Lại viết về Nguyễn Bắc Sơn(Phan Thiết)nhà thơ “thua cuộc”

Phía Bên Kia Những Bài Thơ “Cà Rỡn” Của Nguyễn Bắc Sơn,

DTLE

Du Tử Lê

nha-tho-nguyen-bac-son-lam-tho-ben-duongmg111-1390758303109

Cuối thập niên 1960s, một tiếng thơ lạ, bất ngờ xuất hiện, tạo được sự chú ý của nhiều độc giả ở miền nam, khởi đầu từ giới trẻ. Những người phải nhập ngũ vì lệnh tổng động viên mới, do chiến tranh leo thang, tới hồi khốc liệt. Đó là tiếng thơ Nguyễn Bắc Sơn

Những xao động, như một trận bão trong tách trà và, những xốn xang như những câu hỏi lớn về ý nghĩa chiến tranh? Sự sống và lẽ chết của con người, tựa con tin trong bàn tay lạnh lùng của thảm kịch? Không lâu sau, tiếng thơ họ Nguyễn nhận được sự chú ý đặc biệt giới cầm bút, dù đứng phía nào nơi quảng trường bom / đạn.

Nhiều thành phần, nhiều lớp độc giả bị xao động và, xốn xang bởi thơ Nguyễn Bắc Sơn, không phải vì thơ họ Nguyễn mang đến cho sinh hoạt văn chương miền Nam thuở đó, những cách tân mới mẻ! Chúng cũng không hề là những mũi khoan tiền phong khai quật một mỏ quặng triết lý nhân sinh diệu dụng! Mà chúng chỉ là những bài thơ tác giả cố tình tự lố bịch hóa mình, lố bịch hóa đời thường của mình, trên phông cảnh chiến tranh sống / chết vô nghĩa:

“Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Vung tiền mua vội một ngày vui.”

Hoặc:

“Trên trái đất có rừng già núi non cùng biển sông
“Trong Nguyễn Bắc Sơn có kẻ làm thơ
Kẻ làm thơ đôi khi biến thành du đãng
Hoặc nhà tu theo khí hậu từng mùa.”

Hoặc nữa:

“Khi tao đi lấy khẩu phần
Mày đi mua rượu đế Nùng cho tao
Chúng mình nhậu để trừ hao
Bảy ngày sắp đến nghêu ngao trong rừng
Mùa này gió núi mưa bưng
Trong lòng thiếu rượu anh hùng nhát gan…”

Nhưng mặt khác của chủ tâm lố bịch hóa sinh hoạt hàng ngày của mình, tiếng thơ họ Nguyễn cũng có tác dụng lột trần phần nào những lý tưởng kiên cưỡng được những người có mưu đồ, chụp chiếc mũ đầy mầu sắc rực rỡ ý nghĩa cho chiến tranh. Sự lộ bịch hóa chiến tranh của ông, đồng nghĩa với sự lố bịch hóa tất cả những hô hoán, chiêng trống ồn ào ở hai lằn ranh quốc / cộng:

“Vì sao ta đến đây hò hét
Học trò bẻ bút tập mang gươm
Tập uống máu người thay nước uống
Múa may theo lịch sử điên cuồng

Vì sao người đến đây làm giặc
Đóng trò tráng sĩ loạn Xuân Thu
Giận đời ghê những bàn tay bẩn
Đưa đẩy ngươi trong cát bụi mù”

Hoặc:

“Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xuôi khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi”.

