Đọc tiếp Hồi Ký của BS Lý Chí Thỏa(BS riêng của Mao)-Chương 57,58,59 và 60

HỒI KÝ CỦA BÁC SĨ LÝ CHÍ THOẢ(Li Zhisui BS riêng của Mao)

Mao và Cút Xép

Chương 57

Đêm đó, đoàn tàu của Mao rời thành phố đi Vũ Hán, trưa ngày hôm sau, chúng tôi có mặt. Những viên thuốc ngủ mới cùng với tập tài liệu hàng ngày của đảng đã được gửi từ Bắc Kinh đến văn phòng thư ký riêng của Mao. Y tá Ngô Tự Tuấn và tôi cùng các nhân viên khác – những người phục vụ, những thư ký và các thiếu nữ của Mao – đều ở trong khách sạn.

Bầu không khí trong nội bộ các nhân viên thân cận của Mao đã thay đổi. Uông Đông Hưng luôn tìm cách nắm được những ý nghĩ và hành động của Mao càng nhiều càng tốt, ngược lại, Trương Diêu Tự lại không muốn can thiệp vào. Căn cứ vào những căng thẳng cao độ của tình hình chính trị hiện nay, ông cố gắng giữ khoảng cách với Mao để tự vệ. Ông không cho phép tôi thông báo tình hình sức khỏe hàng ngày của Mao với ông, vì chỉ chịu trách nhiệm đối với sự an toàn của Mao. Nếu được báo cáo đều đặn về tình hình sức khỏe của Mao, người ta có thể sẽ quy trách nhiệm nếu có chuyện chẳng lành xảy ra.

Khắc Kỳ Hữu, trưởng ban an ninh, thì ngược lại. Ông ra sức tìm hiểu tất cả mọi chuyện về Chủ tịch để được gần Mao hơn. Ông moi tin từ những nhân tình của Mao và gây khó khăn cho chúng tôi trong việc gặp Mao. Tôi và y tá Ngô Tự Tuấn thường phải báo cáo ông rồi mới được vào thăm bệnh cho Mao. Tôi rất ghét thái độ kiêu căng gây phiền hà của ông ta.

Tôi theo dõi cuộc thử nghiệm những viên thuốc ngủ đối với Mao và phương pháp này tỏ ra có hiệu quả. Sau năm ngày, liều lượng thuốc ngủ khủng khiếp Mao dùng đã giảm xuống mức bình thường như trước kia. Tôi chẳng cần phải ở đây lâu hơn nữa. Đã đến lúc tôi và y tá Ngô Tự Tuấn trở về Thạch Tư. Bầu không khí ở Nhóm Một quá căng thẳng, vả lại chúng tôi vẫn chưa hoàn tất công việc của chiến dịch “Bốn Minh bạch”.

Thế nhưng Trương Diêu Tự muốn chúng tôi ở lại. Ông vẫn lo ngại về tình trạng sức khỏe của Chủ tịch, sợ trách nhiệm sẽ phải gánh vác khi có chuyện rắc rối xảy ra. Ông cũng không chịu đựng nổi Khắc Kỳ Hữu. Chừng nào tôi và y tá Ngô Tự Tuấn vẫn còn có mặt ở đây, chừng đó ông vẫn biết về tình trạng sức khỏe của Chủ tịch mà không phải chịu một trách nhiệm nào. Mặt khác, chúng tôi như cái lá chắn để chống lại sự lên mặt của Khắc Kỳ Hữu.

Nhưng chúng tôi vẫn phải đi. Tôi đến gặp Mao, nói với ông, liều lượng thuốc ngủ cũng như tình trạng sức khỏe của ông đã ổn, tôi và y tá Ngô Tự Tuấn phải tiếp tục chiến dịch “Bốn minh bạch”. Tôi nói: “Nếu Chủ tịch yêu cầu, chúng tôi sẽ đến ngay lập tức”. Nhưng Mao cũng không muốn cho tôi đi. Ông nói: “Chiến dịch đó không quan trọng nữa. Bây giờ đang có những việc khác. Đồng chí nên ở lại đây. Có lẽ tôi sắp cần đến đồng chí rồi”.

Tôi phát hoảng. Chiến dịch “Bốn minh bạch” rất khổng lồ, một trong những chiến dịch vĩ đại nhất kể từ Cải cách ruộng đất. Người ta đã cử hàng trăm nghìn cán bộ từ các thành phố về nông thôn. Thế mà bây giờ phong trào giáo dục xã hội chủ nghĩa không còn quan trọng. Chính vì vậy Mao chẳng buồn nói chuyện với Uông Đông Hưng về chiến dịch này nữa. Nhưng tôi vẫn như người mò mẫm trong bóng tối của những kế hoạch mới rất quan trọng của Mao đang tiến hành.

Tôi do dự. Mao muốn tôi ở lại vì ông tin tưởng vào trình độ tay nghề của tôi. Ông sẽ bảo vệ, che chở nếu tôi chỉ giới hạn công việc của mình với tư cách một người thầy thuốc của ông. Thế nhưng bầu không khí bao quanh ông thật ngột ngạt với tôi. Và Khắc Kỳ Hữu, kẻ tham quyền lực, thích gây rắc rối cho người khác. Tôi suy nghĩ lung lắm, cân nhắc lợi hại. Cuối cùng tôi quyết định biện pháp an toàn hơn là quay lại nông thôn, mặc dù cuộc sống ở đó khổ cực. Tôi đòi về Thạch Tư, viện cớ:

– Ngô Tự Tuấn và tôi chẳng có gì ngoài bộ quần áo mặc trên người, như thế thật bất tiện. Vì vậy chúng tôi cần phải quay trở lại nông thôn.

Mao đáp:

– Không sao. Tôi chỉ cần nói Trương Diêu Tự gửi quần áo từ Bắc Kinh đến là xong.

Sau đó Mao cho chúng tôi hay, liệu chúng tôi có phải về nông thôn nữa hay không. Tại sao trong cuộc đời của mình, tôi thường không được tự lựa chọn. Thế là tôi phải ở lại. Có cái gì đó khá đặc biệt diễn ra ở Trung Nam Hải. Mao lui về phòng và được các cô nhân tình vây quanh săn sóc. Bên ngoài, Khắc Kỳ Hữu mới dựng lên một hàng rào xung quanh phòng Mao, không cho ai vào. Tôi ở phòng trực và chỉ vào thăm khi ông cho người gọi. Ở vòng ngoài, tôi chờ đợi điều gì sẽ xảy ra.

 

Chương 58

Giang Thanh

Tôi chờ hơn một tháng liền. Sau đó, ngày 8-2-1966, Mao cho phép tôi tới dự thính cuộc họp ở phòng khách đồ sộ của khách sạn Mỹ Viên, nơi chúng tôi ở lại Vũ Hán. Ông luôn luôn khuyến khích các nhân viên phải thường xuyên dự những buổi họp để nắm được tình hình. Tôi có mặt lẫn trong đám đông đến dự, nghe được hết mọi chuyện. Ba uỷ viên của một Uỷ ban mới được thành lập có tên “Tổ Ngũ nhân của Cách mạng văn hoá” vừa từ Bắc Kinh tới. Uỷ ban này thành lập từ năm 1964, được giao nhiệm vụ trực tiếp viết bài phê bình vở kịch Hải Thuỵ Từ Quan của Ngô Hàm. Thành viên của Uỷ ban gồm Trưởng ban Tuyên huấn Lục Đỉnh Nhất, Uỷ viên bộ chính trị Khang Sinh, Bí thư trung ương Đảng kiêm Thị trưởng thành phố Thượng Hải là Bành Chân, phó trưởng Ban tuyên truyền Chu Dương và Tổng biên tập Nhân Dân Nhật Báo Ngô Lĩnh Hi. Cùng đi với họ có Hồ Sinh, phó tổng biên tập nguyệt san Hồng Kỳ của đảng.

Mao chủ toạ cuộc họp, nói, ông đã thông báo cho Trần Bá Đạt và Khang Sinh vào ngày 21-2 năm ngoái rằng, ông đánh giá bài báo của Diêu Văn Nguyên, trong đó vở Hải Thuỵ Từ Quan đã bị phê phán, là đúng đắn. Tuy nhiên Diêu Văn Nguyên vẫn chưa nói toạc móng heo, Gia Kính, một ông vua triều Minh đã cách chức Hải Thuỵ và năm 1959 Mao đã cách chức Bành Đức Hoài. Như vậy có nghĩa là Bành Đức Hoài là một Hải Thuỵ hiện đại.

Mao quay sang Bành Chân, chủ nhiệm Uỷ ban Năm người, hỏi:

– Có phải Ngô Hàm thực sự là kẻ thù của đảng và của chủ nghĩa xã hội không?

Bành Chân chưa kịp trả lời, Khang Sinh đã lên án vở kịch của Ngô Hàm “chống đảng, chống chủ nghĩa xã hội, loài cỏ độc”.

Không ai dám phản đối ông ta.

Trong không khí im lặng kéo dài, Mao nói:

– Nếu ai có ý kiến gì khác cứ tự nhiên. Tất cả các đồng chí hãy phát biểu ý kiến đi.

Mao muốn biết quan điểm khác biệt rõ ràng, chính xác, để chúng tôi có thể so sánh, nhận định ai sai, ai đúng. Mọi người vẫn im lặng, Mao lại động viên:

– Tất cả chúng ta được tự do phát biểu. Ai có ý kiến gì khác cứ tự nhiên.

Cuối cùng, Bành Chân lên tiếng. Ông muốn bào chữa, tài liệu mà ông mang tới. Dưới tựa đề “Dự thảo báo cáo của Tiểu tổ Ngũ Nhân gửi Trung ương đảng”, tài liệu cho rằng, đề tài mà vở kịch của Ngô Hàm đề cập mang tính lịch sử, học thuật hơn là tính chính trị. Họ Bành nói:

– Tôi nghĩ, chúng ta phải theo lời của Chủ tịch, để cho trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng, nếu chúng ta thảo luận về những vấn đề sử học mà vở kịch đề cập đến. Chúng ta cần có một cuộc tranh luận sôi nổi.

Bản dự thảo đã được Ban thường trực Bộ chính trị phê chuẩn, chỉ còn cần sự đồng ý của Mao.

Lục Đỉnh Nhất ủng hộ Bành Chân, nhấn mạnh vào tính khoa học trong buổi thảo luận. Theo ý ông, phải tránh những danh từ như “kẻ thù của đảng” hay “kẻ thù của chủ nghĩa xã hội”, nếu không, sự im lặng sẽ bao trùm tất cả.

Khang Sinh im lặng sau khi Bành Chân, Lục Đỉnh Nhất phát biểu quan điểm của họ. Chiến tuyến đã rõ ràng. Khang Sinh cho những tranh luận quanh vấn đề của Ngô Hàm là một cuộc đấu tranh giai cấp, yêu cầu phải có những biện pháp cụ thể đối với Ngô Hàm và những kẻ ủng hộ. Ngược lại Bành Chân và Lục Đỉnh Nhất tìm cách giải quyết mâu thuẫn bằng cách cho rằng vở kịch chỉ mang tính nghệ thuật thuần tuý, hoàn toàn phi chính trị.

