hở răng lạnh” cùng ý thức hệ, đã  từng có thời “chung một chiến hào”.
    • Có thể xem tướng Thuấn là hình ảnh phản chiếu của tâm lý dân tộc. Ông vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân của những bi kịch kéo dài cả thiên niên kỷ. Ông là một trong những giá trị vừa hùng tráng vừa bệnh hoạn. Nhìn vào ông người ta có thể thấy những khúc quanh và cả những góc khuất lịch sử. Nó gợi lên trong ký ức ta nỗi buồn đau nhưng cũng rất đáng tự hào. Vì lẽ đó ta không thể không trân trọng phẩm cách của ông.
  • Chí Linh, 05 /7 /2007
    Đ.V.S
  • XEM PHIM “TƯỚNG VỀ HƯU “
  • (1988)
  • Tướng về hưu
  • “Tướng về hưu” ra đời năm 1988, được chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, kịch bản phim cũng do ông chắp bút. Như Alfred Hitchcock từng nói: “Một bộ phim hay tạo nên bởi ba yếu tố: kịch bản hay, kịch bản hay và kịch bản hay”. “Tướng về hưu” chính là một minh chứng.
  • Tác phẩm xoay quanh nhân vật trung tâm là tướng Thuấn và những bi hài kịch trong một năm ông về hưu đến lúc ông qua đời trong chính ngôi nhà khang trang của mình. Mở đầu phim là trackshot theo chiếc xe jeep đưa tướng Thuấn về quê trên cây cầu sắt rồi khung cảnh làng quê, chẳng phải đồng ruộng mà đã là những nhà và nhà, và điểm đỗ cuối cùng, chiếc cổng làng nặng trịch dần hiện ra. Trong lúc mọi người dỡ đồ, tướng Thuấn hồ hởi dẫn mọi người vào nhà, nơi nhốt những con chó hung tợn, sủa vang, nhe nanh và chẳng hề thân thiện chút nào. Sau phân đoạn ngắn đó, tên phim mới được giới thiệu. Có thể nói đó là những cảnh chuẩn bị tâm thế cho khán giả khá tốt, qua đó ta có một ấn tượng ban đầu về cái thế giới mà ông tướng này sắp bước vào: những thanh sắt cây cầu như những báo hiệu một cuộc sống mới sắp sửa giam cầm một vị tướng cả đời tung hoành trong quân ngũ; cuộc sống ấy chẳng thi vị, cũng chẳng đổ máu, nhưng cũng  là một cuộc chiến dữ dội và cần nhiều can đảm hơn là những kinh nghiệm chiến trường để tranh đấu với nó.
  • Phải nói là đạo diễn Nguyễn Khắc Lợi đã quá tài tình trong việc tạo dựng và giữ không khí trong cả bộ phim. Phủ lên toàn bộ tác phẩm là một không khí tù đọng, đau thương và buồn bã gặm nhấm con tim; không gian bị giới hạn chủ yếu trong ngôi nhà bề thế của tướng Thuấn và các con, thêm vài cảnh mở rộng ra đến cổng làng. Các góc máy rất hẹp, và cảnh quay lại chủ yếu cảnh chật, các cảnh quay gián tiếp qua song cửa.. Nhân vật gần như bị giam giữa những bức tường, và sau chiếc cổng làng tạo cảm giác bức bối và ngột ngạt, ta có thể dễ dàng đồng cảm với một ông tướng đã xông pha trận mạc như đã bị cùm chân trong một gia đình mình làm chủ mà lại như người thừa. Cảnh duy nhất có không gian mở rộng là những liên tưởng đầy hứng khởi của tướng Thuấn về quãng thời gian trong quân ngũ với những bước chân vui vẻ trong công viên, góc máy thấp quay từ dưới lên khiến nhân vật đẹp hơn bao giờ hết; nhưng rốt cuộc đó cũng chỉ là ảo ảnh chẳng thể nào cứu vãn nổi nỗi đau cuộc đời thực.