Và, khi họ Nguyễn gom một số bài thơ để in trong tập “Chiến Tranh Việt Nam và Tôi” (CTVN & T) thì dư luận lập tức vạch một lần ranh bênh / chống quyết liệt. (1)

Theo một bài viết của nhà văn Nguyễn Lệ Uyên thì:
“…Hai mươi bảy bài thơ phơi trải trong Chiến Tranh Việt Nam & Tôi đã được đón nhận (thời đó) bằng những thái độ khác nhau: Các nhà làm chính trị và đạo đức giả cầy gọi thơ Nguyễn Bắc Sơn là ‘con sâu bệnh hoạn’, là ‘phản chiến, khiếp nhược’, các em tiểu thư khuê các vừa nhắm mắt vừa đọc, vừa thè lưỡi rụt đầu vừa rung bần bật những khoái cảm sũng nước. Và chỉ có những kẻ bị xô đẩy vào chốn ‘du côn, du đãng’ mới đồng cảm được tiếng thơ bi hài lồng lộng bão cát, chói chang lửa đỏ và dầm dề mưa lũ…” (2)

Nhưng ngược lại, thi phẩm của tác giả những bài thơ cố tình lố bịch hóa mình, diễu cợt mọi sự việc chung quanh đời thường của mình, trên phông cảnh chiến tranh sống / chết vô nghĩa kia, cũng được nhiều cây bút tên tuổi ngợi ca. Nhà văn Chu Tử, trong một bài viết về thơ Nguyễn Bắc Sơn trên tuần báo Đời số 9, đề tháng 11 năm 1969, viết:
“(Thơ Nguyễn Bắc Sơn) có cái ngang tàng đượm màu sắc Lão Trang, đánh giặc không lý tưởng mà vẫn đánh, coi cuộc chiến như trò chơi, thương xót kẻ thù như ruột thịt…” (3)

Hoặc nhà văn Doãn Quốc Sỹ, trên tạp chí Văn số 185, đề ngày 1 tháng 9-1971:
“… Đọc thơ Nguyễn Bắc Sơn tôi có liên tưởng đến tiếng thơ Quang Dũng trong bài ‘Tây Tiến’, chỉ khác thơ Quang Dũng là kết tinh của một hoàn cảnh bi hùng, còn thơ Nguyễn Bắc Sơn là kết tinh một hoàn cảnh bi hài”. (4)

Riêng nhà văn Nguyễn Lệ Uyên, trong bài viết của mình, đã ghi xuống những cảm nghĩ ông, sau nhiều chục năm đọc lại thi phẩm “CTVN & T” của Nguyễn Bắc Sơn, như sau:
“… Những tra khảo tâm óc dường như chưa hề có câu trả lời, không thể trả lời nổi, để cuối cùng phó mặc mọi sự đẩy đưa. Mặc kệ tất. Thằng nào giương cao ngọn cờ cứ giương, đứa nào hò hét cứ hò hét, cứ xông tới và trốn chạy, xông tới và ngã xuống, chiến thắng và bại trận. Tất cả đan chéo vào nhau như đường gươm ma thuật của phái Bạch Mi. Riêng ta bỏ tuốt cái phía trước và phía sau, bỏ cái quyền uy và khuất phục để làm một kẻ lãng đãng khói sương trong khói lửa mịt mùng, kinh lợm:

“Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất
Dừng quân đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy tựa gốc cây hãy ngắm mây trời
Hãy tưởng tượng mình đang đi picnic
Kẻ thù ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo

“Không lạ, không xa mà cũng chẳng nhọc nhằn lý giải theo phép biện chứng khi mà guồng máy xay thịt cứ nghiền nát từng cánh tay, bàn chân, thân thể con người. Những công dân, những đồng bào, họ không bao giờ muốn thân xác mình biến thành món thịt băm; họ đâu muốn bắn giết nhau. Chỉ có các ngài chính trị lợi dụng sự cả tin, phều ra chút nước bọt để tranh giành quyền lợi cá nhân theo mộng tranh bá đồ vương, nên ‘lúc này đây ta không thèm đánh giặc’. Ta ‘không thèm đánh giặc’ bởi trong đầu óc ta luôn nghĩ:

“Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xuôi khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi…(5)

 

Nguyễn Bắc Sơn: “Người sống sót nâng ly mời kẻ khuất!”

