Tin KONTUM : Phát hiện 2 loài ếch lạ tại núi rừng

Phát hiện hai loài ếch cây sần mới, có màu sắc lạ

26-11-2011 17:32 PM

ếch laKT

 Dựa trên bằng chứng về hình thái học và di truyền học, nhóm nghiên cứu Jodi j. L. Rowley – Bảo tàng Sydney Australia, Trần Thi Anh Đào, Lê Thi Thùy Dương, Hoàng Đức Huy – Đại học KHTN TP.HCM, đã mô tả, công bố hai loại ếch cây sần mới thuộc chiTheloderma.

Hai loài ếch cây sần mới này được tìm thấy từ vùng rừng cao thuộc Cao nguyên Kontum và Langbiang, Việt Nam. Cả hai loài mới này đều có hình thái khác biệt so với họ hàng bởi kích thước nhỏ (<30 mm SVL); không có răng lá mía; da nhăn, phần sống lưng bị vôi hóa với nhiều chi tiết nhuyễn; chi trước không có màng; lưng màu nâu, mắt hai màu (1/3 phía trên màu nâu vàng nhạt và ⅔ phía dưới nâu đỏ đậm). Tất cả các đặc điểm hình thái trên đều chỉ ra rằng hai loài mới này thuộc chi Theloderma và khác biệt so với các mẫu cùng loài thu được trước đó (Sự khác biệt trong chuỗi phân kì ở gen 16S rRNA >8.5% so với tất cả các loài thuộc chi Theloderma – tất cả đều có cặp 16S rRNA đồng đẳng). Hai loài mới này khác nhau ở hoa văn dọc lưng, khoảng rộng của vùng sần sùi trên lưng, và mitochondrial DNA.

Theloderma palliatum sp. Nov – Ếch cây sần trá hình

Loài ếch cây sần này có thân thon dài; chiều dài của đầu bằng khoảng 90% bề ngang đầu, mũi hình vát khi nhìn từ trên xuống, và hình vát cụt khi nhìn ngang; khóe mắt tròn và hướng về phía miệng, nhưng không rõ ràng; mút mõm nhọn, hơi lõm; gian hốc mắt hơi lồi; lỗ mũi hình bầu dục, không lồi, không thấy vành mũi ở hướng bên, và nằm gần chóp mũi hơn là gần mắt; đồng tử hình ô van và nằm ngang; tai dễ nhận thấy, so với da quanh tai thì vành tai nhô cao hơn; không có đốm màu hình mắt; da không hóa xương và dính với vùng đỉnh đầu; không có răng lá mía; lỗ mũi sau hình bầu dục, nằm tại mép của vòm miệng; lưỡi gắn phía trước, rộng, chẻ chữ V đến tận phía sau; không có túi thanh âm và miệng túi thanh âm; nếp trên hòm nhĩ rõ ràng và dễ nhìn thấy, kéo dài xa hơn nách.

Chi trước mảnh và dài, độ dài của các ngón chân trước tương ứng là I<II<IV<III. Các đầu ngón đều có giác hút hình tròn phát triển tốt, so với bề ngang ngón chân thì giác hút khá rộng (giác hút ở ngón thứ 3 rộng bằng 228% bề ngang ngón chân thứ ba), các giác hút đều rộng hơn dài (giác hút ở ngón thứ 3 rộng bằng 103% chiều dài), giác hút ở ngón thứ 3 rộng bằng 74% màng nhĩ; không có màng chân, không có diềm da; các nốt sần dưới da dễ nhìn thấy, tròn, công thứ 1,1,2,2; hai nốt sần trong lòng bàn tay, có các nốt sần nhỏ hơn nhưng cũng dễ nhìn thấy; ngón cái thừa có ít nốt sần hơn; đệm giao phối xuất hiện ở ngón thứ 1; độ dài các ngón chân sau là I< II< III=V< IV, Các đầu ngón đều có giác hút hình tròn phát triển tốt, giác hút ở chi sau bé hơn so với các ngón ở chi trước. Công thức màng chân là I2-–2+II1½–3-III2-–3IV2½–1½V. Các nốt sần dưới da tròn, dễ thấy, công thức : 1,1,2,3,2; các nốt sần bên dưới xương chân dễ nhìn thấy, hình bầu dục, các nốt sần bên trên xương bàn chân dễ thấy, nhỏ, hình tròn; da lưng nhăn ít, với các nốt sần nhuyễn và rải rác, dạng hạt, thô ráp; mặt dưới của đùi và bụng cũng sần sùi; ngực và cổ họng trơn láng; không thấy mép da và điểm lồi ra của khớp xương chày.

