Đọc tiếp Tiểu thuyết LY THÂN của Trần Mạnh Hảo (Chương 18,19 và 20)

LY THÂN

Tiểu thuyết

TranManhHao1

TRẦN MẠNH HẢO

behind_the_mask_iii_by_dinemiz

Chương 18

Thấy tôi dọn hết đồ đạc lặt vặt từ căn phòng trên lầu hai của tòa soạn báo văn nghệ Sơn Giang về nhà, Ruộng ngạc nhiên, nói kháy:
– Sao anh không ở đấy luôn cho hết đời. Anh còn về cái nhà ngục này làm gì cho khổ. Thì ra là cóc chết ba năm…
Tôi đang bực tức điên đầu, chỉ cần một ngòi nổ là sẵn sàng có thể gây ra cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba. Tuy vậy, tôi biết mình sức vóc mồm miệng có hạn làm sao địch nổi cái mồm có gang có thép của vợ tôi, với lại, tôi đang phải đối diện với một bóng ma kinh khủng là cuốn băng ghi âm bẩn thỉu kia. Đầu tôi đang phải đội một ông trời sắp sập, có thể nghiền tôi thành cám. Chính vì vậy, tôi đành ghìm cơn thịnh nộ xuống để tỏ ra hết sức dịu dàng thân thiện:
– Tôi không có quyền về ở hẳn nhà mình à bà?
– Anh ở đâu cũng chẳng có ăn nhằm gì tới tôi. Vấn đề hiện nay là anh đừng có gây rac rối gì cho công tác của mẹ con tôi. Tôi báo cho anh biết, sắp tới tôi sẽ vào tỉnh ủy. Tôi cần sự giúp đỡ của anh.
– Sẵn sàng.
– Vậy thì nhiệm vụ của anh đây. Từ nay, anh đừng làm bất cứ chuyện gì gây tai tiếng xấu như viết lách sai lập trường, hoặc ăn nói vô tổ chức. Và nhất là đừng bao giờ gây ra một vụ xì-lan-can như vừa qua trên báo văn nghệ nữa. (Vợ tôi nói pha tiếng tây không quen nên xì-căng-đan mới nói thành xì-lan-can. Chỉ vì bà ấy làm việc trong một căn phòng tại trường đảng có cái lan-can rất đẹp nên thường ra hóng mát).
Tôi giả vờ sửng sốt:
– Về xì-lan-can nào?
– Tôi nghe bên công an họ xầm xì. Tôi hỏi, nhưng họ không nói. Tôi biết là anh cứ thoát khỏi bàn tay lãnh đạo của tôi một cái là y như sinh chuyện. Văn nghệ sĩ các anh rặt một thứ lang bang. Các anh không tìm thấy tự do trong kỷ luật của tổ chức à? Dù là tâm hồn tâm hiếc cũng phải theo nguyên tắc, theo chỉ thị chứ.
Tôi ngứa mồm quá, nên cũng múa mép chơi:
– Bà và một số cán bộ chính trị ít hiểu biết về văn nghệ lắm. Đối với văn nghệ sĩ cũng như đối với người đàn ông vậy. Đừng giam hãm nó, nó sẽ bỏ trốn. Đứng bắt ép nó yêu thương, nó sẽ căm ghét. Đừng ra lệnh cho nó làm tình, nó sẽ làm tội. Đừng cưỡng bức nó chung thủy, nó sẽ phản bội. Chỉ có thể dùng tự do làm xiềng xích mới hòng giữ được nó. Hãy thả con chim kia ra bầu trời là quê hương của nó, mới có thể quản lý được cái không thể quản lý là tâm hồn và tình yêu của nó.