Là tiếng thơ nặng tính thời sự, nên tùy tâm cảnh, quan niệm thời cuộc, chiến tranh mà, mỗi người có một ghi nhận riêng, về thơ Nguyễn Bắc Sơn. Nhưng dù đứng ở góc độ nào, từ quan điểm nào, thì thi phẩm “Chiến Tranh Việt Nam và Tôi” (CTVN&T) của họ Nguyễn, vẫn là tập thơ được nói tới nhiều nhất trong những năm đầu thập niên 1970s. Và, hiển nhiên thi phẩm “CTVN&T” của Nguyễn Bắc Sơn đã không được thành phần quá khích, cực đoan ở cả hai phía tả / hữu mở rộng vòng tay đón nhận (như đa số độc giả bình thường).

Nguyễn Bắc Sơn

Nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn

Với thành phần phản chiến, nghiêng về cánh tả thì, chẳng những họ không chấp nhận tiếng thơ của Nguyễn Bắc Sơn vì, chẳng những ông không cao giọng lên án chế độ miền Nam mà, ông còn giễu cợt những…”chiến sĩ cách mạng” các anh du kích, bộ đội miền Bắc qua những câu thơ như:
“Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất
Dừng quân đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy tựa gốc cây hãy ngắm mây trời
Hãy tưởng tượng mình đang đi picnic
Kẻ thù ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo” (6)
Hãy tránh xa ra ta xin tí điều
Lúc này đây ta không thèm đánh giặc
Thèm uống chai bia thèm châm điếu thuốc
Thèm ngọt ngào giọng hát em chim xanh
Kẻ thù ta ơi những đứa xâm mình
Ăn muối đá mà điên say chiến đấu
Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước…”
Và, tác giả nhìn cuộc chiến như một thứ “tai trời ách nước” chứ không phải vì lý tưởng…“giải phóng” miền Nam, tiêu diệt “Mỹ-Ngụy”:
“Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xuôi khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm chi cho lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
Mượn trời đất làm nơi đốt hỏa châu
Những cột khói giả rừng thiêng uốn khúc
Mang bom đạn chơi trò chơi pháo tết
Và máu xương làm phân bón rừng hoang” (7)
Ngược lại phe hữu hay phe chống cộng cực đoan, cũng không thể chấp nhận một Nguyễn Bắc Sơn với những câu thơ làm…“nản lòng chiến sĩ” như:
“Mày gửi một chân ngoài trận mạc
Mang về cho mẹ một bàn chân
Mẹ già khóc đến mù hai mắt
Đời tàn trong lứa tuổi thanh xuân”
Hay hình ảnh người lính không mấy…hào hùng trong ghi nhận của Nguyễn Bắc Sơn, như:
“Ngày trước mày hiền như cục đất
Giờ mở miệng ra là chửi tục
Hà hà ra thế con nhà binh
Ngôn ngữ thơm tho như mùi cứt”
(…)
“Giờ tối nằm mơ chỉ thấy tiền
Nhân nghĩa gì gì quên tuốt luốt” (8)
Với tôi, lý do tiếng thơ Nguyễn Bắc Sơn được đông đảo quần chúng, bằng hữu đón nhận nồng nhiệt, trước nhất, ông không làm thơ để đáp ứng quan điểm hoặc, thỏa mãn một lăng kính chính trị nào! Ông viết vì nhu cầu, thúc bách nội tâm của chính ông, trước những vô lý và, vô nghĩa của một cuộc chiến giữa những đứa con cùng một giống nòi, cùng nói một thứ tiếng, cùng tha thiết một tình yêu quê hương.
“Buổi chiều uống nước dòng Ma Hý
Thằng Xuân bắn chết thằng Mang Khinh
Hỡi ơi sống chết là mưa nắng
Gió tối mưa đêm chớ lạnh mình
Đốt lửa đồi cao không thấy ấm
Lính Chàm giận ghét Chế Bồng Nga…” (9)
Với tôi, thơ Nguyễn Bắc Sơn đi ra từ tâm thức trước nhất của một người Việt Nam. Kế đến cũng là tâm thức của một thi sĩ, phải đối mặt với cuộc chiến mà máu xương hai bên, dù nhân danh chủ nghĩa nào, thì máu, xương kia cũng vẫn là máu xương Việt Nam. Và có người Việt Nam nào không khao khát, không ước mơ một đời sống thanh bình, êm ả?
“Cởi áo trận và hoa mai ném tuốt
Xin giã từ đời vũ khí, huy chương
Xin trở về như một kẻ hoàn lương
Xin vứt hết xin bắt đầu lại hết…” (10)
Trong tâm thức thi sĩ của Nguyễn Bắc Sơn, ông mơ ước, ông hình dung một ngày Việt Nam khác. Một ngày Việt Nam không chiến tranh. Một ngày Việt Nam gặp gỡ những Việt Nam:
“Lạng quạng ra bờ sông ngó nước
Trên bờ dưới nước gặp ông câu
Ta câu con đú ngươi con đẽn
Chung một tâm hồn tất gặp nhau” (11)
Tinh thần thi sĩ của một Nguyễn Bắc Sơn còn mơ ước tìm kiếm chân dung đích thực, ý nghĩa sau cùng một kiếp người. Nói cách khác, thơ ông muốn mở tới những chân trời tâm linh rốt ráo:
“Người sống sót nâng ly mời kẻ khuất
Lại gần đây trên bãi cỏ bờ sông
Soi mặt mình trong dòng nước xanh trong
Để nhìn thấy hình bản lai diện mục…” (12)
Tôi trộm nghĩ, tìm kiếm kể trên nơi tâm thức của họ Nguyễn cũng nhằm đem đến cho chính ông câu hỏi ông sớm có từ những năm đầu thập niên 1960s khi ông viết xuống trong bài thơ “Những điều cần nói khi thôi học 1963”:
“Khi ta thôi học
Người khách trú bán ve chai già đã chết
Y đã hát cho ta nghe
Những buổi trưa buồn rầu
Trong ngôi trường đầy vết tích chiến tranh
Những bài hát làm nhớ hoài một nước cổ Trung Hoa
Một nước Trung Hoa loạn lạc
Thiếu cơm và thừa nước mắt
Ôi giấc mộng anh hùng Lương Sơn Bạc
“Khi ta thôi học
Các giáo sư dạy cho lũ học trò những điều họ không tin
Và chúng ta tin những điều họ không dạy
“Khi ta thôi học
Ta không biết con người sinh ra để làm gì
Và ta mải miết
Ði tìm câu trả lời
Ðể sống yên tâm”. (13)
*
Tôi tin, hôm nay, khi cuộc chiến Việt Nam chấm dứt đã lâu, thời thế đã có cho nó một chương sách khác, nhưng thơ Nguyễn Bắc Sơn, dù là tiếng thơ gắn liền với thế sự thì, chúng vẫn lồng lộng trong tâm hồn, ký ức, chí ít, cũng nơi những người lính, cùng thời với ông. (14)
Và, tôi cũng tin, ông đã và đang “sống yên tâm” những ngày còn lại, nơi quê nhà?