Thời gian trôi qua chẳng ai phát biểu thêm. Mao đành hoãn cuộc họp.

Những người tham dự vẫn không biết quan điểm của Mao ra sao. Bành Chân muốn biết, liệu Chủ tịch có cho phép ông viết một lời bình luận nào đó về vở kịch cho đảng không.

Câu trả lời của Mao: “Các đồng chí hãy làm đi. Tôi không cần xem trước”.

Tôi biết ngay nguy rồi, gió sắp nổi. Mao đã gài bẫy người ta. Việc từ chối không đọc trước lời bình của Bành Chân thực ra có nghĩa, Mao không đồng ý. Nhưng Bành Chân không hiểu rõ Mao như tôi, ông và Lục Đỉnh Nhất đã đùa với lửa. Nếu họ phân phát bản thảo lời bình, họ có thể sẽ gặp nguy hiểm khôn lường.

Bốn ngày sau, ngày 12-2-1966, bản “Dự thảo báo cáo của Tiểu tổ Ngũ Nhân về cuộc tranh luận mang tính chất học thuật hiện nay” cùng với lời bình luận của “Cơ quan trung ương” được phổ biến trong đảng. Nhưng Mao không đọc, cả trong cơ quan trung ương cũng có những ý kiến trái ngược về việc này. Trong đó chỉ có tên của Bành Chân và Lục Đỉnh Nhất. Theo lời bình luận, các cuộc tranh luận về vở Hải Thuỵ Từ Quan chỉ nên dựa trên khía cạnh học thuật.

Mao coi tài liệu trên là sự phủ nhận quan điểm của ông. Ông đồng tình với Khang Sinh, vở kịch của Ngô Hàm là một loại cỏ độc, chính Ngô Hàm là “kẻ thù của đảng”, “kẻ thù của chủ nghĩa xã hội”. Do đó, việc Lục Đỉnh Nhất và Bành Chân không chịu lên án Ngô Hàm sẽ khiến họ có nguy cơ bị chụp mũ, kẻ thù của đảng và chủ nghĩa xã hội.

Tối hôm bản Dự thảo được công bố, Mao nói với tôi:

– Tôi nói đúng. Bọn phản cách mạng chỉ bị gục ngã khi người ta ra đòn thật nặng.

Mao chuẩn bị một trận đánh quyết định. Bài bình luận của Bành Chân sau này được coi là “Bản Dự thảo tháng Hai” mang tính thù địch, xấu xa với đảng và chủ nghĩa xã hội. Sự sụp đổ của Bành Chân chỉ còn vấn đề thời gian.

Chương 59

Mao và Chu Đức

Sau cuộc họp với Bành Chân và Lục Đỉnh Nhất, Mao trở nên cáu kỉnh và cảnh giác. Ngay cả những viên thuốc ngủ cũng không thể giúp được gì. Mao làm việc 24 giờ một ngày, cho tới khi kiệt sức hoàn toàn. Điều này ảnh hưởng tới khẩu vị, cả ngày ông ăn có một bữa và ăn rất ít. Tôi tăng một chút liều lượng trong thuốc ngủ cho ông. Việc này làm tôi không yên tâm, nhưng càng lo hơn khi biết con người ta càng có tuổi càng ít ngủ. Sau một tuần lễ, khẩu vị và giấc ngủ của Mao trở lại bình thường, tôi bắt đầu bình tâm.

Ngay lúc sự mối lo nghề nghiệp của tôi đang giảm đi, tôi đụng phải vấn đề mới với Trương Ngọc Phượng.

– Chủ tịch nghĩ rằng ban đêm có ai đó ở trên trần nhà. Đêm đêm ông nghe thấy trên trần có một tiếng động di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác.

Tôi gần như bật cười. Vâng, chuyện vô lý. Làm thế nào người ta có thể chui vào trần nhà được? Chủ tịch được bao bọc bởi một bức tường an ninh chắc chắn. Nhưng Trương Ngọc Phượng không yên tâm, huống chi Mao.

Tôi biết, người chẳng có thể chui thể trong trần nhà? Chuột hoặc mèo hoang? Một anh bảo vệ nhớ lại điều này, khi thảo luận biện pháp an ninh cho Mao. Người lính này đã để ý nhìn thấy dấu chân, có thể thuộc mèo hoang.

Bảo vệ đặt bẫy, dùng cá làm mồi. Ngày thứ hai chiến công đã không phụ công sức của họ. Bắt được hai con mèo rừng – Con lớn to gần bằng con báo con, còn con kia bằng con mèo nhà to. Biệt thự ở Vũ Hán xây dựng trong một cánh rừng, dành cho Mao và thường bỏ hoang. Những con mèo rừng lang thang cũng tận dụng cơ hội này, chẳng ai biết.

Khi người ta trưng bày những con vật chết cho mọi người xem, tôi nghĩ, giờ đây chắc Mao yên tâm. Nhưng sự lo sợ không dễ mất đi. Mao vẫn còn bồn chồn lo lắng, ông cho vẫn còn ai đó trên trần nhà. Mao đòi đi ngay.

Sau vài giờ bẫy được mèo rừng, chúng tôi đã trên đường đến Hàng Châu.

Mao chưa trở lại bình thường ngay cả khi ở Hàng Châu. Tôi cảm nhận, dù không có tin tức cụ thể, nhưng tin bầu không khí chính trị không được cải thiện. Ngay sau khi đến, tôi hiểu, Mao gọi Diệp Quần từ Quý Châu, nơi bà và Lâm Bưu thường ở đó.

Ngày hôm sau, Diệp Quần bay đến, ngồi lại với Chủ tịch sau cánh cửa kín ba giờ liền, sau đó quay về. Không ai có mặt trong cuộc trao đổi mật, Mao và Diệp Quần không thông báo cho bất kỳ người nào của Nhóm Một biết họ bàn về cái gì. Chính trong ngày hôm ấy, trong bữa cơm chiều cùng ăn với Chủ tịch, ông bảo:

– Tôi không biết Đặng Tiểu Bình điều hành Ban bí thư Trung ương kiểu gì ráo trọi! – Mao nói trong bữa ăn – Chỗ ông ta có nhiều người tôi rất khả nghi, bây giờ tôi nghi cả ông ấy. Bành Chân khả nghi số một. Bành Chân kiểm soát đảng bộ thành phố Bắc Kinh chặt đến nỗi không ai có thể xuyên qua dù một lỗ nhỏ, thậm chí dùng kim hay giỏ giọt nước cũng không qua nổi. Lục Đỉnh Nhất kiểm soát Ban Tuyên giáo chặt chẽ như quản ngục, không cho một bài viết tả khuynh nào thoát lưới kiểm duyệt. Lại cả La Thuỵ Khanh, người ra sức quấy đảo ngăn cản khẩu hiệu “Lấy chính trị làm thống soái”, lại còn tuyên truyền chủ nghĩa cơ hội. Cả Dương Thượng Côn bận rộn thu thập và phổ biến những tin tức.

Từ khi phát hiện hệ thống nghe lén, Mao quy kết Dương Thượng Côn làm gián điệp, cả bí thư trung ương nữa, Đặng Tiểu Bình, Mao giận dữ kết luận.

Những ngày sau, Giang Thanh gặp Mao. Tôi để ý, bà bắt đầu thay đổi từ năm 1962 nhưng bây giờ thay đổi hoàn toàn. Bà bước những bước chắc nịch, lưng cố giữ thẳng, không nhận thấy một chút biểu hiện nào bệnh tật của bà trước đây. Giang Thanh phớt lờ sự có mặt của tôi, đôi khi kiêu kỳ nghiêng đầu khẽ gật khi đi ngang qua hoặc chạn trán nhau. Gần đây bà giảm người phục vụ, còn một y tá, một cần vụ và một vệ sĩ người Thượng Hải. Bà cũng hết phàn nàn về sức khoẻ, cô y tá của bà nói với tôi trong lúc chờ bà quay ra. Giang Thanh giờ đây chẳng quan tâm ánh đèn quá sáng, tiếng ồn và gió lùa. Cơn đau đầu cũng tan biến. Bà không đeo cả hoa tai, cũng chẳng cần bác sĩ phục vụ nữa.

Cuộc viếng thăm chồng thật ngắn ngủi, Giang Thanh lập tức đi ngay Thượng Hải. Vài ngày sau, bà đến lần thứ hai, tôi hiểu, họ có chuyện gì đang bàn luận.

Lâm Bưu và Giang Thanh liên minh với nhau. Hai người triệu tập ở Thượng Hải một cuộc họp từ 2 đến 20 tháng 2-1966, để thảo luận sự phát triển văn hoá nghệ thuật do quân đội ủng hộ. Giang Thanh tham khảo ý kiến Mao, báo cáo về cuộc họp. Mao đưa tôi đọc qua các tài liệu tóm tắt.

Bài phát biểu có lẽ do chính Chủ tịch viết. Đó là cuộc tấn công vào Lục Đỉnh Nhất, cảnh cáo rằng từ khi thành lập nước Cộng hoà nhân dân “trong lĩnh vực văn hoá, hầu hết các giáo sư như một lực lượng đen tối, mưu toan thống lĩnh chính sách của chúng ta”. Cái làm tôi ngạc nhiên không phải vì nội dung văn kiện mà là mối quan hệ mới giữa Giang Thanh và Lâm Bưu: Con đường của vị nguyên soái đi đến quyền lực phải qua tay vợ Chủ tịch. Lâm Bưu chiếm được sự ủng hộ của Mao, bằng cách o bế, lấy cảm tình của vợ Mao trước tiên. Một cách thường dùng trong lịch sử Trung Quốc, đó là con đường lắt léo, tôi chưa khi nào tin vào những người theo con đường ấy. Lâm Bưu muốn đưa vợ Chủ tịch đến quyền lực. Ngay từ buổi đầu, tôi đã khó chịu, vì khi đạt được quyền lực Giang Thanh có thể trở nên cực kỳ nguy hiểm.

Tôi chưa gặp Lâm Bưu bao giờ, thậm chí chưa một lần giáp mặt. Mặc dù Lâm Bưu nắm giữ một số chức vụ cao, nhưng sống ẩn dật, ít có mặt nơi làm việc, thậm chí không đến Thiên An Môn dự lễ ngày 1-5 hay quốc khánh. Trong “Hội nghị Bẩy ngàn cán bộ” tôi ngồi sau hậu trường, nghe bài phát biểu của ông ta. Đó là lần duy nhất tôi nhìn thấy lưng ông. Nhưng ông, một trong mười nguyên soái nổi tiếng, xuất sắc, mạnh mẽ, cương quyết và tàn bạo. Trước kia, tôi ngưỡng mộ thiên tài quân sự của vị tướng quân. Giờ đây, liên minh của Lâm Bưu với Giang Thanh cho phép tôi có điều kiện gặp ông thường xuyên.