Không hiểu do ăn nhằm phải cái giống gì mà tôi nói hăng say văn vẻ như một nhà truyền giáo rao giảng đức tin của cái đẹp. Có thể vợ tôi, một cán bộ chính trị có cỡ, sẽ chụp cho tôi cái mũ là một tên tà đạo uống mật gấu lập ngôn, hòng tung ra một cái thuyết, một cái gì đại loại như tư tưởng, đạo loại như sự sáng tạo lại thế giới này thông qua cảm xúc tình yêu. Vì đối với vợ tôi, nguyên tắc đảng chính là chân lý. Cho nên, một cách nói khác đi, một nghi vấn hay một suy tư sống động có nhã ý bổ sung và sáng tạo lại những giá trị cũ đều sẽ bị phản bác, đều sẽ bị gản cho một từ rất kinh khủng là phản động. Học thuyết về zen di truyền học của Măng-đen và Moóc-găng khẳng định sự tồn tại, sự sống của sinh vật trong mối quan hệ biện chứng giữa di truyền và biến dị. Nếu sinh vật chỉ biết di truyền lại các thế hệ sau tất cả thuộc tính của mình mà triệt tiêu mọi khả năng biến dị của đời sau thì chắc chắn sinh vật ấy sẽ không còn nòi giống. Di truyền chỉ có thể gọi là di truyền nếu nó biết biến dị. Khả năng biến dị chính là khả năng sáng tạo, khả năng hằng sống của sinh vật nói chung, của con người nói riêng. Do đó, phàm một học thuyết, một tư tưởng dủ vĩ đại tới đâu chăng nữa, nếu muốn tồn tại, muốn thoát ly khỏi lý thuyết màu xám để hóa thành cây đời mãi mãi xanh tươi như câu cách ngôn nổi tiếng của Gớt, nhất thiết phải tuân thủ quy luật di truyền và biến dị của sinh vật học. Học thuyết ấy, tư tưởng ấy sẽ không bị cứng nhắc, bị vôi hóa, bị thời gian phủ nhận nếu nó biết hóa thân vào đời sống luôn luôn chuyển động, nếu nó biết cách khám phá ra khả năng di truyền biến dị và sáng tạo của mình. Vợ tôi ngồi im lặng nghe tôi huyên thuyên. Đoạn bà ấy thuyết:
– Văn nghệ sĩ các anh hay triết lý tầm phào lắm. Từ trước tới giờ, anh cứ chê tôi là con bò, là mụ nhà quê xắn quần lội ruộng đi theo cải cách ruộng đất. Anh có bao giờ thèm nói chuyện về chính trị hay văn nghệ với tôi đâu. Đầu anh vẫn còn đầy thuốc đỏ và dao kéo mổ của cái con mẹ bác sĩ nặc nô. Anh có biết rằng vợ anh đã vươn lên từ một cô thôn nữ mù chữ trở thành một giáo sư, một phó giám đốc trường đảng phụ trách môn lý luận Mác-xít, như vậy, dù có mù lòa hay điếc lác, cũng phải công nhận là nhờ cách mạng, nhờ đảng, tôi mới vươn lên được những đỉnh cao này từ một con bé nghèo khổ phải đi làm con ở cho địa chủ. Bây giờ, tôi đã hai thứ tóc trên đầu, đã sang tuổi ngũ tuần nên mọi lời nói hoa hòe hoa sói ngụy biện không bịp được tôi đâu. Anh nói gì viết gì thì viết, đừng bao giờ phản bác lại con đường mình đã đi.
Vợ tôi ngừng nói. Bà ấy cúi đầu xuống làm ra vẻ tủi thân. Có lẽ do thói quen hay lên lớp chính trị, quen lãnh đạo tư tưởng người khác, Ruộng cũng như nhiều người đàn bà khác đã quên cái vũ khí lợi hại nhất của mình, cái vũ khí mà Tây Thi và Dương Quý Phi đã dùng để làm đổ thành khuynh nước. ấy là sự kiều diễm, nét dịu dàng nhân hậu, cái tha thướt ngây thơ trong vẻ đẹp của thân xác và tâm hồn vậy. Nếu người đàn bà biết dùng sự yếu đuối của mình làm sức mạnh, nàng không chỉ làm chủ được người đàn ông, mà đôi khi còn có khả năng chinh phục được thế giới. Nhưng vợ tôi được sinh ra không để làm một người đàn bà mà để làm một nhà cách mạng. Phải chăng đó chính là căn bệnh thời đại? Bà ấy tiếp tục lên giọng chỉ huy:
– Anh hãy từ bỏ những thứ triết lý tư sản kia đi để trở về với tư tưởng của giai cấp vô sản. Tư tưởng đó được cụ thể hóa trong trường hợp của anh là: đừng bao giờ làm thơ làm phú, viết văn viết vẻ, mơ mộng đến người tình nhân bác sĩ đã chết của anh nữa. Chỉ vì nó mà đời tôi bất hạnh. Thứ hai, không được viết, được nói bất cứ điều gì sai nguyên tắc đảng, làm hại đến con đường vào tỉnh ủy của vợ con. Thứ ba, hãy quan tâm đến con gái anh một chết. Con Vương Thi đã có bồ hai năm rồi đấy. Thứ tư, luôn luôn phải ngồi ở nhà mà viết, cơm nước có con hầu này với Vương Thi lo. Thứ năm, viết xong rồi đưa cho em duyệt nghe chưa?