  • Việc sắp xếp chi tiết cũng rất quan trọng, nó khiến câu chuyện trở nên mạch lạc, rõ ràng (khác với truyện ngắn, là những sự việc rời rạc được con trai ông Thuấn ghi chép lại) và cũng thể hiện rõ ý đồ của tác giả. Trong phim có ba “bữa tiệc”: tiệc mừng ông Thuấn trở về, tiệc cưới của con trai lão Bổng và đám tang của bà cụ vợ ông Thuấn. Với cả ba “bữa tiệc”, dường như tác giả đã cố ý làm lộ chân tướng của các nhân vật trong phim: một tướng Thuấn đĩnh đạc, nhưng lạc lõng giữa khung cảnh những người là người ồn ã, lộn xộn; một anh con trai cả bất lực, lơ đễnh, đặt hết quyền lực trong tay vợ; một lão Bổng gian xảo, cơ hội, chỉ chực lợi dụng để moi tiền; một Tuân, lưu manh, mất dạy, sẵn sàng cầm dao đuổi đánh bố đẻ mình; vợ ông tướng, điên mà tỉnh, như một nạn nhân uất ức muốn đáp trả nhưng lại bất lực và bị chính cái hiện thực điên rồ ấy giết chết; bố con ông Cơ, cô Lài, người làm thuê ăn nhờ ở đậu thì cun cút, cúi mặt xuống làm hết những việc được sai bảo, chịu khó nhưng còn bị chèn ép, sai bảo hơn cả lũ chó được chăm bẵm, xay thịt cho ăn ở nhà này! Và Thuỷ, tính toán, vô luân, đã mất hết những lương tri bản năng nhất.. Những “bữa tiệc” ấy bị hạn chế trong không gian rất hẹp: sân nhà, trong phòng.. khiến cho nó đã lộn xộn, ồn ào lại càng lộn xộn, ầm ĩ hơn; có cảm giác ông Thuấn như càng ngày càng bị cái khung cảnh đó ép lại đến ngộp thở, không thể nào thoát ra. Đó giống như một thế giới đảo điên mà ông chưa hề chuẩn bị tinh thần trước đã vô tình tự bước chân vào nhưng không thể nào thoát ra. Ba “bữa tiệc” được gài cắm rải rác trong phim và theo mức độ tăng dần của cái sự “điên loạn”, đặt ở điểm nhìn khách quan, ta có thể rùng mình, vì bị cuốn đi theo cách quay, cách chọn chi tiết của các nhà làm phim; song ở một phương diện khác, ta không khỏi đồng cảm với ông tướng rằng: sao mà nó đúng thế! Chẳng lẽ trong đời ta chưa gặp những lão Bổng, ông Cơ cô Lài, những Thuỷ ấy,.. và cố nhiên những “bữa tiệc” hội hè liên miên tập hợp đủ các thành phần “dị hợm” khiến ta lạc loài và cô đơn hơn bao giờ hết!
  • Một yếu tố rất thành công khác của “Tướng về hưu” chính là quay phim. Góc máy chuyển linh hoạt từ điểm nhìn khách quan đến điểm nhìn chủ quan của nhân vật trung tâm, các đoạn tạo hiệu ứng rất thành công như ở cuối phim, khi cô Lài lầm lũi từ biệt tướng Thuấn, khung hình bị chao đảo dần, rồi đảo ngược 180 độ; hay như đoạn ông đi thăm mộ vợ: “Cuộc đời này đã thay đổi hay là người lính trong tôi đã già?”. Hình ảnh bị nhoè mờ đi, chia thành ba phần trong khuôn hình như một ảo ảnh, một ảo tưởng đã tan vỡ trong chính nhân vật, khi mà chính những hồi tưởng huy hoàng về chiến trường đã không còn có thể cứu vãn nổi. Đỉnh điểm chính là cái chết của ông tướng. Các khuôn hình cận thi nhau nối tiếp, nỗi tuyệt vọng đã đẩy lên cao độ, trong những nỗ lực vô vọng cuối cùng nhằm chạy trốn khỏi hiện thực phũ phàng và độc ác ấy, ông Thuấn loạng choạng bước lên cầu thang và đó chính là lúc cái chết bất ngờ đến với con người ngạo nghễ ấy: chết ngược, đầu chúi xuống đất. Đây là một cách xử lý đầy tinh tế và kỹ lưỡng của tác giả, khác với trong truyện là ông Thuấn chết ngoài chiến trận, nó cho thấy sự đi xuống của nhân tính và cái gọi là nền tảng đạo đức đã hoàn toàn bị đánh bại một cách bất lực trước sự đổi thay toàn diện của thời đại mới, giả dối và tàn bạo. Cách xử lý ánh sáng cũng rất khéo, sử dụng đèn nhiều, làm bật lên các hình tượng trong phim, nhất là cảnh cuối làm bật lên hình ảnh chiếc máy xay ghê rợn, xay ra nhung nhúc những máu và thịt tươi, nó là biến tướng của chiếc cối xay khổng lồ nghiền nát đạo đức, nhân cách con người, cho chó gặm.