Du Tử Lê
(Calif. Mar. 2014

NGUYỄN BẮC SƠN – NHÀ THƠ ĐÔNG PHƯƠNG

                                                                          trần hửu dũng1

                ?                   

Trần Hữu Dũng

phan thiết7
 

Nguyễn Bắc Sơn và thơ anh là một thứ “đặc sản” văn học của Phan Thiết, dân văn nghệ các nơi ghé vào thăm đất nầy thường tìm gặp anh cùng trò chuyện, uống vài ly đế thân tình, xong về nhà ngẫm nghĩ lại thấy “sướng” về đủ mọi thứ trên đời. Vây bọc quanh anh là những câu chuyện “động trời” về vụ mấy lần nhảy lầu tự tử mà không chết, cái anh chàng gàn dở, quen sống phóng túng, một gã du đãng bụi đời làm thơ, la cà với bạn bè mọi nơi, mọi chốn, ai  rủ đi chơi là đi liền, bất kể trong túi có tiền hay không, khiến cho người vợ lặn lội khắp nơi, kiếm đỏ con mắt đưa lên xe chở về nhà…Thế mà khi gặp Nguyễn Bắc Sơn ngoài đời, con người thật lại là một gã ốm tong teo, má hóp, mắt sáng quắc lạ kỳ, hút thuốc liên tục, thân hình chắc nụi. Nghe đồn Nguyễn Bắc Sơn tập võ từ nhỏ, rành về châm cứu, mấy năm gần đây bỏ công nghiên cứu, biên soạn cuốn  “Tiểu luận về Thi đạo”, dùng thơ chữa bệnh cho đời, trong đó trích thơ truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ từ tập Mưa nguồn, Lá hoa cồn của Bùi Giáng… Chuyện này làm tôi nhớ đến nhà thơ Phạm Thiên Thư từng tuyên bố mình có khả năng trị bệnh bằng nhân điện và mới cho cho ra mắt cuốn “Tự điển Tiếu liệu pháp” cũng toàn thơ xếp theo vần A, B, C…chắc cũng giúp cho đời thêm vui vẻ.