Chao ôi, cuối hịch truyền của lệnh bà, không hiểu sao mụ ấy lại xuống sề bằng một tiếng em rất cải lương vậy không biết. Từ đó, tôi nằm dài ở nhà, làm một con cáy thập thò ra vô trông trời trông đất. Tôi được chuyển biên chế về tổ sáng tác của hội văn nghệ tỉnh Sơn Giang, nơi toàn các bố già sáu mươi lăm bảy mươi chưa chịu về hưu. Tôi nằm trong nhà như nằm dưới đáy một cái hố. Không còn một cái thang, một sợi dây nào trên mặt đất thòng xuống cứu tôi lên nữa. Tôi đã bị ném ra ngoài cuộc sống. Đang làm tổng biên tập tờ báo văn nghệ tỉnh, quyền sinh quyền sát, lên xe xuống ngựa, ai ai cũng nhìn tôi kính trọng, đặt bút xuống ngoáy một chữ ký là anh này được in, anh kia xếp xó. Vừa nắm được tí quyền lực trong tay, đang hí hửng như Ngô được vàng, chưa kịp lội qua sông, vàng đã rơi mất. Thà bị chặt cụt hết hai tay, hai chân còn hơn mất cái chức tổng biên tập. Ngay đến khả năng để tiếc, tôi cũng không còn nữa. Ôi cũng tại tôi, khi chín mươi chín cái cổng thành đã khóa chặt, tôi lại kiêu căng bỏ ngỏ một cửa để thử thách khả năng canh phòng của mình. Trời ơi, con Ngọc Hương, tôi đã tự bảo mình rằng: mỗi người đàn bà là một cái bẫy, lỡ dại chui vào hoặc là chết tươi ngay, hoặc là mục xương suốt đời không thoát. Tôi còn mặt mũi nào nhìn thấy trái tim của Oanh trong ngực mình nữa? Suốt mấy tháng trời, tôi phải khổ sở vật lộn với lương tri mình khi nó tỉnh thức. Tôi bị các ý nghĩ, các loại tình cảm đối lập nhau trong bản thân mình nện cho nhừ tử. Phải chi tôi không còn lương tri nữa có lẽ đã bớt khổ hơn, sẽ vẫn ngủ ngon sau những hành động vô nhân cách. Có phải lương tri đó chính là đôi mắt Oanh nhìn từ tâm hồn tôi ra? Tôi đau vì mất chức tổng biên tập một nhưng đau vì sự phản bội Oanh tới mười lần. Tôi đã gieo hạt giống sợ hãi, hèn nhát thì làm sao lại được gặt sự dũng cảm cơ chứ? Tôi bắt đầu sợ mọi thứ xung quanh mình. Nhìn vào đâu tôi cũng thấy một cái máy ghi âm vô hình, có hàng nghìn lỗ tai nghe trộm đang ghé sát vào đầu tôi để sao chụp lại từng ý nghĩ. Cái băng ghi âm Hoàng Thi đang giữ chính là cái nhà tù của đời tôi. Lại còn cuốn nhật ký ngày xưa vợ tôi tịch thu chưa trả lại nữa, cứ y như một con cọp dữ luôn luôn rình rập ở mọi lối đi của cuộc đời tôi Có nhiều ngày, tôi đã chui vào góc nhà, ngồi co ro trong bóng tối như một con gián và suy nghĩ về mọi điều. Nghĩ một hồi, tôi nhớn nhác, lơ láo nhìn quanh và sợ toát mồ hôi. Không biết có kẻ nào theo sau ghi chép đứợc những ý nghĩ lộn xộn vô tổ chức, vô kỷ luật của tôi để báo cáo không biết? Có buổi tôi ra bờ sông, nơi không có một bóng người để ngồi nghĩ ngợi về bao nhiêu điều từng day dứt cuộc đời tôi, về tự do và nô lệ, về cá nhân và tập thể, về quyền lực và nỗi sợ hãi, về sự kiêu ngạo đến tàn nhẫn của con người. Tôi có cảm giác như mình là một kẻ nghĩ chui, suy tư lậu. Những ý nghĩ của tôi chưa được cấp trên duyệt chưa được tập thể thông qua. Và vì vậy, tôi lại sợ hãi đến co dúm cả người, lại run rẩy đến vã cả mồ hôi. Tôi lại ngơ ngác nhìn xung quanh xem có cái đuôi nào bám theo mình, để rồi bắt quả tang những ý nghĩ của mình và lập biên bản về tất cả những gì tôi vừa suy tư một cách bắt hợp pháp. Trời ơi, tôi sợ hãi ý nghĩ của mình quá. Những ý nghĩ, mi thật là bất trị. Tôi càng sợ hãi nó thì nó càng đuổi theo tôi, cứ ám lấy đầu tôi như ma quỷ. Chung quy lại cũng chỉ vì tôi sợ mình nghĩ sai mà thôi. Khi cô đơn, con người