  • So sánh với truyện, phim đã thực sự thành công trong việc nắm bắt và thể hiện không khí của truyện, việc chuyển điểm nhìn từ người con trai cả như trong truyện sang ông tướng Thuấn như trong phim khiến cho tác phẩm sáng rõ hơn và dường như phũ phàng hơn. Khán giả gần như bị đồng cảm với nhân vật, bị shock với sự thật của cuộc sống mới hào nhoáng kia cứ nối tiếp nhau ngồn ngộn phơi bày trước mắt mà không sao né tránh được. Đọc truyện ngắn “Tướng về hưu” ta như được thưởng thức một tác phẩm độc lập, gần như một bộ ảnh rời rạc mà người chụp chỉ bâng quơ lắp chỗ này, ghép chỗ kia để thành “truyện”, truyện về một thế giới con người mà con người đã tan rã, nơi đó chỉ là những hiện tại riêng lẻ, không kỉ niệm, không tương lai, không sợi dây kết nối giữa hiện tại, quá khứ, tương lai, không mong ước, không hi vọng.. Thế giới đó hoàn toàn là một đời người được thu gọn vào một bản kê khai lý lịch khách quan với những chú thích đầy chi tiết. Khác với truyện, thế giới trong phim có sự liên kết, đó là những chi tiết liên quan chặt chẽ và có sự tăng tiến trong mức độ phũ phàng của hiện thực đối với ông tướng. Càng dấn thân càng không có lối thoát. Các tình tiết trong truyện gần như đều được giữ nguyên nhưng đã có sự sắp xếp có chủ đích trở thành một câu chuyện có nhân vật trung tâm rõ ràng và dễ tiếp cận hơn với khán giả. Sự thay đổi hay thêm một vài chi tiết như những cảnh ngoại tình của Thuỷ, những cảnh về bà vợ nửa điên nửa tỉnh của tướng Thuấn, chi tiết tướng Thuấn cho bố con ông Cơ về quê khác với trong truyện là cùng họ về quê lo việc giúp khắc hoạ rõ nét hơn hình tượng nhân vật: ông ta muốn giải phóng tầng lớp dưới của xã hội một cách hào phóng vẫn với tư tưởng của một nhà Cách mạng, nhưng rốt cuộc lại bị chính cái hiện thực đó cự tuyệt, khi gặp lại Lài: “Cháu cảm ơn ông, ông rất tốt nhưng cuộc đời không như ông tưởng đâu.” Đó là một đòn chí mạng cùng thêm một chi tiết được gài cắm là Thuỷ nhận hối lộ và bị người ta đến chửi bới, đòi tiền. Phải, ông vẫn nghĩ ông là một ông tướng có thể ban phát tình thương và sự giúp đỡ nhưng trong cái thế giới mà đồng tiền đã lên đến vị trí độc tôn thì cái chức “tướng” đó có thực sự còn nữa không, hay chỉ là một danh xưng hão huyền? Chính những cú shock liên tiếp đó đã trực tiếp dẫn đến cái chết ngược của tướng Thuấn, một cái chết đáng thương, một cái chết thảm hại của một vị tướng luôn luôn thắng trận trên chiến trường nhưng lại thua ngay trong cuộc chiến âm thầm mà gay gắt diễn ra trong chính gia đình mình. Có thể nói việc đưa tướng Thuấn về chết trong nhà khác với nguyên bản chết ngoài mặt trận đã khiến mọi bi kịch trong phim bị đẩy lên cùng cực, cái hiện thực độc ác và lạnh lùng ấy chẳng từ một ai và ông Thuấn cũng chỉ là một cá nhân đơn lẻ, một thành luỹ yếu ớt của lối sống cũ, cuối cùng cũng bị gạt phăng, và sau cái chết đó, mọi chuyện diễn ra bình thường, bán chó thì mua chó khác, không có người giúp việc này thì thuê người khác, chẳng có gì thay đổi.