 

  phan thiết2

 

Mấy lần gặp nhau ở Sài Gòn, Nguyễn Bắc Sơn để lại ấn tượng khó quên đối với tôi. Lần thứ nhất ở tòa soạn báo Văn Nghệ TP HCM, lúc đó còn đóng ở đường Nguyễn Thị Minh Khai, cả bọn gồm nhà thơ Bùi Chí Vinh, nhà thơ Phạm Quốc  Ca, tôi và anh Sơn kéo nhau ra quán Trống Đồng ở góc Nguyễn Du – Cách mạng tháng 8 uống bia hơi.  Trò chuyện bù khú đã đời, đọc thơ vang trời, anh Sơn tự phong thơ mình như Ỷ thiên kiếm có thể chém gãy thơ giang hồ nhuốm màu Đồ long đao của Vinh, nửa chừng tôi phải chở anh về nhà vì anh la đà say quá thể. Lần thứ hai thấy anh lui cui ở hàng sách sôn đường Nguyễn Thị Minh Khai hỏi kiếm gì, anh Sơn  thủng thẳng trả lời rằng đang nghiên cứu về Bùi Giáng nên tìm mua lại hết các sách cũ của ông, anh có một phát hiện sáng giá về tư tưởng của họ Bùi mà chưa ai từng biết. Lần thứ ba tôi và Vũ Trọng Quang vào thăm anh Sơn ở bệnh viện Y học dân tộc của bác sĩ Trương Thìn, sau vụ nhảy lầu ở trụ sở Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Bình Thuận mà không chết nên vào đây chữa trị, tịnh dưỡng. Hỏi anh sao lại thế, hết muốn sống rồi sao, anh hồn nhiên nói đang ngắm mây bay chập chờn, từ lầu nhìn xuống ngõ hẻm thấy hiển hiện con đường giải thoát, tự dưng nghĩ mình là chim nên muốn …bay.

 

  phan thiết8

 

Mãi sau này tôi mới có dịp đọc tập thơ “Ở đời như một nhà thơ phương Đông” do NXB Trẻ thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1995, do nhà văn Đoàn Thạch Biền cùng thân hữu góp tiền in cho anh. Thơ Nguyễn Bắc Sơn có giọng điệu ngang tàng đượm màu sắc tư tưởng Lão Trang, Phật giáo, có đôi chút lãng mạn nhẹ nhàng theo lối tự sự nên khi nghe ai ngâm hay đọc qua một vài lần là có thể nhớ, đọc lại ngay. Thử đọc bài “Chiêm bao về Đà Lạt” :