bao giờ cũng là kẻ cả nghĩ. Tôi chạy vào toa-lét vừa có ý định tắm, vừa có ý định chạy trốn dòng suy tư của mình. Nhưng quái quỷ thay là sự hoạt động của đại não, những ý nghĩ cứ đuổi theo tôi. Có ngày tôi điên đến độ chui vào trong chăn suy nghĩ, hy vọng sẽ không ai vớ được mình. Nhưng rất cuộc tôi vẫn sợ hãi, tôi vẫn cứ toát mồ hôi. Bởi vì, tôi vẫn là một kẻ nghĩ chui, một kẻ suy tư lậu. Tôi không được quyền tư tưởng một cách độc lập. Trong đầu tôi luôn luôn cần có một con bò biết nhai lại ý nghĩ người khác, nhai lại những tư tưởng của người khác. Hay là tôi bị thần kinh? Đụng vào đâu, nghĩ tới đâu tôi cũng đều sợ hãi. Thế giới này với tôi từ một hạt bụi cho đến một giọt sương cũng đều không tin cậy được, cũng đều giấu ẩn một lỗ tai, một cái miệng, một đôi mắt của một tên chỉ điểm. Trời ơi, tôi sống làm sao được nữa trong cái thế giới đặt toàn cạm bẫy này. Cuối cùng, sau một cuộc toát mồ hôi vì những ý nghĩ lung tung lang tang khap nơi khap chốn ấy, tôi chợt phát hiện ra mình chính là kẻ theo dõi, là tên chỉ điểm của chính mình. Ngay ở trong đầu tôi đã có một lực lượng chuyên môn hù dọa, chuyên môn làm cho nỗi sợ hãi được gia tăng, luôn luôn theo dõi và bám đuôi những ý nghĩ bất trị của chính mình. Tự do, nói gì thì nói, trước hết phải biết cách xuất hiện trong đầu ta. Hay là tôi không có khả năng tự do, tôi không có khả năng được sống là chính mình? Tôi, một nhà văn, sinh ra cốt để làm cái loa cho kẻ khác, làm bản nháp cho kẻ khảc hay sao? Tôi phải tìm cách thoát khỏi mọi nỗi sợ hãi vô cùng tận này. Và cái cọc giữa biển khơi khi tôi sắp chết đuối là tập bản thảo thơ của tác giả Hoài Bão tức đồng chí Tràng Giang hiện là bí thư tỉnh ủy, người đã chỉ thị cho tôi sống, chỉ thị cho tôi viết văn, chỉ thị cho tôi lấy vợ từ gần bốn mươi năm xưa. Xin nhắc lại hồi Tràng Giang về làm bí thư tỉnh ủy, có gọi tôi lên, phong chức cho đàn em, đưa cho tôi một tập bản thảo thơ của ông mang tựa đề Đêm mặt trời. Phải nói công bằng thơ Tràng Giang rất dở, như vè, như tấu, như nói có vần, rất nôm na, ý tứ nghèo nàn, vần điệu gượng gạo, ngôn từ luộm thuộm chẳng ra làm sao. Nhưng vì là tập thơ của bí thư tỉnh ủy, nên anh dù thằng thắn cách mấy, bố bảo dám nói sổ toẹt ý nghĩ của mình, dám chê bai đúng như giá trị vốn có của tập thơ. Vì vậy anh phải nói khác đi, nói sao cho khéo để ông bí thư đừng cho là mình bốc thơm, mình nịnh. Nghệ thuật của kẻ nịnh bợ là nghệ thuật của kẻ dối lừa, bịp bợm đã ở trình độ siêu hạng. Anh nịnh cách sao để người được nịnh, thấy mình không bị nịnh, nhất mực cho rằng anh nói chân thành. Các nhà nịnh học xưa nay đã làm cho khoa học nịnh trở thành một nghệ thuật, có thể viết một cuốn sách dạy nịnh để tung ra thị trường chữ nghĩa hôm nay chắc là hốt bạc. Thưa thủ trưởng, thực ra thủ trưởng chỉ đáng là cái giẻ rách, nhưng em vì quyền lợi của mình, em phải nâng thủ trưởng thành ra gắm ra vóc, thành lụa thành là. Em tung bùa chú của ngôn từ làm cái thừng dat mũi thủ trưởng như dat con trâu con bò. Khi kẻ có quyền ưa nịnh nọt, hắn tự biến mình ra thành con rối, thành công cụ trục lợi trong tay bọn nịnh thần mà hắn vẫn hí hửng không biết. Bằng nghệ thuật bốc thơm cao cấp, từ xưa, đám quan lại nịnh thần đã xỏ mũi được vua chúa. Vua ưa nịnh là ông vua đã bị vô hiệu hóa, đã mất hết quyền lực. Và từ đó, quyền sinh quyền sát nằm trong tay bọn nịnh thần đê tiện. Bằng cách