Tháng 3-1966, ngay sau khi thăm chồng, Giang Thanh bị cảm, gọi tôi đến Thượng Hải.

Mao động viên:

– Tôi sẽ đến Thượng Hải ngay – ông ta nhắc – Chẳng thích thú gì ở lâu một chỗ.

Chứng hoang tưởng cục bộ của ông lại xuất hiện. Sau vài ngày ở đâu đó, ông bắt đầu lo ngại, yêu cầu đi tiếp, ngay ở Hàng Châu ông cũng cảm thấy không an toàn.

Sự thay đổi trong vai trò tham gia chính trị đã giúp chứng suy nhược thần kinh của Giang Thanh giảm nhiều, chính bà cũng xác nhận, chỉ cảm cúm qua loa, chẳng có gì nghiêm trọng. Nhưng ngay ngày hôm sau tôi đến Thượng Hải, Lâm Bưu đã xuất hiện. Lâm bảo, nghe tin Giang Thanh mệt, ông đến thăm.

Đây là lần đầu tiên tôi gặp Lâm Bưu. Ấn tượng đầu tiên với tôi là bộ quân phục ông mặc. Bộ quân phục may vừa khít như dán sát thân hình ông. Lâm Bưu vào phòng đón tiếp cùng với viên thư ký tháp tùng, cởi chiếc áo khoác dạ. Ông gày gò, dáng người nhỏ thó, nước da xanh xám. Chiếc mũ vải mềm bộ đội Lâm Bưu không bao giờ rời, thậm chí trong phòng khách để che cái đầu lơ thơ dăm sợi tóc. Ông đi đôi ủng da dày. Lâm Bưu chỉ khẽ gật đầu về phía tôi, không nói một lời nào, đến chỗ Giang Thanh. Mắt ông ta đen đến mức, dường như con ngươi và mống mắt hoà vào nhau, toát lên vẻ thần bí.

Giang Thanh ra lệnh không ai được phiền nhiễu, cả hai đàm luận trong vài giờ trong phòng đóng cửa kín. Khi đó, tôi nói chuyện với thư ký của nguyên soái, Lý Văn Phúc, qua anh ta tôi cũng biết vài thứ về thói quen và quá khứ của Lâm Bưu. Lâm Bưu và Giang Thanh có nhiều cái giống nhau. Lâm Bưu cũng mắc chứng suy nhược thần kinh, sợ gió và ánh sáng đến nỗi rất ít ra khỏi nhà. Giống như Giang Thanh, việc cuốn hút vào chính trị làm ông năng động lên. Căng thẳng đã biến mất. Bệnh tật Lâm Bưu, như tôi đoán, chủ yếu là chính trị.

Nhưng ông vẫn thường ốm đau. Tôi phát hiện điều này vài tháng sau, tháng 8-1966, khi Cách mạng văn hoá đến cao trào điên loạn, Lâm Bưu đã leo lên đỉnh cao quyền lực, Uông Đông Hưng cố gắng xây dựng liên minh với Lâm, người mà Mao dự kiến thừa kế ông. Lâm Bưu ốm, Uông yêu cầu tôi đi cùng tới thăm nguyên soái trong tư dinh ở Mao Tần Vũ.

Khi dẫn chúng tôi vào buồng, Lâm Bưu ngồi trên giường, trong vòng tay vợ và đầu ép vào ngực bà. Ông khóc, Diệp Quần an ủi, động viên như dỗ dành một đứa trẻ. Chỉ một điều này tức khắc làm thay đổi cách nhìn của tôi về Lâm Bưu – từ vị tư lệnh quân đội tài năng, cứng rắn ông biến thành kẻ thiếu tự chủ, kém bản lãnh. Hai bác sĩ Hứa Định và Vương Thế Vinh xuất hiện ngay sau khi chúng tôi đến. Diệp Quần đưa Uông Đông Hưng và tôi sang phòng khách, để các bác sĩ mới tới khám bệnh chồng bà. Họ phát hiện ra nguyên soái có sỏi thận, đưa thuốc cho ông. Cơn đau giảm nhanh chóng, ông trở lại bình thường, nhưng cái nhìn của tôi về ông không thay đổi. Việc sỏi thận đi xuống niệu quản thường gây rất đau đớn, nhưng tôi cho rằng, vị nguyên soái cần dũng cảm nén cơn đau mới đúng.

Trong khi chúng tôi đợi, Diệp Quần kể về chồng. Lâm Bưu năm 1940 nghiện thuốc phiện, sau chuyển sang morphine. Cuối năm 1949, ông sang Liên Xô điều trị. Bệnh nghiện hết, nhưng tính tình thay đổi. Lâm Bưu sợ ánh sáng, sợ gió nên ít khi ra ngoài, vì thế thường không đi hội họp. Tiếng nước chảy cũng gây cho ông đau đớn. Ông nói chung ít uống nước, Diệp Quần thường thả thịt viên vào nước, cho chồng vừa ăn vừa uống, giúp cơ thể ông nhận được nước bằng cách ấy.

Lâm Bưu không bao giờ dùng nhà cầu. Khi phát sinh cần thiết, ông dùng bô do vợ để ở nhà kho, đôi khi són ra cả quần lót, vợ phải thay giúp.

Tôi thật sự choáng, rất kinh ngạc. Lâm Bưu rõ ràng mắc bệnh tâm thần, nhưng Mao đưa Lâm Bưu lên bậc thang cao nhất của quyền lực. Chẳng bao lâu nữa, người ta sẽ chào đón ông như “người bạn chiến đấu thân thiết, gần gũi nhất” của Chủ tịch. Liệu có xảy ra điều bất hạnh gì không, một khi Lâm Bưu trở thành người lãnh đạo tối cao dân tộc.

***

Tôi ở lại Thượng Hải đến tháng Ba sau khi Giang Thanh khỏi bệnh, tại đây tôi trở thành người chứng kiến các hoạt động chính trị của bà. Lần lượt đến thăm bà là những người mang khuynh hướng cực tả, cuộc gặp gỡ tiến hành sau cánh cửa đóng chặt, sự bí mật được dấu kín, một âm mưu gì đó rất đáng ngờ. Diêu Văn Nguyên, Ban Tuyên giáo Thượng Hải viết bài phê phán Ngô Hàm về vở kịch Hải Thuỵ Từ Quan, người không được Lâm Bưu tin cẩn, đã tự im hơi lặng tiếng với vợ Chủ tịch. Thích Bản Ngư, người giữ chức giám đốc Tổng thư ký Văn phòng Trung ương, tiếp theo Quan Phong, kẻ cực tả trong ban biên tập tạp chí Hồng Kỳ.

Mao đến Thượng Hải hôm 15-3-1966. Hai hôm sau ông triệu tập một phiên họp mở rộng thường vụ Bộ chính trị, tiến hành cuộc nói chuyện về những kết luận của Giang Thanh, trong lĩnh vực Đại học, học viện và giáo dục, do các phần tử trí thức tư sản chiếm ưu thế, trong nhiều năm đã huỷ hoại tất cả những cái gì còn lại của văn hoá. Để phân tích Mao dẫn ra vở kịch của Ngô Hàm, tác giả vở kịch gây tranh cãi lớn trong dư luận “Hải Thuỵ Từ Quan”, giáo sư sử học Giang Bật Dương, Đặng Tường và chủ tịch Mặt trận thống nhất của thành phố Bắc Kinh Liêu Mạt Sa. Những trí thức đầu ngành này là đảng viên cộng sản, Mao nói, nhưng họ lại là đảng viên Quốc dân đảng trong ý nghĩ và tư cách. Ông đề nghị bắt đầu cuộc Cách mạng văn hoá trong văn hoá, lịch sử, luật học, và kinh tế. Tôi quá ngây thơ để tin rằng cuộc “cách mạng” này chỉ bó gọn trong lĩnh vực văn hoá và tưởng rằng mình biết cách đứng ngoài trận cuồng phong.

Cuối tháng 3-1966, vài ngày sau cuộc họp Bộ chính trị mở rộng, tất cả chúng tôi còn ở Thượng Hải, Mao mấy lần gặp Giang Thanh, Khang Sinh và Trương Xuân Kiều. Mao nói với họ muốn huỷ bỏ “Dự thảo báo cáo tháng Hai” của Bành Chân. “Dự thảo” làm rối tung đường lối giai cấp của đảng. Mao muốn Thành uỷ Bắc Kinh, do Bành Chân lãnh đạo, Ban Tuyên giáo do Lục Đỉnh Nhất nắm, và “Tiểu tổ Ngũ Nhân của Cách mạng văn hoá” gồm Bành Chân, Lục Đỉnh Nhất, Khang Sinh, Chu Dương và Ngô Lĩnh Hy phải giải tán, Mao nhấn mạnh, có khá nhiều nhân vật đáng nghi ngờ trong ba tổ chức trên. Mao muốn thúc đẩy, mở rộng Cách mạng văn hoá.

Mao quyết định tấn công theo hai hướng. Hướng thứ nhất giành lấy Ban thường vụ Bộ chính trị, phê bình những trí thức đầu đàn. Hướng thứ hai – bồi dưỡng thế hệ kế nhiệm, những người nằm ngoài Ban thường vụ Bộ chính trị và quan chức đảng, tập hợp quanh thành những đồng minh gần gũi nhất của ông như Giang Thanh và Khang Sinh, nhóm này sẽ vạch mặt kẻ thù của Mao kể cả trong Ban thường vụ Bộ chính trị và Ban Bí thư trung ương đảng. Hành động này không ai có thể lường trước sẽ như thế nào. Từ trước đến nay, chưa bao giờ Mao ra đòn với các nhân vật cao cấp như thế này.

Đầu tháng 4-1966 chúng tôi trở về Hàng Châu. Ở đó Mao triệu tập cuộc họp mở rộng Thường vụ Bộ chính trị. Trong cuộc họp, Mao công khai mở rộng phê phán kể cả người đứng đầu thành đảng bộ Bắc Kinh, Bành Chân. Bằng cách từ chối đọc và bình luận bản “Dự thảo báo cáo tháng Hai” của Bành Chân, bản dự thảo yêu cầu hạn chế thảo luận phê phán những vấn đề học thuật, Mao đã giăng bẫy để Bành Chân đào hố tự chôn mình. Bây giờ Chủ tịch công khai buộc Bành Chân vào tội có quan điểm chống đảng và Mao đòi giải thể “Tiểu tổ Ngũ nhân Cách mạng văn hoá” và hình thành nhóm lãnh đạo mới. Cuộc họp tháng Tư trong bầu không khí cực kỳ căng thẳng.

Tôi cảm thấy mình trong vòng nguy hiểm. Nhóm Một thay đổi nhiều, khác xưa, tôi không hiểu và cũng không tin những người mới. Mao trở thành khó tiếp cận sau bức tường, được chặn đứng bởi người đứng đầu an ninh mới, Khắc Kỳ Hữu. Uông Đông Hưng vẫn chưa thấy quay lại, tôi không gặp Uông từ buổi chia tay ở Nam Kinh ngay sau tết. Không có Uông bảo vệ, tôi dường như lạc trong biển cả.