 Ừ Đà Lạt ngoài khung cửa kính

  Giàn su xanh thuở má em hồng

  Và ta, kẻ mười năm không áo lạnh

 Đà Lạt, lạc đà dăm bảy đứa

 Còng lưng ra mà cõng ba lô

   Những hào sĩ đứng bên bờ nhật nguyệt

  Vỗ tay cười thương lớp sóng lô nhô

 Và anh viết về mối tình cũ, về người con gái mà anh đi ngang qua, không dừng lại trong đời trong bài  “Mùa thu đi ngang qua cây phong du” :

nhung-buc-anh-phan-cam-cua-thieu-nu-ben-hoa-sen11 

 Chiều mù sương vì tình yêu mù sương

 Con phố thân quen bất ngờ con phố lạ

 Nơi hàng cây rụng tiếng tắc kè kêu

 Nơi lầu cao khung cửa sổ đìu hiu

 Soi thấp thoáng ngọn đèn hoa thiếu nữ

 Bầy chim én đã bắt đầu tư lự

 Ngủ âm trên những đường dây cao

 Đi ngang qua, đi ngang qua

                                              Đi ngang qua

    Đi ngang qua không dừng trong đời nhau

Hẹn gặp nhau ở nhất nguyên thế giới

 Nguyễn Bắc Sơn, tên khai sinh là Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1944 tại Phan Thiết, Bình Thuận. “Năm mới 15 tuổi, ông đã lên nghĩa địa, cắt gân tay, nằm chờ chết. Không may cho ông là có người vào thăm nghĩa địa, thấy ông nằm, máu me tùm lum tà la, người đó đã cứu ông, cản trở bước đi “phiêu diêu miền cực lạc”. Sau đó, ít nhất ông cũng có ba lần nhảy lầu tự tử, nhưng chỉ sứt trán, rụng vài sợi lông, trầy da, tróc vảy chút chút…Thế là ông tiếp tục Ngụp, Lặn, Bơi, Nhảy, Đánh Đu trong bể khổ” [Lê Hồng Lĩnh-phóng bút- Nguyễn Bắc Sơn, chút tình mang xuống mộ chí] *.

  Trước năm 1975 Nguyễn Bắc Sơn là binh nhì, lính địa phương quân của chính quyền Sài Gòn, thời gian này anh có tập thơ in ở Sài Gòn, năm 1972 là “Chiến tranh Việt Nam và tôi”, là loại thơ phản chiến  giống như nhạc phản chiến của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Thơ Nguyễn Bắc Sơn từng được nhiều bạn đọc ưa thích, ngâm nga trong các quán văn nghệ ở Đà Lạt, Vũng Tàu, Sài Gòn, Cần Thơ… Có bốn câu mà dân lính Sài Gòn đang chán ngán cuộc chiến tranh vô nghĩa, muốn đào ngũ, buông súng trận thường thuộc nằm lòng ngâm nga khi buồn hiu hắt :

  Mai ta đụng trận ta còn sống

 Về ghé sông Mao phá phách chơi

  Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm

  Đốt tiền mua vội một ngày vui

 Ông bố Nguyễn Bắc Sơn là dân miền Nam tập kết, mãi đến ngày 30/4/1975 mới trở về đoàn tụ gia đình, mang cấp bậc Đại tá Quân đội nhân dân. Tiếc thay một thời gian ngắn, ông bố của anh lại qua đời vì một tai nạn xe hơi, phần mộ chôn trong khuôn viên nhà Nguyễn Bắc Sơn, năm năm sau anh làm bài thơ “Hai bố con” như nén nhang tâm tưởng gửi cho bố thật cảm động :

 …Bố tôi qua đời đúng năm năm

 Tôi viết bài thơ này

Để tâm sự cùng người khuất núi

…Nhưng hai chúng tôi

 Đúng là hai người đàn ông có bề ngoài lãnh đạm

 …Bố ơi bố đã ra về

 Con ở lại làm thơ và chữa bịnh

 Chúng ta đến nơi này để phát huy một tấm lòng son

 Thành hay bại chỉ là chuyện vặt.

 Trong lời tự bạch Nguyễn Bắc Sơn viết : “…Đời kẻ làm thơ thường nhục nhiều hơn vinh, buồn nhiều hơn vui, nhưng kẻ vừa làm thơ vừa hành tập Đông Phương Triết Đạo thì thường thanh thản, thường có những niềm vui nội mật, thường mỉm cười an thân lập mệnh. Khi qua đời, tôi xin được mỉm cười.

