Phật Giáo là một tôn giáo ??

TÀI LIỆU

PHẬT GIÁO CÓ PHẢI LÀ MỘT TÔN GIÁO KHÔNG?

 quynhhoa4

Nguyên Ngọc (Quỳnh Hoa)

(cháu của người đẹp Thôn Vỹ ngày xưa của Hàn Mặc Tử)

DSCN0594

 

Cho đến nay đã hơn 2500 năm kể từ ngày đức Phật nói pháp Tứ Diệu Đế lần đầu tiên cho 5 anh em ông Kiều Trần Như ở vườn Lộc Uyển, câu hỏi Phật giáo có phải là một tôn giáo không vẫn còn là một câu hỏi chưa có một giải đáp thỏa đáng. Nếu định nghĩa hai chữ tôn giáo theo tây phương cổ điển : “Tôn giáo là niềm tin ở một đấng tạo hóa hay một vị thần linh có uy quyền tối thượng cai quản cả vũ trụ mà con người phải tôn thờ, vâng phục” (Webster’s Dictionary: religion is a belief in a divine or superhuman power or powers to be obeyed or worshipped as creator (s) or ruler (s) of the universe), thì Phật giáo không phải là một tôn giáo vì Phật giáo không hề đề cập đến một đấng tạo hóa tạo dựng nên muôn vật trên quả đất này. Phật giáo cũng không hề đề cập đến một đấng thần linh có quyền ban phước hay giáng họa cho con người. Nhưng nếu theo một định nghĩa thứ hai của Webster : “ tôn giáo là bất cứ một hệ thống niềm tin và sự tôn thờ, và thường đi đôi với một triết lý và một hệ thống luân lý, đạo đức “(New World Dictionary: any specific system of belief and worship, often involving a code of ethics and a philosophy ) thì Phật giáo có vẻ gần với định nghĩa này. Phật giáo chỉ cho ta một triết lý sống lành mạnh, đạo đức đưa đến con đường giải thoát. Thông thường thì khi nói đến tôn giáo, người ta hay nghĩ đến một đấng Thượng đế, một giáo lý và nhiều giáo điều mà tín đồ phải tuyệt đối vâng theo. Nếu theo định nghĩa thông thường này thì Phật giáo rõ ràng không phải là một tôn giáo, hay là một tôn giáo vô thần!

Phật giáo là một tôn giáo không có Thượng đế, và không có giáo điều. Vị giáo chủ của Phật giáo không phải là một thần linh hay một Thượng đế mà là một người như mọi người, nhưng là một người đã giác ngộ, nghĩa là một người đã triển khai được hết mọi tiềm năng phi thường của con người, và nhờ thế đã hiểu hết muôn sự muôn vật trên đời này cũng như trong vũ trụ. Nhà bác học Albert Einstein nói rằng con người bình thường chỉ triển khai được chừng 6% tiềm năng hay trí thông minh của mình. Chắc Đức Phật là người đã triển khai hết 100% tiềm năng của mình. Ngài thấy biết muôn sự, muôn vật đúng như thật. Ngài là một vị thầy chỉ dạy cho chúng ta những gì Ngài đã thực nghiệm, những gì cần thiết cho đời sống thoát khổ. Đức Phật dạy cách ứng xử đối với bản thân, đối với nhau, và đối với thiên nhiên vũ trụ. Với giáo thuyết tương quan nhân quả, Đức Phật dạy rằng con người là chủ nhân của mọi hành động của chính bản thân mình; con người tự tạo cho mình một định mệnh, và như vậy con người cũng có khả năng thay đổi định mệnh của mình, không một vị thần linh nào có thể thay đổi định mệnh mình được.

Viết đến đây tôi sực nhớ câu chuyện của một cô người Đại Hàn, bạn cùng sở với người cô họ tôi. Cách đây mấy năm người thiếu nữ Đại hàn này tâm sự với cô tôi rằng cô ta đang tìm hiểu Phật giáo và Thiên Chúa giáo vì đã đến lúc cô cần được hướng dẫn về đời sống tâm linh, và cuối cùng thì cô đi rửa tội vì cô nói theo Chúa khỏe hơn vì lỡ có làm tội mà đi xưng tội thì cũng hết tội. Nhưng thử hỏi làm sao mà biết chắc được rằng xưng tội thì hết tội hay cứ phải nhắm mắt tin như vậy thôi. Cô nói theo Phật khó quá vì cái gì cũng phải tự mình quyết định, lỡ mà quyết định sai thì mang tội, mà Phật thì không ban ân, giảm tội gì cho mình được cả! Cô này đại diện cho những người yếu đuối, thiếu tự tin và chối bỏ sự tự do của mình. Thường thường người ta nghĩ rằng tự do là có thể làm mọi việc theo ý mình, nhưng thực sự, tự do đúng nghĩa là không nương tựa vào người khác. Thứ tự do tư tưởng này không hề gặp thấy ở đâu hết trong lịch sử các tôn giáo ngoài đạo Phật. Đức Phật dạy sự tự do ấy rất cần thiết vì sự giải thoát của một người phụ thuộc vào chính việc người đó hiểu Chân lý, mà không phải là một ân huệ được thượng đế hay một sức mạnh bên ngoài nào có thể ban cho.