Tôi cần gặp Uông Đông Hưng đang họp ở Hàng Châu, hỏi xem có biết những chuyện gì đang xảy ra không và nhờ Uông có vấn. Tôi muốn khuyên Uông trở về Nhóm Một.

Một đêm huya, tôi đến tìm Uông ở khách sạn Chí Linh. Khi tôi đến, ông đang trao đổi với thủ tướng Chu Ân Lai. Thấy tôi, thủ tướng khó chịu, không vui, hỏi:

– Anh có biết bây giờ mấy giờ không? Sao anh đến muộn thế này.

– Tôi muốn báo cáo cho đồng chí Uông Đông Hưng về sức khoẻ của Chủ tịch, chúng tôi mấy tháng rồi chưa gặp nhau.

– Vì sao phải báo cáo vào đêm khuya thế này? – Chu ngạc nhiên.

– Tôi đề nghị anh ta đến, thưa thủ tướng – Uông Đông Hưng can thiệp để yên lòng Chu.

– Thôi được, nhưng nhanh lên – Chu đồng ý – Đồng chí Khang Sinh và Trần Bá Đạt cũng đang ở đây. Chúng tôi không thể bắt họ chờ – Chu quay sang tôi – Khi xong việc, đề nghị đồng chí nhanh chóng quay về nhà khách Vương Trung.

Tôi không ngờ Chu Ân Lai có thể dễ nổi cáu đến thế và tự giải thích tính khí của Chu phát sinh do những lo lắng trầm trọng về chính trị. Khi tôi hỏi Uông cái gì đã xảy ra, ông từ chối trả lời.

– Anh biết đủ rồi – Uông đáp – Cái này dính đến quyền lực trung ương. Tốt hơn cả, anh đừng hỏi thêm nữa. Hãy kể cho tôi nghe sức khoẻ của Chủ tịch.

Tôi đoán, chắc đang có cuộc tranh giành quyền lực quyết liệt khó hiểu, dễ gì biết được. Tôi kể cho Uông Đông Hưng về sức khoẻ Mao, yêu cầu Uông quay về phụ trách Nhóm Một. Tôi giải thích, Trương Diêu Tự, anh chàng nhát như cáy, giờ tự phong xếp, điều hành an ninh mà chẳng được tích sự gì. Tôi không yên tâm, chừng nào Uông Đông Hưng chưa trở lại giữ vị trí này.

Nhưng Uông cảm thấy bị bắn ra khỏi Nhóm Một từ lâu. Ông muốn quay lại, nhưng không thể, chừng nào Mao chưa yêu cầu. Tuy nhiên Uông hứa đến nhà khách Vương Trung gặp nhau, khi cuộc họp kết thúc.

Tôi rất lo lắng vì đã đến khách sạn Chi Linh. Chu Ân Lai khó chịu, có thể còn có chuyện gì hơn thế nữa mà tôi không rõ. Không loại trừ vì có cuộc gặp trước với Khang Sinh và Trần Bá Đạt, hai kẻ cực tả đang khuấy tung mọi chuyện lên. Để phòng xa, tôi quyết định kể cho Mao tất cả. Nếu người ta kể với Mao về cuộc gặp gỡ của tôi, có thể ông nghĩ tôi hoạt động lén sau lưng.

– Họ làm cái gì ở đó? – Mao ngạc nhiên. Nụ cười thoáng qua môi ông, khi tôi kể hết mọi chuyện việc đến gặp Uông Đông Hưng, Chu Ân Lai yêu cầu tôi báo cáo nhanh gọn, ông có vẻ lo lắng và tôi sợ mọi người nghi ngờ tôi có điều gì mờ ám.

– Chỉ là chuyện đến thăm, tôi chẳng thấy trong cuộc gặp của đồng chí có cái gì đáng để ý cả – Mao động viên tôi.

Sự lo xa cảnh giác của tôi đã cứu mạng sống của tôi sau này. Cuối năm 1966, khi “Tiểu Tổ Cách mạng văn hoá Trung ương” mới được thành lập, đã mở rộng mục tiêu nhằm cả Uông Đông Hưng, có âm mưu cố ý kéo tôi vào. Trong khi mỗi cuộc gặp gỡ đều được coi là âm mưu, kể cả gặp bạn, gặp người quen gặp đồng nghiệp của người bị buộc tội, đều bị họ đặt dưới sự nghi ngờ. Tay bảo vệ khách sạn, thấy tôi đến khách sạn Chí Linh, viết báo cáo cho Khang Sinh, khẳng định tôi cùng với Uông Đông Hưng và Chu Ân Lai tham gia vào một âm mưu gì đấy tại khách sạn, có thể tôi chuyển cho họ tin tức bí mật. Khang Sinh viết thư cho Chủ tịch.

Mao cho tôi xem thư, yêu cầu chuyển Uông Đông Hưng cất kín. Mao nói:

– Anh đã báo cáo với tôi về cuộc viếng thăm này.

Mao bảo vệ cả tôi và Uông Đông Hưng. Vụ việc bị chôn luôn.

Thường vụ Bộ chính trị mở rộng lại họp ngày 24 tháng 4 năm 1966. Mao đưa ra thảo luận một tài liệu mới, do Trần Bá Đạt thảo ra. Đó là “Chỉ thị của Ban chấp hành Đảng cộng sản Trung Quốc”, được Mao chấp bút. Mục đích chính của chỉ thị, thủ tiêu bản Dự thảo Báo cáo tháng Hai của Bành Chân đã nhấn mạnh cuộc tranh luận có tính chất “học thuật” và nghệ thuật thuần tuý thông qua nhân vật Hải Thuỵ để giải tán tổ chức Tiểu Tổ Ngũ Nhân Cách mạng văn hoá do Bành Chân lãnh đạo. Tiểu Tổ Cách mạng văn hoá mới thành lập, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban thường trực Bộ chính trị. Mục tiêu của Cách mạng văn hoá thay đổi. Phong trào không đưa ra vấn đề học thuật, Mao phát động chiến dịch, với khẩu hiệu “Tấn công trực diện không khoan nhượng” vào các phần tử tư sản trong đảng, chính quyền và quân đội.

Chỉ thị được trình Bộ chính trị xem xét trong cuộc họp mở rộng ban thường trực Bộ chính trị từ ngày 4 đến 26 tháng 5. Chỉ thị được thông qua ngày 16-5, trở thành ngọn đuốc dẫn đường của Cách mạng văn hoá, người ta gọi “Chỉ thị 16 tháng 5”.

Mao không dự hội nghị, chúng tôi vẫn ở Hàng Châu. Khi Mao cho tôi xem danh sách các thành viên mới của “Tiểu Tổ Cách mạng văn hoá Trung ương”, tim tôi rụng rời. Lãnh đạo nhóm là Trần Bá Đạt, kẻ cực hữu, Khang Sinh giữ chức cố vấn. Giang Thanh được bổ nhiệm phó ban thứ nhất của Trần Bá Đạt. Những người nịnh nọt Vương Trọng Nhiệm, thị trưởng Thượng Hải, Trương Xuân Kiều làm phó, các thành viên gồm Vương Lí, Quan Phong, Khắc Kỳ Hữu và Diêu Văn Nguyên, tất cả đều thuộc phái cực tả. Vương Trọng Nhiệm do Mao bổ xung thêm.

Sự trao việc Giang Thanh làm tôi đặc biệt lo ngại. Bà ta đã nhận được sự thoả mãn lớn là phát hiện “những phần tử tư sản” trong đảng và giờ đây, được mang quyền lực thực sự, có thể sử dụng chiến dịch chính trị để thanh toán kẻ thù của mình. Mối quan hệ của chúng tôi tiếp tục xấu đi bắt đầu từ 1960, giờ đây Giang Thanh có thể gây cho tôi và gia đình tôi nhiều rắc rối.

Mao biết, Giang Thanh có tính thù hận và trả thù vặt như thế nào. Ông khuyên tôi làm lành với bà ta cũng như đã làm điều này với Mao Viên Tân, cháu ông. Chàng trai này từ lúc còn trẻ rất ghét Giang Thanh, nghỉ hè thường chạy vào Trung Nam Hải, nhưng chẳng thèm chào hỏi bác gái. Nhưng khi bắt đầu có cuộc Cách mạng văn hoá, Viên Tân viết cho Mao một bức thư xin lỗi. Trong thư viết, Viên Tân nhận ra rằng Giang Thanh, người học trò trung thành nhất của Mao rồi kết luận, chàng ta biết ơn bà với lòng kính trọng sâu sắc.

Mao hài lòng, đưa thư cho Giang Thanh xem.

Viên Tân, hồi ấy là sinh viên Trường kỹ thuật quân đội Đông Bắc Trung Quốc, đã thể hiện một chính trị gia sảo quyệt. Giang Thanh chấp nhận lời xin lỗi của đứa cháu, kéo nó vào sự che chở và ít lâu sau phong chức thiếu uý. Khi Giang Thanh tiến hành chiến tranh với các đối thủ của mình. Mao Viên Tân trở thành cánh tay đắc lực, nhanh chóng được thăng tiến qua các cấp bậc quân đội. Qua một vài năm, người ta đề bạt anh ta làm chính uỷ quân khu Xương Sơn ở Mãn Châu Lý.

Mao bóng gió rằng tôi cũng nên cố gắng chiếm lấy sự bảo trợ của vợ ông. Nhưng sự bất đồng của tôi với Giang Thanh không thể giải quyết dễ dàng như thế. Mao Viên Tân là cháu của chồng, Giang Thanh kiểu gì đi nữa cũng phải tính đến điều này.

Tôi cũng không thể cho phép mình quỵ luỵ trước bà ta. Tôi biết bà ta cũng chờ đợi cơ hội thuận lợi để quật. Điều này dẫn tôi đến cái chết không tránh được. Tôi cần phải tìm được sự bảo vệ.

 

Chương 59

mao4

Sau cuộc họp với Bành Chân và Lục Đỉnh Nhất, Mao trở nên cáu kỉnh và cảnh giác. Ngay cả những viên thuốc ngủ cũng không thể giúp được gì. Mao làm việc 24 giờ một ngày, cho tới khi kiệt sức hoàn toàn. Điều này ảnh hưởng tới khẩu vị, cả ngày ông ăn có một bữa và ăn rất ít. Tôi tăng một chút liều lượng trong thuốc ngủ cho ông. Việc này làm tôi không yên tâm, nhưng càng lo hơn khi biết con người ta càng có tuổi càng ít ngủ. Sau một tuần lễ, khẩu vị và giấc ngủ của Mao trở lại bình thường, tôi bắt đầu bình tâm.

Ngay lúc sự mối lo nghề nghiệp của tôi đang giảm đi, tôi đụng phải vấn đề mới với Trương Ngọc Phượng.

– Chủ tịch nghĩ rằng ban đêm có ai đó ở trên trần nhà. Đêm đêm ông nghe thấy trên trần có một tiếng động di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác.