viết bài khen, biến thơ dở thành thơ hay cực kỳ, tôi đã biến Tràng Giang thành chỗ dựa vững chắc, thành vật bảo hiểm cho mình. Tôi viết bài bình thơ bí thư tỉnh ủy gởi cho báo tỉnh ủy và dĩ nhiên là được ưu tiên đăng nhanh nhất. Tôi viết bài khen thơ bí thư tỉnh ủy vừa độ để ông sung sướng. Vì vượt qua giới hạn của sự phổng mũi, ông ta có thể nghĩ là tôi nịnh bợ vì động cơ cá nhân. Tuy nhiên, có rất nhiều kẻ biết người khác nịnh mình nhưng vẫn không từ chối lời khen, vẫn cứ sướng, thậm chí còn cảm thấy nịnh chưa tới số. Tôi tiếp tục ngồi ở nhà viết bài bình giảng hết bài thơ này đến bài thơ khác của tập bản thảo Đêm mặt trời của Tràng Giang. Thậm chí, Hoàng Thi giờ là tổng biên tập báo văn nghệ tỉnh vì hắn biết đánh cắp chức vụ của tôi một cách hợp pháp, đã sai người sang đặt bài tôi viết về những bài thơ của đồng chí bí thư. Vả lại, Hoàng Thi biết tôi là em kết nghĩa từ xưa của đồng chí bí thư. Sau khi bình được tám bài thơ của bí thư tỉnh ủy trên báo thì tôi nhận được thư của Quát là thư ký thứ hai của bí thư tỉnh ủy. Tôi biết tỏng đi là cá đã cắn câu rồi. Kẻ nịnh đã biến người được nịnh thành bất cứ thứ gì, vật gì nó cần. Như lần trước, tôi được xe Von-ga đen đến chở qua một trạm gác, một barie để vô nhà riêng của bí thư tỉnh ủy. Tràng Giang và Thùy Linh vợ ông ta cùng đi ra vườn đón tôi. Họ rất niềm nở. tất nhiên là sự niềm nở của kẻ bề trên, mời tôi dùng cà phê trước. Tôi vừa nghe Tràng Giang nói về tình hình thời sự vừa ngầm quan sát Thùy Linh. Hôm nay, người đàn bà mô-đen này mặc một bộ đồ bằng da đen rất đắt tiền, áo bỏ trong quần thẳng thớm căng cứng, y hệt một con quạ biết cách thu hút cái nhìn của đàn ông. Bà vợ bí thư hôm nay son phấn nhiều hơn lần đầu tôi gặp. Thùy Linh cũng hút thuốc, thở khói lên trời, mắt lơ mơ, thỉnh thoảng nhìn tôi bằng cái nhìn của lưỡi tầm sét. Đôi khi, người đàn bà này nói chen vào cho có chuyện, đoạn lại hút thuốc, đổi cái nhìn, phóng ra những tia thách thức như ngầm ý bảo nhà báo nhà văn có biết ong bướm là cái giống gì hay không? Tôi rùng mình quay đi trước cái nhìn thăm dò của bà vợ ông bí thư. Hèn chi, con trai và con cái tôi hay bàn tán về chuyện đời tư của bà đệ nhất phu nhân tỉnh Sơn Giang này. Rằng bà ta có cả mấy trăm cái áo cái quần loại cực mốt. Rằng bà ta xỏ mũi ông chồng già bí thư, lôi đi như con mèo kéo theo cái đuôi của nó vậy. Rằng mọi quyền hành nơi ông chồng thực chất nằm trong tay bà vợ cả. Bà ta nắm được cái thóp của các tỉnh ủy viên cho đến các ngài giám đốc sở. Anh nào lại không có mánh mung, không có tật, không có điều mờ ám. Bà ta có một hệ thống em út chuyên môn theo dõi hoạt động của các cán bộ lớn trong tỉnh. Ai muốn lên chức, muốn có cái ghế ngon nhất nhất phải qua cửa bà ta. Rằng bà Thùy Linh này đã ngủ với bất cứ ai bà ta muốn. Gần như cả tỉnh đều biết chuyện đó trừ ông chồng gà mờ bí thư. Nghe hai đứa con bàn tán những điều cấm kỵ như vậy, tôi quát: ăn nói tầm bậy tầm bạ, tù đấy các con ạ. Thằng Văn cười bảo tôi: rời bố xem. Đến bữa ăn, Thùy Linh thay đồ tây bằng đồ đầm. Bà ta mặc một cái váy ngắn màu da người, như thể nó là sự tiếp tục của cặp giò cao và rắn chắc. Tràng Giang giải thích sự ăn diện của bà vợ:
– Tôi vừa đưa bà ấy đi nghỉ mát bên Tây. Dù mình có ăn diện thế nào đi nữa, cũng vẫn chỉ là cái anh nhà quê, so với mấy bà vợ những ông bí thư tỉnh ủy bên đó cùng đi nghỉ mát với chúng tôi.