  • Hình tượng ông tướng Thuấn là trung tâm của câu chuyện trong truyện ngắn cũng như trong phim, dù trong truyện ngắn hình tượng này được khắc hoạ gián tiếp qua lời kể của người con trai cả và trong phim thì lại được thể hiện trực tiếp qua lăng kính chủ quan của nhân vật. Bi kịch của tướng Thuấn đồng nhất với bi kịch của những người trở về từ chiến trường trong những năm tháng chuyển đổi kinh tế thị trường, họ hứng khởi mong muốn được góp sức lực xây dựng cuộc sống mới nhưng lại bị dội gáo nước lạnh, nhiều người trong số họ không còn đủ sức chống trọi với cơn bão thời cuộc, tướng Thuấn chính là một trong số đó. Tôi đã đọc được ở đâu đó rằng những người sống cả đời ở quân ngũ, khi trở về với cuộc sống bên ngoài thì tuổi sống thực của họ thật ra mới chỉ mười sáu tuổi mà thôi. Họ nhìn đời bằng con mắt ngây thơ, hoà hứng như khi họ ghi tên đi lính, với mọi tư tưởng đã bị lý tưởng hoá bởi chiến tranh. Mà đối với một người đã ở một vị trí cao như tướng Thuấn, việc chấp nhận hiện thực lại càng trở nên khó khăn hơn: Hoá ra cái cuộc sống hoà bình mà mình cùng đồng đội mới giành lại ấy lại chẳng qua cũng là một cuộc chiến khác mà mình phải bước vào mà thôi. Qua nhân vật này dường như các tác giả đã gửi gắm một sự thương hại thầm kín, xen lẫn chút giễu nại sâu cay: tướng Thuấn cũng như bao người lính khác, hay những con người của hệ tư tưởng cũ, họ đã trở nên khô cứng và già cỗi, không thể tiếp nhận nổi những cái quá mới, quá khác của thời đại ngày một đổi thay; để tự bảo vệ họ trốn trong vỏ bọc đạo đức đã sắp bị xói mòn, cái ảo tưởng về một quá khứ đẹp đẽ những tưởng giúp ông tướng ấy có thể ngẩng cao đầu tự hào đi ngoài phố ngắm nhìn hoà bình ươm mầm trong cuộc sống mới hạnh phúc. Tiếc thay, sự thật vẫn là sự thật, nó trần trụi và đau đớn, xô ngã Kẻ lạc loài ra khỏi những ảo ảnh an toàn mà trở lại với thế giới tha hoá đến phát rồ, phát dại. Tự cách ly bản thân khỏi thực tế mà khăng khăng giữ lấy cái huy hoàng trong tâm tưởng đã khiến tướng Thuấn trở nên lạc lõng, mất phương hướng và không thể tìm thấy chính mình, cô đơn giữa chính những người thân của mình. Cuối cùng, cái chết là một sự giải thoát mà dưới góc độ người xem, có vẻ như là khá bi quan của các tác giả song đó lại thật. Nhưng một cái chết trong cái “cũ”, trong trận mạc như truyện miêu tả và một cái chết giữa bủa vây của cái “mới” tàn khốc, cái chết trong phim thuyết phục được tôi hơn và cũng giúp chủ đề bật lên; khắc sâu hơn cái hố sâu cùng cực giữa “xưa” và “nay”, cái bi kịch mà xã hội nào dường như cũng có.