Tôi gần như bật cười. Vâng, chuyện vô lý. Làm thế nào người ta có thể chui vào trần nhà được? Chủ tịch được bao bọc bởi một bức tường an ninh chắc chắn. Nhưng Trương Ngọc Phượng không yên tâm, huống chi Mao.

Tôi biết, người chẳng có thể chui thể trong trần nhà? Chuột hoặc mèo hoang? Một anh bảo vệ nhớ lại điều này, khi thảo luận biện pháp an ninh cho Mao. Người lính này đã để ý nhìn thấy dấu chân, có thể thuộc mèo hoang.

Bảo vệ đặt bẫy, dùng cá làm mồi. Ngày thứ hai chiến công đã không phụ công sức của họ. Bắt được hai con mèo rừng – Con lớn to gần bằng con báo con, còn con kia bằng con mèo nhà to. Biệt thự ở Vũ Hán xây dựng trong một cánh rừng, dành cho Mao và thường bỏ hoang. Những con mèo rừng lang thang cũng tận dụng cơ hội này, chẳng ai biết.

Khi người ta trưng bày những con vật chết cho mọi người xem, tôi nghĩ, giờ đây chắc Mao yên tâm. Nhưng sự lo sợ không dễ mất đi. Mao vẫn còn bồn chồn lo lắng, ông cho vẫn còn ai đó trên trần nhà. Mao đòi đi ngay.

Sau vài giờ bẫy được mèo rừng, chúng tôi đã trên đường đến Hàng Châu.

Mao chưa trở lại bình thường ngay cả khi ở Hàng Châu. Tôi cảm nhận, dù không có tin tức cụ thể, nhưng tin bầu không khí chính trị không được cải thiện. Ngay sau khi đến, tôi hiểu, Mao gọi Diệp Quần từ Quý Châu, nơi bà và Lâm Bưu thường ở đó.

Ngày hôm sau, Diệp Quần bay đến, ngồi lại với Chủ tịch sau cánh cửa kín ba giờ liền, sau đó quay về. Không ai có mặt trong cuộc trao đổi mật, Mao và Diệp Quần không thông báo cho bất kỳ người nào của Nhóm Một biết họ bàn về cái gì. Chính trong ngày hôm ấy, trong bữa cơm chiều cùng ăn với Chủ tịch, ông bảo:

– Tôi không biết Đặng Tiểu Bình điều hành Ban bí thư Trung ương kiểu gì ráo trọi! – Mao nói trong bữa ăn – Chỗ ông ta có nhiều người tôi rất khả nghi, bây giờ tôi nghi cả ông ấy. Bành Chân khả nghi số một. Bành Chân kiểm soát đảng bộ thành phố Bắc Kinh chặt đến nỗi không ai có thể xuyên qua dù một lỗ nhỏ, thậm chí dùng kim hay giỏ giọt nước cũng không qua nổi. Lục Đỉnh Nhất kiểm soát Ban Tuyên giáo chặt chẽ như quản ngục, không cho một bài viết tả khuynh nào thoát lưới kiểm duyệt. Lại cả La Thuỵ Khanh, người ra sức quấy đảo ngăn cản khẩu hiệu “Lấy chính trị làm thống soái”, lại còn tuyên truyền chủ nghĩa cơ hội. Cả Dương Thượng Côn bận rộn thu thập và phổ biến những tin tức.

Từ khi phát hiện hệ thống nghe lén, Mao quy kết Dương Thượng Côn làm gián điệp, cả bí thư trung ương nữa, Đặng Tiểu Bình, Mao giận dữ kết luận.

Những ngày sau, Giang Thanh gặp Mao. Tôi để ý, bà bắt đầu thay đổi từ năm 1962 nhưng bây giờ thay đổi hoàn toàn. Bà bước những bước chắc nịch, lưng cố giữ thẳng, không nhận thấy một chút biểu hiện nào bệnh tật của bà trước đây. Giang Thanh phớt lờ sự có mặt của tôi, đôi khi kiêu kỳ nghiêng đầu khẽ gật khi đi ngang qua hoặc chạn trán nhau. Gần đây bà giảm người phục vụ, còn một y tá, một cần vụ và một vệ sĩ người Thượng Hải. Bà cũng hết phàn nàn về sức khoẻ, cô y tá của bà nói với tôi trong lúc chờ bà quay ra. Giang Thanh giờ đây chẳng quan tâm ánh đèn quá sáng, tiếng ồn và gió lùa. Cơn đau đầu cũng tan biến. Bà không đeo cả hoa tai, cũng chẳng cần bác sĩ phục vụ nữa.

Mao Hồ

Cuộc viếng thăm chồng thật ngắn ngủi, Giang Thanh lập tức đi ngay Thượng Hải. Vài ngày sau, bà đến lần thứ hai, tôi hiểu, họ có chuyện gì đang bàn luận.

Lâm Bưu và Giang Thanh liên minh với nhau. Hai người triệu tập ở Thượng Hải một cuộc họp từ 2 đến 20 tháng 2-1966, để thảo luận sự phát triển văn hoá nghệ thuật do quân đội ủng hộ. Giang Thanh tham khảo ý kiến Mao, báo cáo về cuộc họp. Mao đưa tôi đọc qua các tài liệu tóm tắt.

Bài phát biểu có lẽ do chính Chủ tịch viết. Đó là cuộc tấn công vào Lục Đỉnh Nhất, cảnh cáo rằng từ khi thành lập nước Cộng hoà nhân dân “trong lĩnh vực văn hoá, hầu hết các giáo sư như một lực lượng đen tối, mưu toan thống lĩnh chính sách của chúng ta”. Cái làm tôi ngạc nhiên không phải vì nội dung văn kiện mà là mối quan hệ mới giữa Giang Thanh và Lâm Bưu: Con đường của vị nguyên soái đi đến quyền lực phải qua tay vợ Chủ tịch. Lâm Bưu chiếm được sự ủng hộ của Mao, bằng cách o bế, lấy cảm tình của vợ Mao trước tiên. Một cách thường dùng trong lịch sử Trung Quốc, đó là con đường lắt léo, tôi chưa khi nào tin vào những người theo con đường ấy. Lâm Bưu muốn đưa vợ Chủ tịch đến quyền lực. Ngay từ buổi đầu, tôi đã khó chịu, vì khi đạt được quyền lực Giang Thanh có thể trở nên cực kỳ nguy hiểm.

Tôi chưa gặp Lâm Bưu bao giờ, thậm chí chưa một lần giáp mặt. Mặc dù Lâm Bưu nắm giữ một số chức vụ cao, nhưng sống ẩn dật, ít có mặt nơi làm việc, thậm chí không đến Thiên An Môn dự lễ ngày 1-5 hay quốc khánh. Trong “Hội nghị Bẩy ngàn cán bộ” tôi ngồi sau hậu trường, nghe bài phát biểu của ông ta. Đó là lần duy nhất tôi nhìn thấy lưng ông. Nhưng ông, một trong mười nguyên soái nổi tiếng, xuất sắc, mạnh mẽ, cương quyết và tàn bạo. Trước kia, tôi ngưỡng mộ thiên tài quân sự của vị tướng quân. Giờ đây, liên minh của Lâm Bưu với Giang Thanh cho phép tôi có điều kiện gặp ông thường xuyên.

Tháng 3-1966, ngay sau khi thăm chồng, Giang Thanh bị cảm, gọi tôi đến Thượng Hải.

Mao động viên:

– Tôi sẽ đến Thượng Hải ngay – ông ta nhắc – Chẳng thích thú gì ở lâu một chỗ.

Chứng hoang tưởng cục bộ của ông lại xuất hiện. Sau vài ngày ở đâu đó, ông bắt đầu lo ngại, yêu cầu đi tiếp, ngay ở Hàng Châu ông cũng cảm thấy không an toàn.

Sự thay đổi trong vai trò tham gia chính trị đã giúp chứng suy nhược thần kinh của Giang Thanh giảm nhiều, chính bà cũng xác nhận, chỉ cảm cúm qua loa, chẳng có gì nghiêm trọng. Nhưng ngay ngày hôm sau tôi đến Thượng Hải, Lâm Bưu đã xuất hiện. Lâm bảo, nghe tin Giang Thanh mệt, ông đến thăm.

Đây là lần đầu tiên tôi gặp Lâm Bưu. Ấn tượng đầu tiên với tôi là bộ quân phục ông mặc. Bộ quân phục may vừa khít như dán sát thân hình ông. Lâm Bưu vào phòng đón tiếp cùng với viên thư ký tháp tùng, cởi chiếc áo khoác dạ. Ông gày gò, dáng người nhỏ thó, nước da xanh xám. Chiếc mũ vải mềm bộ đội Lâm Bưu không bao giờ rời, thậm chí trong phòng khách để che cái đầu lơ thơ dăm sợi tóc. Ông đi đôi ủng da dày. Lâm Bưu chỉ khẽ gật đầu về phía tôi, không nói một lời nào, đến chỗ Giang Thanh. Mắt ông ta đen đến mức, dường như con ngươi và mống mắt hoà vào nhau, toát lên vẻ thần bí.

Giang Thanh ra lệnh không ai được phiền nhiễu, cả hai đàm luận trong vài giờ trong phòng đóng cửa kín. Khi đó, tôi nói chuyện với thư ký của nguyên soái, Lý Văn Phúc, qua anh ta tôi cũng biết vài thứ về thói quen và quá khứ của Lâm Bưu. Lâm Bưu và Giang Thanh có nhiều cái giống nhau. Lâm Bưu cũng mắc chứng suy nhược thần kinh, sợ gió và ánh sáng đến nỗi rất ít ra khỏi nhà. Giống như Giang Thanh, việc cuốn hút vào chính trị làm ông năng động lên. Căng thẳng đã biến mất. Bệnh tật Lâm Bưu, như tôi đoán, chủ yếu là chính trị.

Nhưng ông vẫn thường ốm đau. Tôi phát hiện điều này vài tháng sau, tháng 8-1966, khi Cách mạng văn hoá đến cao trào điên loạn, Lâm Bưu đã leo lên đỉnh cao quyền lực, Uông Đông Hưng cố gắng xây dựng liên minh với Lâm, người mà Mao dự kiến thừa kế ông. Lâm Bưu ốm, Uông yêu cầu tôi đi cùng tới thăm nguyên soái trong tư dinh ở Mao Tần Vũ.

Khi dẫn chúng tôi vào buồng, Lâm Bưu ngồi trên giường, trong vòng tay vợ và đầu ép vào ngực bà. Ông khóc, Diệp Quần an ủi, động viên như dỗ dành một đứa trẻ. Chỉ một điều này tức khắc làm thay đổi cách nhìn của tôi về Lâm Bưu – từ vị tư lệnh quân đội tài năng, cứng rắn ông biến thành kẻ thiếu tự chủ, kém bản lãnh. Hai bác sĩ Hứa Định và Vương Thế Vinh xuất hiện ngay sau khi chúng tôi đến. Diệp Quần đưa Uông Đông Hưng và tôi sang phòng khách, để các bác sĩ mới tới khám bệnh chồng bà. Họ phát hiện ra nguyên soái có sỏi thận, đưa thuốc cho ông. Cơn đau giảm nhanh chóng, ông trở lại bình thường, nhưng cái nhìn của tôi về ông không thay đổi. Việc sỏi thận đi xuống niệu quản thường gây rất đau đớn, nhưng tôi cho rằng, vị nguyên soái cần dũng cảm nén cơn đau mới đúng.