Phật giáo, với thuyết nhân quả đã đưa con người ra khỏi vòng cương tỏa của thần linh, giáo điều, và thần học. Chân lý mà Đức Phật tìm ra và truyền dạy cho đệ tử là chân lý bất di bất dịch đã có từ ngàn vạn năm trước khi Đức Thích Ca ra đời và sẽ còn tồn tại cho đến thiên thu bất tận. Nói một cách khác, nếu Đức Phật không ra đời thì Tứ Diệu Đế vẫn có trong vũ trụ, thì lý Duyên sinh vẫn có trong vũ trụ, thì lý Nhân Quả Luân Hồi vẫn có trong vũ trụ. Nếu chấp nhận sinh lão bệnh tử là chuyện thường tình và thản nhiên chấp nhận những khổ ải của kiếp người, thì không cần thiết phải tìm cách chấm dứt dòng sinh tử luân hồi. Nhưng thử hỏi mấy ai có thể thản nhiên trước cảnh ái biệt ly tức là thương nhau mà bị chia lìa; oán tắng hội tức là không thích nhau mà phải bị gặp gỡ nhìn mặt nhau hoài; cầu bất đắc là mong cầu mà không được toại nguyện, và ngũ ấm xí thạnh khổ nghĩa là những sự kiện đổi thay hành hạ tấm thân ngũ uẩn này v.v…

Khi nhìn rõ “mặt thực” của đời người, thái tử Tất Đạt Đa đã cương quyết đi tìm một con đường giải thoát và Ngài đã thành công. Nhưng trước khi Đức Thích Ca ra đời thì bốn cái khổ: sinh, lão, bệnh, tử đã có rồi mà không ai biết đó thôi; và đã sinh làm người thì không ai tránh khỏi bốn cái khổ đó. Giàu, nghèo, sang hèn gì cũng đều phải trải qua bốn cái khổ ải này. Thuyết Luân Hồi cũng không phải do Đức Phật đặt ra. Đạo Bà La Môn và Ấn giáo có mặt trước khi Đức Thích Ca ra đời cũng đã biết và tin luân hồi, nhưng họ không giải thích được thuyết này một cách khách quan, rốt ráo như Đức Phật; họ cũng không vạch rõ được một đường lối rõ ràng để con người có thể thoát vòng sinh tử luân hồi như Đức Thích Ca. Không những Phật chỉ cho chúng ta một con đường ra khỏi trầm luân sinh tử mà Phật cũng chỉ dạy cho chúng ta phương pháp diệt khổ ngay trong đời này, nhưng những lời Phật dạy không phải là những giáo điều bắt buộc chúng ta phải nhắm mắt tuân theo. Trái lại Ngài còn nhắn nhủ đệ tử rằng: “Không nên chấp nhận lời dạy của Ta do lòng kính trọng, mà trước hết hãy kiểm nghiệm lời dạy đó, như dùng lửa thử vàng vậy”. Phật dạy:“Một điều đúng hay sai, không phải do quyền uy và thần khải” và Ngài ví tín đồ Bà La Môn giáo tụng thuộc lòng kinh Vệ Đà như một đoàn người mù dẫn dắt nhau đi.

Hơn nữa Phật giáo không có một tổ chức Tăng đoàn chặt chẽ như các tôn giáo thần quyền Tây phương. Phật giáo gồm nhiều giáo phái và hệ phái khác nhau. Ai theo giáo phái, hệ phái nào cũng được, miễn là mình thành tâm thành ý tinh tấn tu tập thì mình có thể sống tự tại, an vui trong đời hiện đại và trong kiếp vị lai. Phật giáo không đặt nặng phần nghi lễ mà đặt trọng tâm vào sự sự tu tập chứng nghiệm để được thanh tịnh nội tâm, ngõ hầu đi đến mục đích rốt ráo là giải thoát và giác ngộ. Tám vạn bốn ngàn pháp môn Phật chế ra cũng chỉ là phương tiện để hướng dẫn ta trên bước đường tu học mà ai cũng có thể bước lên con đường ấy. Đức Phật nhắc đi nhắc lại rằng Ngài chỉ là người chỉ đường, con đường mà Ngài đã đi qua, nhưng cá nhân mình phải “tự đi đến, không ai đi thế cho mình được.” Một giáo sư người Mỹ dạy cùng trường với tôi nói rằng cô theo Tin Lành nhưng cô rất thích thú những lời Phật dạy về nhân quả luân hồi và nguyên lý trách nhiệm cá nhân của Đức Phật giảng dạy. Cô nói nhỏ với tôi rằng cô không tin “xưng tội thì hết tội”. Hằng ngày cô sống theo lời Phật dạy nghĩa là không làm việc ác, chỉ làm các việc lành, làm cho tâm ý trong sạch. Mỗi ngày cô tọa thiền hai tiếng để tập cho tâm ý trong sạch, để đạt được cái tâm lặng lẽ. Cô đã giải thích cho học trò của cô rằng đạo Phật là một tôn giáo duy nhất không buộc những người theo tôn giáo khác phải bỏ đạo của mình trước khi muốn đem những lời Phật dạy áp dụng vào đời sống của mình.