 …Còn lòng trần ? Tôi vẫn còn, nói như thiền sư Nhất Hạnh trong “Giấc mơ Việt Nam”, tôi vẫn còn “Giấc mơ Việt Nam”. Đã biết “nhân sinh nhược đại mông, hồ vi lao kỳ sinh” mà vẫn sống nồng nàn với “Giấc mơ Việt Nam”. Ấy là lòng kẻ làm thơ. Ai cũng vậy thôi…” [Tự bạch – Nguyễn Bắc Sơn]. *

 Riêng Nguyễn Bắc Sơn tự họa gương mặt mình qua bài thơ “Chân dung Nguyễn Bắc Sơn” :

 …Trên trái đất có rừng già, núi non cùng sông biển

 Trong Nguyễn Bắc Sơn có một kẻ làm thơ

  Kẻ làm thơ đôi khi biến thành du đãng

  Hoặc làm thơ theo khí hậu từng mùa

 Thơ Nguyễn Bắc Sơn có phong cách riêng rõ nét, có lúc như lời nói, như hát, khá phóng túng không kể hình thức miễn sao biểu đạt  được cái ý, cốt cách của mình là được, dù đôi lúc phảng phất khí vị  Đông phương, tư tưởng Lão, Khổng, Phật, cho nên có nhiều bài thật hay, rung động thấu tâm can, có bài thật oải, thật chán vì lề mề, dong dài vô ích, quả tình thất thường “theo khí hậu từng mùa”. Đúng là có thời anh có ý định làm nhà “triết gia” bình luận về thiền, về tư tưởng Bùi Giáng….nhưng may sao anh kịp thời quay về đắm đuối với nàng thơ. Có lúc tôi cảm giác anh rơi vào trạng thái “hoang tưởng” khi cho rằng tranh mình vẽ tranh chân dung Bùi Giáng nguệch ngoạc có giá 10 ngàn đô, lại hỏi mượn ngay người bạn mới đến nhà 10 ngàn, để mua xị  đế  uống lai rai hay định gửi cuốn “Tiểu luận về Thi đạo” qua Canada phổ biến và lãnh giải thưởng lớn. Thật ra con người Nguyễn Bắc Sơn ai từng có tiếp xúc, chơi với anh rồi mới nhận ra anh là người dễ gần, dễ mến, gặp ai là vung tay làm thơ tặng bạn, bất kể trên giấy gì hiện có, đôi khi cao hứng vẽ thêm vào con mắt to để minh họa cho sống động. Ngoài ra anh còn có cái tật dễ thương là đãng trí và dễ tính, có người xáo trộn cả bài thơ nổi tiếng “Mai sao dù có bao giờ” của anh Sơn đọc lại cho chính anh nghe. Anh lắng tai nghe, mở to hai mắt hồn nhiên, thật cảm động, hay ai muốn sửa lại câu thơ Nguyễn Bắc Sơn theo ý riêng, anh cũng chả phản ứng, nói năng gì cả. Có lẽ vì thế anh làm thơ nhiều, vung vãi hào phóng tặng cho bạn bè khắp nơi  mà chẳng còn giữ lại bên mình bao nhiêu.

 …Cám ơn ngôi nhà em, ngôi nhà đã bao dung người thiếu nữ

 Vừa ngọt ngào vừa cay đắng như em

  Những đêm mưa em có thắp ngọn đèn

  Để chiếu sáng những góc lòng đen tối

  Thôi câu chuyện tình nói cho nhiều cũng vậy

 Trăm năm dài rồi sẽ đụng ngàn năm

 Tất cả sẽ đi qua điều gì còn ở lại

 Một đóa hoa Quỳnh trong cõi trăm năm

 (Thơ tình tháng chạp)

 Bây giờ ngồi thong thả đọc lại thơ Nguyễn Bắc Sơn tôi vẫn còn giữ y nguyên cái cảm giác anh là gã thiền sư-du dãng mang đầy chất bụi  đời,  mà sao kỳ lạ sao giọng thơ vẫn thấy mới tinh khôi như buổi sáng hôm nay và khép lại tập thơ là ùa ngất cơn “sướng” ngây ngây.

 

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.