Tôi cười cười phụ họa:
– Dạ đúng đấy anh ạ. Bên Tây họ ăn mặc như trời ấy chứ. Chi cần phải trang điểm, trang phục nhiều vào nữa mới phải, để cho mấy ông Tây bà đầm nhìn vào mà lảc mắt.
– Chú nói quá đúng. Nào, ta uống đi. Khi đã ngà ngà, ông bí thư bảo tôi:
– Thơ tôi đâu có hay mấy. Chắc là nhờ chú bình giải người ta mới biết. Mấy bài chú viết có ích lắm. Chú ạ, thời nào cũng vậy, muốn làm lãnh tụ thì chí ít cũng phải biết làm một tị thơ. Quy luật nó vốn vậy. Phàm các vị lãnh tụ cách mạng lớn trên thế giới này đều có làm thơ cả. Lê-nin á, Xta-lin á, có làm thơ đấy, làm ít thôi song vẫn được gọi là nhà thơ. Còn Mác thì khỏi nói, lại làm thơ tình nữa mới ghê chứ.
Tôi đế vào cho câu chuyện thêm hào hứng:
– Anh còn thấy một vị lãnh đạo cao cấp nào của nước ta không làm thơ?
– Ai nào? Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
– A sao chú dám cả quyết điều đó. Vả lại, cả cuộc đời của cụ là bài thơ rồi..
Tôi cười xòa. Thùy Linh phóng ra một câu lấp lửng đầy vẻ nem chả:
– Tôi làm được nhiều cái lắm nhưng thơ thì xin chịu.
Nhân thời cơ đến, tôi bàn:
– Này thưa anh Tràng Giang, chỗ anh em trong nhà em xin nói thật nhá. Em xin phép anh cho xuất bản tập thơ Đêm mặt trời của anh đi.
– Chú bảo thơ tôi in thành tập á. Sợ người ta cười cho thì sao?
– Ai dám cười anh. Cả tỉnh này đố đứa nào dám cười anh chị.
Thùy Linh vênh mặt:
– Phải. Tôi thách. Anh cứ để cho chú ấy in. Muốn làm lớn hơn cái chức bí thư tỉnh ủy cò con này mà không chịu phát hành tập thơ thì dại quá.
Tràng Giang vẫn chối như quan viên chối tiết canh lòng lợn. Tôi và vợ ông ta phải khuyên giải, phải ép lấy ép để, cuối cùng ông ta mới chịu:
– Tôi chỉ sợ mấy cụ ngoài trung ương bảo thằng Tràng Giang chơi trèo. Thôi, tùy chú với nhà xuất bản tỉnh. Nhưng in ít thôi nhé. Phát hành nội bộ thôi. Đừng có làm rầm rộ lên. Đừng có mượn người này người kia đề tựa. Cũng đừng nhờ báo chí trung ương phê bình phê bủng mà mấy cụ lớn cụ ấy mắng cho đấy
Tôi còn lạ gì Tràng Giang, con người khiêm tốn chủ nghĩa này nữa. Những điều ông ta vừa nói trên đây, tinh ý thì phải cần hiểu ngược lại hết. Rằng ông ấy bảo in ít thôi nghĩa là cần phải in số lượng cho lớn vào. Rằng ông ta bảo chỉ phát hành nội bộ có nghĩa là phải rải hết cho phát hành trung ương và các tỉnh. Ông ta bảo đừng làm rầm rộ thì phải hiểu là nên tổ chức họp báo để phát hành tập thơ chẳng hạn. Chúng tôi vừa ăn dê tay cầm, vừa uống rượu ngoại vừa bàn về tập thơ Đêm mặt trời.