Theloderma nebulosum sp. nov. Ếch cây sần sương mù

Loài này có kích thước lớn; chiều dài đầu bằng với chiều rộng đầu; mũi hình vát khi nhìn từ trên xuống, hình bầu tròn khi nhìn ngang; đỉnh đầu dốc, hơi lõm; gian hốc mắt hơi lồi; lỗ mũi hình bầu dục, chỉ hơi lồi, không thấy vành mũi ở hướng bên, và nằm gần chóp mũi hơn là gần mắt; đồng tử hình ô van và nằm ngang; tai dễ nhận thấy, so với da quanh tai thì vành tai nhô cao hơn, khoảng 67% độ lồi của mắt; không có đốm màu hình mắt; da không hóa xương và không dính với vùng đỉnh đầu; không có răng lá mía; lỗ mũi sau hình bầu dục, nằm tại mép của vòm miệng; lưỡi gắn phía trước, rộng, chẻ chữ V đến tận phía sau; nếp trên hòm nhĩ rõ ràng và dễ nhìn thấy, kéo dài xa hơn nách.
Chi trước mảnh và dài, độ dài của các ngón chân trước tương ứng là I<II<IV<III. Các đầu ngón đều có giác hút hình tròn phát triển tốt, so với bề ngang ngón chân thì giác hút khá rộng (giác hút ở ngón thứ 3 rộng bằng 209% bề ngang ngón chân thứ ba), các giác hút đều rộng hơn dài (giác hút ở ngón thứ 3 rộng bằng 135% chiều dài), giác hút ở ngón thứ 3 rộng bằng 77% màng nhĩ; không có màng chân, không có diềm da; các nốt sần dưới da dễ nhìn thấy, tròn, công thức 1,1,2,2; có các nốt sần thừa, hai nốt sần trong lòng bàn tay, có các nốt sần nhỏ hơn nhưng cũng dễ nhìn thấy; ngón cái thừa có ít nốt sần hơn và các nốt ít nhô cao; ngón thứ 1.

Độ dài các ngón chân sau là I< II< III < V< IV, Các đầu ngón đều có giác hút hình tròn phát triển tốt, giác hút ở chi sau bé hơn so với các ngón ở chi trước. Công thức màng chân là I2+–3II2+–3+III2+–3½IV3+–2+V. Các nốt sần dưới da tròn, dễ thấy, công thức : 1,1,2,3,2; các nốt sần bên dưới xương chân dễ nhìn thấy, hình bầu dục, các nốt sần bên trên xương bàn chân dễ thấy, nhỏ, hình tròn; da lưng nhăn rất ít, với các nốt sần nhuyễn và rải rác, dạng hạt, thô ráp; mặt dưới của đùi và bụng cũng sần sùi; ngực và cổ họng trơn láng; không thấy mép da và điểm lồi ra của khớp xương chày.

So sánh: kích thước cơ thể bé, không có răng lá mía, sống lưng sần sùi nhuyễn; không có màng giữa các ngón ở chi trước; lưng có màu từ nâu nhạt đến nâu vừa với các vết màu nâu đậm điển hình, vùng da từ chóp mũi đến háng có màu đậm; và mắt (đồng tử) có hai màu giúp phân biệt T. palliatum với tất cả các loàiTheloderma. Loài Theloderma palliatum sp.nov có hình dáng gần giống nhất với cá thể nhỏ của loài T.lateriticum, T.licin, T.rhododiscus và T. truongsonese. Tuy nhiên, loài Theloderma palliatum sp.nov khác với lòai T.lateriticum vì lưng có màu từ nâu nhạt đến nâu vừa với các vết màu nâu đậm điển hình (so với lưng màu đỏ gạch đậm pha dần vào màu xanh đen ở trên cùng, và không có các vết nâu đậm trên lưng), màu của các vết sần trên lưng tiệp với màu lưng (so với các tròng mắt màu đỏ gạch đậm đồng nhất).

So với loài T.Licin, loài Theloderma palliatum sp.nov khác biệt vì không có màng hay nếp gấp giữa các ngón ở chi trước (so với nhiều nếp gấp trên lưng và ngón chi trước có màng rõ rệt), gian hốc mắt có các vệt màu nâu đậm, có nhiều vòng trên xương chày và các mảng trên đầu gối (so với không có vết màu đậm nào trên gian hốc mắt, xương chày hay gối), tròng mắt có hai màu (so với tròng mắt một màu đỏ) và vùng lưng sần sùi thay vì trơn nhẵn. So với T. rhododiscus, T. palliatum sp. nov khác biệt bởi có vùng da ngoài của giác hút đa dạng từ nâu đến nâu-xám (so với màu đỏ-cam), và tròng mắt có hai màu rõ rệt (so với một màu nâu đỏ đồng nhất). so với T. truongsonense comb. nov., T. palliatum sp. nov. khác biệt bởi có ba đốm màu nâu đậm ở giữa lưng (so với một đốm màu nâu đậm ở giữa lưng), có bụng dưới và mặt dưới đùi màu đen/ nâu đậm (so với bụng dưới màu xám và mặt dưới đùi có nhiều điểm trắng). Bên cạnh đó, Theloderma palliatum sp. nov. có chuỗi phân kì không đúng tại gen 16S rRNA > 8,5% so với tất cả loàiTheloderma cùng có chuỗi 16S rRNA.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.