  • Trái ngược hoàn toàn với hình tượng tướng Thuấn, nhân vật Thuỷ chính là đại diện cho một thế hệ mới, một cách suy nghĩ rất mới trong thời buổi chuyển đổi kinh tế thị trường. Thuỷ là con dâu ông Thuấn, vợ cuả Thuần, con trai cả ông tướng. Làm việc tại một viện sản, sống cạnh một người chồng nhu nhược chỉ biết vùi đầu vào nghiên cứu, sự tháo vát của Thuỷ âu cũng có thể hiểu được.  Người phụ nữ cũng chính là bà tướng trong gia đình và nếu không biết cách chèo lái thì gia đình đó cũng chẳng khác gì một tiểu đội trên chiến trường, có thể dễ dàng bị bại trận một cách thảm hại. Ở đây, sự tháo vát có vẻ như được thể hiện hơi lấn lướt quá đà, cô ta chủ động trong mọi tình huống, thậm chí là bắt chẹt ông chú bên chồng, có thể khôn ngoan tính toán sao cho gia đình mình không bị thiệt nhất, ít ra là về mặt tài chính. Dần dần khi bộ phim hé mở chi tiết này chồng chi tiết khác, Thuỷ hiện lên như nhân vật phản diện chính của phim: đủ các “ngón nghề” lừa dối trong đám tang, mặc cả với ông chú, ngoại tình ngang nhiên ngay trong nhà mình và chẳng nể nag, đếm xỉa gì đến những cuộc đời già nua đang héo hon trong cái gia đình rời rạc ấy. Chi tiết Thuỷ lẳng lặng rời giường bệnh của bà cụ, đi vào nhà xé vải lanh, khi chồng hỏi: “Hết cách rồi hay sao?” thì trả lời: “Mẹ già rồi”; khiến người xem không khỏi rùng mình. Sự vô cảm và lạnh lùng đã lên đến cực điểm. Cái mới tàn ác ấy đang ngạo nghễ đè nén lên một linh hồn chống chọi yếu ớt với nó, bị nó làm cho điên dại. Nếu như ông Thuấn trung thành với lẽ sống của mình thì Thuỷ cũng vì cái lối sống, cái lý lẽ rất riêng của mình mà chẳng cần đếm xỉa gì đến kẻ khác. Hai cái bảo thủ đối chọi nhau và rốt cuộc thì cô ta đã thắng, chẳng có gì bị thay đổi cả, cô ta đã bảo vệ được cái cuộc sống phi nhân tính lúc nào cũng mua được bằng tiền của mình cũng như của những kẻ sống lay lắt quanh mình, chính là chồng, con mình và những kẻ cơ hội như lão Bổng, thằng Khổng dâm đãng… Sự đồi bại của nhân cách diễn ngang nhiên và trắng trợn, như chính nó mới là chân lý của thời đại mới này vậy. Trong truyện, điểm nhìn đặt ở người con trai cả mờ nhạt không thể thấy rõ hết cái tha hoá đến kì dị, hình tượng hoá trong hình ảnh những bào thai hỏng bị xay nát cho chó ăn, thì trong phim điểm nhìn ở tướng Thuấn giúp nổi bật sự đối lập đã trở nên gay gắt, thậm chí là sống còn: cái chết của hai người già trong nhà ấy chính là sự ra đi bất lực của một thời đã qua. Diễn xuất của Hoàng Cúc có thể khiến người ta phải gai người trước ánh mắt sắc lạnh và cái cười khinh khỉnh của bà, song ở một mặt nào đó, đấy vẫn là lối diễn bước ra từ sân khấu; ở đoạn cao trào nhất khi nhân vật Thuỷ giơ tập tiền lên và phát biểu tư tưởng bao quát của cái lối sống mà cả xã hội đang chạy theo, dường như bà đã hơi “kịch” hoá mọi thứ, nhưng chính sự cường điệu hoá đặt vào khung cảnh đó lại phù hợp hơn bao giờ hết. Xem Hoàng Cúc diễn, tôi thật sự ngưỡng mộ lớp diễn viên Việt Nam thời trước với tất cả nhan sắc và tài năng diễn xuất vượt trội của họ, họ đã trở thành những tượng đài khó có thể vượt qua dù đã hơn hai mươi năm trôi qua.
  • “Tướng về hưu” là một tác phẩm xuất sắc chuyển thể từ một kiệt tác của văn học Việt Nam hiện đại. Có thể nói bộ phim như một viên ngọc sáng trong kho tàng phim Việt và nó đã định hướng cho một cách làm phim khuôn mẫu của thời kì dài ở Việt Nam: phê phán những tiêu cực của xã hội thời kinh tế thị trường. Tuy rằng cái rập khuôn của những bộ phim ra đời sau đó chẳng khác gì việc kéo tụt nền điện ảnh nước nhà, tính về mặt tiên phong, “Tướng về hưu” thật sự là một trong những tượng đài lớn của điện ảnh Việt Nam hiện đại.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s