Từ ngoài phòng khách, Quát, người thư ký thứ hai của Tràng Giang hớt hải chạy ra:
– Báo cáo đồng chí bí thư, sở lương thực vừa gọi điện báo không hiểu vì sao kho thóc Phú Hòa lớn nhất tỉnh bị cháy rồi ạ. Có kêu bên cứu hỏa nhưng vì hết giờ hành chính nên không có ai trực điện thoại. Xin ý kiến đồng chí bí thư.
Tràng Giang đang bị vinh quang của nghề thơ hấp dẫn, đang mơ tới những chức vụ cao hơn ngoài thủ đô. Tràng Giang làm như không hề để ý đến sự có mặt của Quát và điều anh ta vừa báo cáo. Ông vẫn tỉnh bơ uống hết ly rượu vàng óng màu mật ong. Đoạn ông mới thủng thỉnh:
– Đồng chí bảo hỏi bên chính quyền ấy nhá. Gọi cho đồng chí chủ tịch giải quyết. Nhớ bảo sở lương thực rút kinh nghiệm. Lần sau chỉ được phép báo cáo thành tích cho bí thư nghe thôi. Đồng chí nói cho họ rõ là bí thư tỉnh ủy sinh ra không phải để nghe những vụ việc tiêu cực ấy đâu nghe.
Quát vội trở về với cái máy điện thoại và vụ cháy kho thóc của mình. Anh ta đang tức đám cháy vì sao nó lại không cháy vào giờ hành chính. Hai vợ chồng ông bí thư và tôi vẫn tiếp tục vừa ăn vừa bàn về cách nấu ăn siêu hạng của Tàu mà chúng tôi ít nhiều đã được nếm ở tại Bắc Kinh. Khi tiệc trà đem ra, tôi lại thấy bóng Quát chạy vào, vừa nói vừa xoa xoa hai bàn tay vào nhau:
– Thưa đồng chí bí thư, đồng chí Năm Chiêu, bí thư huyện ủy huyện Nhân Hưng báo cáo là lúa của huyện đang bị rầy nâu phá hoại có thể thất thu hai phần ba diện tích. Anh Năm Chiêu nói là đồng chí bí thư tỉnh ủy đã hứa sẽ thúc công ty thuốc trừ sâu giải quyết thuốc chống rầy cho huyện, nhưng chưa rót xuống một ký nào ạ. Đề nghị đồng chí cho ý kiến vì Năm Chiêu đang chờ điện ạ.
Tràng Giang gắt:
– Rầy nâu phá hoại lúa thì dính dáng gì tới bí thư tỉnh ủy nào. Hỏi bên ủy ban nghe chưa. Bí thư tỉnh ủy sinh ra không phải để lo mùa màng thóc lúa mà để lãnh đạo tư tưởng, là chịu hoàn toàn về chính trị trong tỉnh.
Tội nghiệp tay Quát. Anh ta lại trở về với cái máy điện thoại cố hữu của mình. Tôi cũng xin phép hai ông bà bí thư ra về. Tôi hứa tập thơ sẽ được in ra trong vài tháng tới với lời tựa của một nhà thơ tên tuổi, sẽ phát hành với số lượng tối đa, sẽ có họp báo linh đình, sẽ có nhiều cây bút phê bình danh tiếng giới thiệu. Tràng Giang im lặng không nói gì. Trước khi tôi bước lên xe, ông hỏi:
– ồ làm sao chú lại từ chức tổng biên tập tờ báo?
Tôi chột dạ, suýt nữa té ngửa. Nhưng trí khôn tôi của đáng tội cũng có giá, chớp liền thời cơ:
– Thưa anh, sức khỏe em không được tốt. Vả lại, cũng muốn dành thời gian còn lại của cuộc đời để đọc và nghiên cứu, nghiền ngẫm tập thơ Đêm mặt trời của anh cho kỹ lưỡng, đặng viết bài bình phẩm hướng dẫn người dân đọc ạ.
Tràng Giang bắt tay tôi nói nhỏ:
– Cần gì chú cứ kêu tôi. Anh em tình nghĩa cũ, tôi không tiếc chú điều gì cả. Năm nay, tôi đang bận rộn thời gian để hoàn thành tập thơ mới nhất gồm sáu mươi bài mang tựa Mây tư tưởng.