Trong khi chúng tôi đợi, Diệp Quần kể về chồng. Lâm Bưu năm 1940 nghiện thuốc phiện, sau chuyển sang morphine. Cuối năm 1949, ông sang Liên Xô điều trị. Bệnh nghiện hết, nhưng tính tình thay đổi. Lâm Bưu sợ ánh sáng, sợ gió nên ít khi ra ngoài, vì thế thường không đi hội họp. Tiếng nước chảy cũng gây cho ông đau đớn. Ông nói chung ít uống nước, Diệp Quần thường thả thịt viên vào nước, cho chồng vừa ăn vừa uống, giúp cơ thể ông nhận được nước bằng cách ấy.

Lâm Bưu không bao giờ dùng nhà cầu. Khi phát sinh cần thiết, ông dùng bô do vợ để ở nhà kho, đôi khi són ra cả quần lót, vợ phải thay giúp.

Tôi thật sự choáng, rất kinh ngạc. Lâm Bưu rõ ràng mắc bệnh tâm thần, nhưng Mao đưa Lâm Bưu lên bậc thang cao nhất của quyền lực. Chẳng bao lâu nữa, người ta sẽ chào đón ông như “người bạn chiến đấu thân thiết, gần gũi nhất” của Chủ tịch. Liệu có xảy ra điều bất hạnh gì không, một khi Lâm Bưu trở thành người lãnh đạo tối cao dân tộc.

Mao và Đặng Tiểu Bình

***

Tôi ở lại Thượng Hải đến tháng Ba sau khi Giang Thanh khỏi bệnh, tại đây tôi trở thành người chứng kiến các hoạt động chính trị của bà. Lần lượt đến thăm bà là những người mang khuynh hướng cực tả, cuộc gặp gỡ tiến hành sau cánh cửa đóng chặt, sự bí mật được dấu kín, một âm mưu gì đó rất đáng ngờ. Diêu Văn Nguyên, Ban Tuyên giáo Thượng Hải viết bài phê phán Ngô Hàm về vở kịch Hải Thuỵ Từ Quan, người không được Lâm Bưu tin cẩn, đã tự im hơi lặng tiếng với vợ Chủ tịch. Thích Bản Ngư, người giữ chức giám đốc Tổng thư ký Văn phòng Trung ương, tiếp theo Quan Phong, kẻ cực tả trong ban biên tập tạp chí Hồng Kỳ.

Mao đến Thượng Hải hôm 15-3-1966. Hai hôm sau ông triệu tập một phiên họp mở rộng thường vụ Bộ chính trị, tiến hành cuộc nói chuyện về những kết luận của Giang Thanh, trong lĩnh vực Đại học, học viện và giáo dục, do các phần tử trí thức tư sản chiếm ưu thế, trong nhiều năm đã huỷ hoại tất cả những cái gì còn lại của văn hoá. Để phân tích Mao dẫn ra vở kịch của Ngô Hàm, tác giả vở kịch gây tranh cãi lớn trong dư luận “Hải Thuỵ Từ Quan”, giáo sư sử học Giang Bật Dương, Đặng Tường và chủ tịch Mặt trận thống nhất của thành phố Bắc Kinh Liêu Mạt Sa. Những trí thức đầu ngành này là đảng viên cộng sản, Mao nói, nhưng họ lại là đảng viên Quốc dân đảng trong ý nghĩ và tư cách. Ông đề nghị bắt đầu cuộc Cách mạng văn hoá trong văn hoá, lịch sử, luật học, và kinh tế. Tôi quá ngây thơ để tin rằng cuộc “cách mạng” này chỉ bó gọn trong lĩnh vực văn hoá và tưởng rằng mình biết cách đứng ngoài trận cuồng phong.

Cuối tháng 3-1966, vài ngày sau cuộc họp Bộ chính trị mở rộng, tất cả chúng tôi còn ở Thượng Hải, Mao mấy lần gặp Giang Thanh, Khang Sinh và Trương Xuân Kiều. Mao nói với họ muốn huỷ bỏ “Dự thảo báo cáo tháng Hai” của Bành Chân. “Dự thảo” làm rối tung đường lối giai cấp của đảng. Mao muốn Thành uỷ Bắc Kinh, do Bành Chân lãnh đạo, Ban Tuyên giáo do Lục Đỉnh Nhất nắm, và “Tiểu tổ Ngũ Nhân của Cách mạng văn hoá” gồm Bành Chân, Lục Đỉnh Nhất, Khang Sinh, Chu Dương và Ngô Lĩnh Hy phải giải tán, Mao nhấn mạnh, có khá nhiều nhân vật đáng nghi ngờ trong ba tổ chức trên. Mao muốn thúc đẩy, mở rộng Cách mạng văn hoá.

Mao quyết định tấn công theo hai hướng. Hướng thứ nhất giành lấy Ban thường vụ Bộ chính trị, phê bình những trí thức đầu đàn. Hướng thứ hai – bồi dưỡng thế hệ kế nhiệm, những người nằm ngoài Ban thường vụ Bộ chính trị và quan chức đảng, tập hợp quanh thành những đồng minh gần gũi nhất của ông như Giang Thanh và Khang Sinh, nhóm này sẽ vạch mặt kẻ thù của Mao kể cả trong Ban thường vụ Bộ chính trị và Ban Bí thư trung ương đảng. Hành động này không ai có thể lường trước sẽ như thế nào. Từ trước đến nay, chưa bao giờ Mao ra đòn với các nhân vật cao cấp như thế này.

Đầu tháng 4-1966 chúng tôi trở về Hàng Châu. Ở đó Mao triệu tập cuộc họp mở rộng Thường vụ Bộ chính trị. Trong cuộc họp, Mao công khai mở rộng phê phán kể cả người đứng đầu thành đảng bộ Bắc Kinh, Bành Chân. Bằng cách từ chối đọc và bình luận bản “Dự thảo báo cáo tháng Hai” của Bành Chân, bản dự thảo yêu cầu hạn chế thảo luận phê phán những vấn đề học thuật, Mao đã giăng bẫy để Bành Chân đào hố tự chôn mình. Bây giờ Chủ tịch công khai buộc Bành Chân vào tội có quan điểm chống đảng và Mao đòi giải thể “Tiểu tổ Ngũ nhân Cách mạng văn hoá” và hình thành nhóm lãnh đạo mới. Cuộc họp tháng Tư trong bầu không khí cực kỳ căng thẳng.

Tôi cảm thấy mình trong vòng nguy hiểm. Nhóm Một thay đổi nhiều, khác xưa, tôi không hiểu và cũng không tin những người mới. Mao trở thành khó tiếp cận sau bức tường, được chặn đứng bởi người đứng đầu an ninh mới, Khắc Kỳ Hữu. Uông Đông Hưng vẫn chưa thấy quay lại, tôi không gặp Uông từ buổi chia tay ở Nam Kinh ngay sau tết. Không có Uông bảo vệ, tôi dường như lạc trong biển cả.

Tôi cần gặp Uông Đông Hưng đang họp ở Hàng Châu, hỏi xem có biết những chuyện gì đang xảy ra không và nhờ Uông có vấn. Tôi muốn khuyên Uông trở về Nhóm Một.

Một đêm huya, tôi đến tìm Uông ở khách sạn Chí Linh. Khi tôi đến, ông đang trao đổi với thủ tướng Chu Ân Lai. Thấy tôi, thủ tướng khó chịu, không vui, hỏi:

– Anh có biết bây giờ mấy giờ không? Sao anh đến muộn thế này.

– Tôi muốn báo cáo cho đồng chí Uông Đông Hưng về sức khoẻ của Chủ tịch, chúng tôi mấy tháng rồi chưa gặp nhau.

– Vì sao phải báo cáo vào đêm khuya thế này? – Chu ngạc nhiên.

– Tôi đề nghị anh ta đến, thưa thủ tướng – Uông Đông Hưng can thiệp để yên lòng Chu.

– Thôi được, nhưng nhanh lên – Chu đồng ý – Đồng chí Khang Sinh và Trần Bá Đạt cũng đang ở đây. Chúng tôi không thể bắt họ chờ – Chu quay sang tôi – Khi xong việc, đề nghị đồng chí nhanh chóng quay về nhà khách Vương Trung.

Tôi không ngờ Chu Ân Lai có thể dễ nổi cáu đến thế và tự giải thích tính khí của Chu phát sinh do những lo lắng trầm trọng về chính trị. Khi tôi hỏi Uông cái gì đã xảy ra, ông từ chối trả lời.

– Anh biết đủ rồi – Uông đáp – Cái này dính đến quyền lực trung ương. Tốt hơn cả, anh đừng hỏi thêm nữa. Hãy kể cho tôi nghe sức khoẻ của Chủ tịch.

Tôi đoán, chắc đang có cuộc tranh giành quyền lực quyết liệt khó hiểu, dễ gì biết được. Tôi kể cho Uông Đông Hưng về sức khoẻ Mao, yêu cầu Uông quay về phụ trách Nhóm Một. Tôi giải thích, Trương Diêu Tự, anh chàng nhát như cáy, giờ tự phong xếp, điều hành an ninh mà chẳng được tích sự gì. Tôi không yên tâm, chừng nào Uông Đông Hưng chưa trở lại giữ vị trí này.

Nhưng Uông cảm thấy bị bắn ra khỏi Nhóm Một từ lâu. Ông muốn quay lại, nhưng không thể, chừng nào Mao chưa yêu cầu. Tuy nhiên Uông hứa đến nhà khách Vương Trung gặp nhau, khi cuộc họp kết thúc.

Tôi rất lo lắng vì đã đến khách sạn Chi Linh. Chu Ân Lai khó chịu, có thể còn có chuyện gì hơn thế nữa mà tôi không rõ. Không loại trừ vì có cuộc gặp trước với Khang Sinh và Trần Bá Đạt, hai kẻ cực tả đang khuấy tung mọi chuyện lên. Để phòng xa, tôi quyết định kể cho Mao tất cả. Nếu người ta kể với Mao về cuộc gặp gỡ của tôi, có thể ông nghĩ tôi hoạt động lén sau lưng.

– Họ làm cái gì ở đó? – Mao ngạc nhiên. Nụ cười thoáng qua môi ông, khi tôi kể hết mọi chuyện việc đến gặp Uông Đông Hưng, Chu Ân Lai yêu cầu tôi báo cáo nhanh gọn, ông có vẻ lo lắng và tôi sợ mọi người nghi ngờ tôi có điều gì mờ ám.

– Chỉ là chuyện đến thăm, tôi chẳng thấy trong cuộc gặp của đồng chí có cái gì đáng để ý cả – Mao động viên tôi.