Phật giáo là một triết học thực nghiệm, phải tự mình thực nghiệm qua cuộc sống. Nếu chỉ hiểu giáo lý suông mà không thực hành thì cũng ví như người làm việc đếm tiền ở ngân hàng, ngày ngày đếm bạc triệu nhưng tiền ấy là tiền của thiên hạ, hay ví như người đang đói mà trông thấy thức ăn nhưng không được ăn thì vẫn đói.

Đạo Phật là một đạo rất dân chủ và bình đẳng. Đức Thích Ca ra đời đã phá tan hệ thống giai cấp thống trị áp bức ở Ấn độ thời ấy, và ở xã hội Trung Hoa và Nhật bản sau này, hay ở bất kỳ một xã hội nào mà vẫn còn phân chia giai cấp vì dòng dõi như người Việt ta thường nói “Con quan thì lại làm quan. Con nhà kẻ khó đốt than cả ngày.” Đức Phật dạy: “Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và dòng nước mắt cùng mặn.” Và Ngài đem hy vọng đến cho mọi người, mọi loài khi Ngài nhắc nhở chúng ta rằng tất cả mọi loài chúng sanh đều có Phật tính, tức là có khả năng thành Phật. Quyền triển khai khả năng ấy tùy thuộc từng cá nhân, không ai giúp đỡ được ai, cũng không ai có quyền cấm người khác triển khai khả năng ấy. Đức Phật là một vị giáo chủ không muốn cho tín đồ phải mãi mãi quì lạy mình, một vị giáo chủ chỉ dạy cho ta con đường tu tập để ta cũng có thể thành Phật như Ngài với câu tuyên bố bất hủ, “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành.” Phật giáo là một giáo lý thực nghiệm, không chờ đợi một ân sủng hay một mặc khải nào.

Thiết nghĩ vấn đề Phật giáo là tôn giáo hay không phải tôn giáo không có gì quan trọng. Vấn đề chủ yếu là Phật giáo là tôn giáo dành cho cá nhân, là một phương pháp thực tiễn giúp cá nhân thoát khỏi đau khổ và đạt hạnh phúc ngay trong hiện đời. Phật giáo là một triết lý sống vượt biên giới quốc gia. Phật dạy tất cả chúng sanh đều là bạn hữu và mọi nơi chốn trên thế gian này đều là nơi chôn nhau, cắt rốn, là quê hương xứ sở của mình. Và nếu mọi người trên quả đất này có cùng một quan niệm sống như vậy thì thế giới sẽ có hòa bình, chúng sanh sẽ được an lạc. Và vì Phật giáo là một tôn giáo không phân biệt màu da, dân tộc nên nhiều triết gia, học giả trên thế giới đã nhìn đạo Phật với cặp mắt đầy thiện cảm. Giám Mục Milman viết: “Tôi càng ngày càng cảm thấy Đức Thích Ca Mâu Ni gần gũi nhất trong tính cách và ảnh hưởng của Ngài; Ngài là đường lối, là chân lý, là lẽ sống.” Ông Rhys David, giáo sư sử học, phát biểu, “Là Phật tử hay không là Phật tử, tôi đã quan sát mọi hệ thống của các tôn giáo trên thế giới, tôi đã khám phá ra rằng không một tôn giáo nào có thể vượt qua được về phương diện vẻ đẹp và sự quán triệt của Bát Chánh Đạo và Tứ Diệu Đế của Đức Phật. Tôi rất mãn nguyện đem ứng dụng cuộc đời tôi theo con đường đó.” Aldous Huxley viết:” Trong tất cả các tôn giáo lớn của thế giới, chỉ riêng đạo Phật đi con đường của mình mà không cần đàn áp, kiểm duyệt, thẩm tra ai cả.” Nhà bác học Albert Einstein tán thán đạo Phật với câu: “Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diên trên trong cái nhất thể đầy ý nghĩa, và Phật giáo đáp ứng đủ các điều kiện ấy.” (The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend a person God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religion sense arizing from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description.)

Để kết luận chúng ta có thể nói rằng Phật giáo ­ một đạo của từ bi và trí tuệ, dựa trên nguyên lý vô ngã, lý duyên sanh, một tôn giáo vượt thời gian và không gian ­ có thể là một tôn giáo toàn cầu về sau này như lời tiên tri của nhà bác học Einstein.

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.