Sự lo xa cảnh giác của tôi đã cứu mạng sống của tôi sau này. Cuối năm 1966, khi “Tiểu Tổ Cách mạng văn hoá Trung ương” mới được thành lập, đã mở rộng mục tiêu nhằm cả Uông Đông Hưng, có âm mưu cố ý kéo tôi vào. Trong khi mỗi cuộc gặp gỡ đều được coi là âm mưu, kể cả gặp bạn, gặp người quen gặp đồng nghiệp của người bị buộc tội, đều bị họ đặt dưới sự nghi ngờ. Tay bảo vệ khách sạn, thấy tôi đến khách sạn Chí Linh, viết báo cáo cho Khang Sinh, khẳng định tôi cùng với Uông Đông Hưng và Chu Ân Lai tham gia vào một âm mưu gì đấy tại khách sạn, có thể tôi chuyển cho họ tin tức bí mật. Khang Sinh viết thư cho Chủ tịch.

Mao cho tôi xem thư, yêu cầu chuyển Uông Đông Hưng cất kín. Mao nói:

– Anh đã báo cáo với tôi về cuộc viếng thăm này.

Mao bảo vệ cả tôi và Uông Đông Hưng. Vụ việc bị chôn luôn.

Thường vụ Bộ chính trị mở rộng lại họp ngày 24 tháng 4 năm 1966. Mao đưa ra thảo luận một tài liệu mới, do Trần Bá Đạt thảo ra. Đó là “Chỉ thị của Ban chấp hành Đảng cộng sản Trung Quốc”, được Mao chấp bút. Mục đích chính của chỉ thị, thủ tiêu bản Dự thảo Báo cáo tháng Hai của Bành Chân đã nhấn mạnh cuộc tranh luận có tính chất “học thuật” và nghệ thuật thuần tuý thông qua nhân vật Hải Thuỵ để giải tán tổ chức Tiểu Tổ Ngũ Nhân Cách mạng văn hoá do Bành Chân lãnh đạo. Tiểu Tổ Cách mạng văn hoá mới thành lập, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban thường trực Bộ chính trị. Mục tiêu của Cách mạng văn hoá thay đổi. Phong trào không đưa ra vấn đề học thuật, Mao phát động chiến dịch, với khẩu hiệu “Tấn công trực diện không khoan nhượng” vào các phần tử tư sản trong đảng, chính quyền và quân đội.

Chỉ thị được trình Bộ chính trị xem xét trong cuộc họp mở rộng ban thường trực Bộ chính trị từ ngày 4 đến 26 tháng 5. Chỉ thị được thông qua ngày 16-5, trở thành ngọn đuốc dẫn đường của Cách mạng văn hoá, người ta gọi “Chỉ thị 16 tháng 5”.

Mao không dự hội nghị, chúng tôi vẫn ở Hàng Châu. Khi Mao cho tôi xem danh sách các thành viên mới của “Tiểu Tổ Cách mạng văn hoá Trung ương”, tim tôi rụng rời. Lãnh đạo nhóm là Trần Bá Đạt, kẻ cực hữu, Khang Sinh giữ chức cố vấn. Giang Thanh được bổ nhiệm phó ban thứ nhất của Trần Bá Đạt. Những người nịnh nọt Vương Trọng Nhiệm, thị trưởng Thượng Hải, Trương Xuân Kiều làm phó, các thành viên gồm Vương Lí, Quan Phong, Khắc Kỳ Hữu và Diêu Văn Nguyên, tất cả đều thuộc phái cực tả. Vương Trọng Nhiệm do Mao bổ xung thêm.

Sự trao việc Giang Thanh làm tôi đặc biệt lo ngại. Bà ta đã nhận được sự thoả mãn lớn là phát hiện “những phần tử tư sản” trong đảng và giờ đây, được mang quyền lực thực sự, có thể sử dụng chiến dịch chính trị để thanh toán kẻ thù của mình. Mối quan hệ của chúng tôi tiếp tục xấu đi bắt đầu từ 1960, giờ đây Giang Thanh có thể gây cho tôi và gia đình tôi nhiều rắc rối.

Mao biết, Giang Thanh có tính thù hận và trả thù vặt như thế nào. Ông khuyên tôi làm lành với bà ta cũng như đã làm điều này với Mao Viên Tân, cháu ông. Chàng trai này từ lúc còn trẻ rất ghét Giang Thanh, nghỉ hè thường chạy vào Trung Nam Hải, nhưng chẳng thèm chào hỏi bác gái. Nhưng khi bắt đầu có cuộc Cách mạng văn hoá, Viên Tân viết cho Mao một bức thư xin lỗi. Trong thư viết, Viên Tân nhận ra rằng Giang Thanh, người học trò trung thành nhất của Mao rồi kết luận, chàng ta biết ơn bà với lòng kính trọng sâu sắc.

Mao hài lòng, đưa thư cho Giang Thanh xem.

Viên Tân, hồi ấy là sinh viên Trường kỹ thuật quân đội Đông Bắc Trung Quốc, đã thể hiện một chính trị gia sảo quyệt. Giang Thanh chấp nhận lời xin lỗi của đứa cháu, kéo nó vào sự che chở và ít lâu sau phong chức thiếu uý. Khi Giang Thanh tiến hành chiến tranh với các đối thủ của mình. Mao Viên Tân trở thành cánh tay đắc lực, nhanh chóng được thăng tiến qua các cấp bậc quân đội. Qua một vài năm, người ta đề bạt anh ta làm chính uỷ quân khu Xương Sơn ở Mãn Châu Lý.

Mao bóng gió rằng tôi cũng nên cố gắng chiếm lấy sự bảo trợ của vợ ông. Nhưng sự bất đồng của tôi với Giang Thanh không thể giải quyết dễ dàng như thế. Mao Viên Tân là cháu của chồng, Giang Thanh kiểu gì đi nữa cũng phải tính đến điều này.

Tôi cũng không thể cho phép mình quỵ luỵ trước bà ta. Tôi biết bà ta cũng chờ đợi cơ hội thuận lợi để quật. Điều này dẫn tôi đến cái chết không tránh được. Tôi cần phải tìm được sự bảo vệ.

 

Chương 60

 

Tháng 5-1966, ngay sau khi bùng lên ngọn lửa đấu tranh chính trị, Mao lui vào bóng tối.

– Tôi để những người khác tham gia chính trị – Mao tâm sự với tôi kế hoạch của ông vài ngày sau khi phê chuẩn “Chỉ thị 16-5” – Bây giờ chúng ta chuẩn bị đi nghỉ mát.

Đó là một chiến lược quen thuộc, ông lùi bước nằm im, chờ những con rắn độc – kẻ thù của ông – bò ra khỏi hang. Chúng tôi đi Hàng Châu, tránh xa cuộc đấu đá chính trị.

Sự lùi bước của Mao chẳng đem lại sự ổn định ghế ngồi của nhà lãnh đạo đảng. Cách mạng văn hoá cần sự chỉ đạo của ông, hơn nữa mục đích thật sự của Mao, tôi nghĩ, vẫn còn là điều bí mật đối với đa số lãnh tụ cao cấp. Đầu tháng 6, Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình đến Hàng Châu, báo cáo Mao về sự phát triển của phong trào, xin hướng chỉ đạo trực tiếp phải làm gì tiếp theo.

– Tôi mặc họ tự giải quyết- Chủ tịch nói với tôi, sau khi hai người ra về – Tôi cần nghỉ ngơi.

Việc Mao lùi vào bóng tối báo trước điềm gở. Thiếu sự chỉ đạo của Mao, đảng sẽ rơi vào sự hỗn loạn.

Mao đang phấn chấn, vui vẻ nghỉ ngơi ở Hàng Châu. Chính quyền tỉnh Triết Giang thường xuyên tổ chức những buổi dạ vũ hội. Ông được đưa lên đồi Đĩnh Gia gần biệt thự của mình. Nhưng Chủ tịch thường trầm ngâm, im lặng, như đang nghĩ chuyện gì lung lắm. Giữa tháng Sáu, Mao lại nghĩ đến đi tiếp. Lần này, về quê ông Sào Sơn, chúng tôi đến đây ngày 18-6.

Lần cuối cùng Mao đến Sào Sơn vào năm 1959. Bí thư thứ nhất Văn phòng trung ương đảng Đào Chú đã xây cho Chủ tịch một biệt thự mới ở chỗ gọi là Động Đình Thuý. Mao nói, khi nào từ chức, muốn được sống ở Sào Sơn, trong ngôi nhà mái rạ. Biệt thự Đào Chú xây lên, đã trả lời mong ước của ông.

Động Đình Thuý là một góc nhỏ ấm cúng nằm ở chân đồi. Rừng và các bụi cây bao quanh, ngăn cách thế giới bên ngoài. Mao biết rõ vùng này. Thuở nhỏ, kiếm củi trong rừng, ông vẫn còn nhớ đã từng quỳ lạy trước tảng lớn, Đá Bà trên đỉnh đồi Trống Cái. Mao thường leo vào đền “Hổ phục”, xây trên đỉnh đồi bên cạnh.

Bắc Kinh xa cách hẳn động Đình Thuý, tin tức đến với ông rất khó. Các giao liên đặc biệt chuyển tài liệu phải qua hai hay ba ngày mới tới. Tôi sốt ruột muốn biết chuyện gì đang xảy ra, nên gãi chuyện anh chàng giao liên. Thủ đô rơi vào tình trạng hỗn loạn. Trường học đóng cửa, sinh viên xuống đường, thành phố bị đập phá. Không ai kiểm soát được tình hình. Tôi muốn biết thêm chi tiết, nhưng do tình hình rất rối ren, căng thẳng, anh ta chẳng dám nói thêm.

Tôi biết thủ trưởng cũ của tôi Phó Liêm Chương, người khuyên tôi quay về Trung Quốc và xếp tôi vào “Đại học Công nhân”, đã trở thành nạn nhân Cách mạng văn hoá. Phó buộc phải từ chức từ năm 1958. Thói quen của ông muốn biết về hoạt động của các nhà lãnh đạo, khi thấy chú ý đến sức khoẻ của họ quá nhiều, họ phát cáu, tống khứ ông đi. Từ lâu, tôi không biết Phó sống ra sao, bây giờ người giao liên chuyển cho Mao một bức thư của Phó, người bác sĩ riêng ngày xưa của ông.

Người ta nghĩ ông xin nghỉ hưu thể hiện sự chống đối, họ đưa ra đấu tố, tự tử hụt, giờ đây ông cầu cứu Mao.

– Phó Liêm Chương, một người tốt – Mao nói với tôi – Ông đã từ chức, không dây dưa vào chính trị. Chẳng có lý do gì lại đấu tố ông ta cả. Tôi sẽ làm một cái gì đó để bảo vệ.

Nhưng giúp đỡ của Mao quá ít hoặc quá muộn. Cuối năm 1966, đám thanh thiếu niên nổi loạn Hồng vệ binh của Tổng cục Hậu cần dùng sức mạnh lôi ông ra khỏi nhà. Từ đó tôi không biết tin gì về ông. Phó chết trong thời kỳ đấu tố, nhưng xác không bao giờ tìm thấy.

Sau mười ngày đến Sào Sơn, cái nóng ngột ngạt không ngờ ập đến. Hàng ngày chúng tôi đi bơi ở bể bơi Sào Sơn, nhưng biệt thự động Đình Thuý không có máy lạnh, quạt máy chẳng tác dụng gì. Mao quyết định ra đi, chúng tôi trở về Vũ Hán.

Tại đây, tin tức từ Bắc Kinh nhận được nhiều hơn. Các giao liên đến hàng ngày. Tôi nhận bức thư đầu tiên từ Lý Liên sau nhiều tháng. Tôi không ở Bắc Kinh, xa nhà hơn một năm – kể từ lúc tôi đi với đội công tác trong chiến dịch “Bốn Minh bạch” ở làng Thạch Tư, tỉnh Giang Tây từ tháng 7-1965.

Theo dõi Cách mạng văn hoá, Mao khoái chí về cuộc nổi loạn, xảy ra theo đúng ý được tiến hành ở Bắc Kinh. Với sự vắng mặt của Mao, kẻ thù đã phô trương sức mạnh, không biết rằng chính họ đã giúp ông dễ dàng tiêu diệt họ sau này. Tôi ước đoán điều này từ cuộc nói chuyện với Chủ tịch, từ những bức thư ông viết ngày 8-6-1966 gửi Giang Thanh ở Thượng Hải.

Mao chưa bao giờ có kế hoạch thực sự về cuộc Cách mạng văn hoá. Nhưng bức thư gửi vợ cho thấy ông đang suy nghĩ về điều này. Khi sự ngờ vực những người quanh tăng lên, lòng tin của ông vào Giang Thanh cũng tăng theo.

– Hàng ngày, tôi đọc tài liệu, tin tức thấy rất hứng thú. – Mao viết cho Giang Thanh khi đã về Vũ Hán – Sự hỗn loạn lớn sẽ dẫn đến một trật tự lớn. Chu kỳ thường lặp lại 7 hoặc 8 năm. Ma quỷ và quái vật sẽ thò chân tướng. Bộ mặt giai cấp của chúng sẽ lộ rõ.

Mao còn viết, không hài lòng sự xu nịnh của Lâm Bưu, tâng bốc quá trơ tráo như vậy. “Tôi không tin cuốn sổ tay tôi viết lại trở nên kỳ diệu và có sức mạnh như ông ta phát biểu” – Mao phàn nàn. “Điều này tương tự Già Vương bán dưa hấu, cho rằng dưa hấu ngọt vì bản thân nó ngọt. Nhưng sau khi Lâm Bưu bắt đầu thổi phồng, toàn đảng toàn dân đã hùa theo ông ta”. Mao xác nhận, sự tâng bốc của Lâm Bưu là bước ngoặt đầu tiên của tệ sùng bái lãnh tụ trong đời, trong khi vẫn chấp nhận những ý kiến trái ngược, điều đó đã làm ông thay đổi quan trọng trong nhận thức. “Người quá nổi tiếng khó sống với đời thực của chính mình”. Mao viết, trích dẫn lời Lý Gia nhà Hán. Mao bảo: “Câu này ứng vào tôi thật đúng”. Mao phản đối sự tâng bốc, tán dương trong phiên họp thường vụ Bộ chính trị vào tháng Tư ở Hàng Châu. Nhưng Lâm Bưu phớt lờ, vẫn lặp lại những lời nịnh bợ vào tháng 5. “Thế là báo chí lại thêu dệt, phóng đại quá mức tầm quan trọng của các bài tôi viết đến nỗi dường bài ấy do siêu nhân viết ra. Tôi buộc phải chấp nhận lời nhận xét của họ. Tôi cho chủ đích của họ đánh bại bọn ma quái (kẻ thù của Mao trong đảng) bằng cách tạo ra sức mạnh vô biên của tôi”.

Mao chưa bao giờ tin Cách mạng văn hoá đạt được mục đích đề ra. Ông cũng chẳng tin chủ nghĩa xã hội đến Trung Quốc để thực hiện một cái gì đó tốt đẹp hơn. Mao nghĩ, phái hữu khuynh đã nắm được chính quyền, chính ông sẽ đập nát nó. Nhưng tin chắc tư tưởng của ông tồn tại và lý luận chủ nghĩa xã hội phải xem xét, kiểm nghiệm lại. Thắng lợi của kẻ phản động không bao giờ lâu dài.

Mao cảnh cáo Giang Thanh: “Đừng để chiến thắng đầu độc bản thân. Hãy thường xuyên nghĩ về yếu kém, khuyết điểm và sai lầm của chính mình. Tôi đã nói với bà hàng chục lần rồi, phải cố nhớ lấy”.

Giang Thanh rất xúc động bức thư của chồng – mặc dù trong thư ông phê bình, chỉ trích bà – đến mức muốn in nó ra, phân phát để cho người khác cùng đọc. Mao chia xẻ với bà một số ý nghĩ thầm kín về quan điểm chính trị, Giang Thanh coi đó như sự thể hiện sự tin cậy của Mao và giúp bà nâng cao vị thế chính trị. Giang Thanh bắt đầu chia xẻ với các thành viên trong phe, bằng cách tìm kiếm những bức thư Mao viết gần đây, kể các bản sao chép khi Mao đề cập điều này. Tôi đã sao chép một bức thư vào sổ tay, trước khi đưa trả lại vào Tổng Kho Lưu trữ Văn khố, thậm chí giữ đến bây giờ.

Trong thời gian một phần tư thế kỷ trôi qua, tôi thường nghĩ đến bức thư của Mao. Đến tận hôm nay, mọi việc đã qua, tôi vẫn nhìn thấy trong đó bằng chứng, Mao, nhà chính trị thông thái, biết dự đoán được những sự việc hơn những gì ông biết. Lâm Bưu, con người chưa bao giờ Mao đặt niềm tin hoàn toàn, chỉ sử dụng Lâm tạm thời để chống kẻ thù trong đảng, Lâm đã quay lại chống ông, sau khi Mao qua đời, phái hữu khuynh sẽ lên nắm quyền lực.

***

Mao muốn tránh không về Bắc Kinh càng lâu càng tốt, ông theo dõi cuộc Cách mạng văn hoá từ xa, nhờ thế tôi đã tránh vào sa bẫy bất ngờ trong cuộc đấu đá chính trị. Tôi rất vui vì không có mặt ở Bắc Kinh. Nhờ những chiến dịch đấu đá chính trị trước đây tôi không liên quan, nên tin cuộc Cách mạng văn hoá không đụng đến. Tuy nhiên, Mao nghĩ khác.

Đến đầu tháng 7, Mao đã xa thủ đô nhiều tháng, Bắc Kinh trong rối loạn. Giờ đến lúc ông quyết định quay về. “Tình hình ở Bắc Kinh bắt đầu khởi sắc”. Một buổi tối, Mao nói với tôi. “Chúng ta không thể chỉ nghe báo cáo để biết cái gì đang xảy ra, phải tự bản thân mình nhìn thấy, khi đó mới có thể phân biệt người tốt trong số người xấu. Tạm thời tôi vẫn ở lại, nhưng ngày mai đồng chí trở về Bắc Kinh trước, theo dõi xem xét những gì đã xảy ra”.

Ông tôi muốn điều tra, tìm hiểu ở Bắc Kinh, sau đó báo cáo theo nhận xét cá nhân về cuộc Cách mạng văn hoá. Đấy là “cái gì đó” mà ông đã nói, cũng như muốn tôi làm thay khi ông khước từ không cho phép tôi trở lại Thạch Tư.

Tình hình chính trị ở Bắc Kinh quá phức tạp. Bộ chính trị hay Ban chấp hành Trung ương cũng không điều khiển được tình hình. Ngay đến những người thân tín, đại diện cho Mao cũng bị tấn công. Còn tôi chỉ là bác sĩ bình thường, không liên quan dính líu vào chính trị, làm sao phân biệt được ai bạn, ai thù?

– Thưa Chủ tịch, tôi không có khả năng phân biệt những người tốt trong số những người xấu. – Tôi tự vệ – Tôi biết hỏi ai về chuyện này?

Mao khuyên gặp Đào Chú, người tôi biết từ khi ông bí thư thứ nhất đảng bộ tỉnh Quảng Đông. Đào Chú đã thay Lục Đỉnh Nhất giữ chức trưởng Ban Tuyên giáo. Với tôi, Đào Chú là người dễ gặp, ông giữ chức Trưởng ban Tuyên giáo, kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban y tế quốc gia.

– Nói với ông ta, tôi cử anh tới – Mao vạch đường cho tôi – Hãy để ông ta tạo điều kiện thấy phong trào cách mạng nổi loạn làm được những gì. Hãy nhìn những bức chân dung lớn quần chúng đang giơ cao. Khi nào tôi về Bắc Kinh, báo cáo cho tôi biết anh nghĩ gì về tất cả việc này.

Tôi đang cân nhắc việc được giao. Dưới sự che chở trực tiếp của Mao, tôi cảm thấy mình còn an toàn. Trong tình thế đơn thương độc mã, được chỉ định để đánh giá phong trào chẳng hiểu mô tê gì, tôi sẽ rơi vào vòng nguy hiểm. “Hàng nghìn người đã chết trong thời gian này, tôi nghĩ”. Mao nói với tôi vài tuần trước đây – “Tất cả mọi thứ đang lộn tùng phèo. Tôi thích những sự thay đổi lớn”.

Nhưng tôi không thích những cuộc nổi loạn lớn, Cách mạng văn hoá làm tôi rất sợ. Nhưng ngày hôm sau tôi bay về Bắc Kinh, như Mao đã ra lệnh. Đây là lần đầu tiên tôi trở về Bắc Kinh sau hơn một năm.

Tôi có mặt ở thủ đô 16-6-1966, ngày mà Mao trong hội bơi thi trên sông Dương Tử. Tôi bơi nhiều lần với Mao nhưng không chú ý. Lần này tôi không thể hiểu những người nước ngoài sẽ kinh ngạc đến mức nào khi một ông già 73 tuổi lại có thể bơi nhanh hơn và xa hơn người đã từng vô địch thế vận Olympic.

Tôi biết sông Dương Tử chảy xiết như thế nào. Mao, vẫn như trong các lần bơi trước, ông nằm ngửa, bụng như quả bóng nổi trên mặt nước, cứ để dòng nước chảy mang theo ông. Đối với tôi, cuộc bơi của Mao trên sông Dương Tử có ý nghĩa như hành động thách thức chống lại ban lãnh đạo đảng, dấu hiệu cuộc chiến bắt đầu.

Với tôi, việc Mao bơi trên sông Dương Tử báo hiệu chuyện ông tự rút lui vào bóng tối đã kết thúc. Ông quay lại sân khấu chính trị. Hai ngày sau, 18-6-1966, Mao có mặt ở Bắc Kinh, để thâu tóm quyền lãnh đạo vào tay mình, trực tiếp chỉ đạo cuộc Cách mạng văn hoá.

 

(Còn tiếp)

Lý Chí Thoả

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.