Tôi phụ họa:
– Trời, chỉ nghe cái tên tập thơ thôi là người ta đã chen nhau bẹp ruột để mua bằng được Mây tư tưởng rồi. Chúc anh viết nhiều hơn nữa. Dưới vòm trời che đỡ của bí thư tỉnh ủy, tôi cóc phải sợ hãi bất cứ một con muỗi nào nữa. Tôi dám thách cả cuốn nhật ký cũ mèm vợ tôi vẫn giấu để nắm tim tôi đấy. Tôi dám thách cả thằng Hoàng Thi, có giỏi thì tung cái băng ghi âm quái quỷ ấy ra đi, xem đứa nào chết? Tôi đã nhờ được một nhà thơ cự phách đề tựa cho tập thơ Đêm mặt trời của Tràng Giang. Tôi đang viết thư thông báo cho mấy nhà phê bình chuyên môn viết bài khen ngợi thơ phú của các vị lãnh đạo thì có tiếng gõ cửa. Chết cha, ai vậy kìa? Nếu là vợ con thì đã có chìa khóa, cứ thể mở vào. Khách, lâu nay tôi đâu có ma nào đến thăm. Những tay văn nghệ văn gừng ngày trước nịnh tôi bỏ cha bây giờ coi tôi còn thua rơm rác. ấy, đấy, lại gõ cửa. Tiếng gõ nhẹ nhàng ý tứ như vậy không của con gái đàn bà thì là của công an chắc? Tôi lạnh toát xương sống. Bỏ mẹ, nếu công an tới nhà, chắc chắn không phải để rủ tôi đi xi-nê hay đi nhậu. Hay là thằng ôn con ấy đã gởi cuốn băng kia cho công an văn hóa? Hay là cuốn nhật ký đầy những suy nghĩ cá nhân? Thấy chưa, lại gõ cửa nữa rồi. Biết đâu, hay là con Ngọc Hương nó kiếm mình để xin lỗi và giăng hoa? Tôi bước ra mở cửa. Này, cái gì thì cái, ông nào bà nào thì cứ thò mặt ra là biết. Chao ôi, một ông lạ hoắc chắc hơn tôi vài tuổi, lại cao to đứng lù lù trước ngưỡng cửa. Ông ta ăn mặc khá tươm tất, nhìn tôi huýt sáo một cái thật kêu, giang tay ra đến phát khiếp. Tôi ú ớ:
– Thưa, anh làm gì đấy ạ? Người kia bèn sấn sổ vào tôi, dùng hai bàn tay nặng ký bất thần bíu chặt vào hai vai tôi như tính bắt, khiến tôi phải lùi lại thật nhanh, đứng thủ thế, sắn sàng phóng ra một miếng võ nếu bị tấn công. Ông lạ mặt bèn cười ré lên một tiếng như Trư Bát Giới gặp nữ yêu:
– Quên nhau rồi à cha nội?
Tôi ngớ người.
– Chết cha, Hai Giỡn. Tí xíu nữa là xảy ra vẻ nện nhau như chơi.
Chúng tôi ôm chầm lấy nhau đến độ ngã sóng soài ra cửa, rồi lại xáp vô nhau như hai đô vật. Tôi reo:
– Đồ quỷ sứ. Anh làm tôi hết cả hồn. Đang làm cục trưởng với hòn trưởng mà về đây làm gì ông?
– Tớ xin hưu. Gút-bai Hà thành vào đất An Hải sống với ông đây.
Dễ hai mươi năm có lẻ chúng tôi lại mới được gặp nhau. Hai Giỡn mang theo một lít rượu Làng Vân, mở gói Sa-mít bảo tôi uống và hút cho khói um cái thành phố này lên chơi. Tôi mừng lắm, lật đật kiếm cái gì nhậu nhưng Hai Giỡn can, tí nữa ghé thăm nhà ông ta rồi tính. Chúng tôi được một bữa huyên thuyên sướng nhé. Sau đó, chúng tôi lại quay về câu chuyện thời sự, về cái sự chán chường khiến Hai Giỡn phải xin về hưu. Rằng ông thấy mình bất lực trước muôn nghìn cái xấu, cái ác, cái bất công mà người ta gọi tránh đi là tiêu cực đang ăn rỗng cả rường cột quốc gia. Ông cảm thấy người cầm quyền như đang xa rời dần cái xuất phát điểm và cái mục tiêu của cách mạng. Bố mẹ vợ ông không có con trai thừa kế, nài nỉ ông về An Hải này để các cụ trao lại dinh cơ. Đó là một ngôi nhà hai tầng xinh xắn nằm trong một khu vườn đẹp ở ngoại vi thành phố. Số Hai Giỡn là cái anh nhờ lộc vợ. Hai Giỡn uống vại ly rượu vào là hăng hái lắm. Gặp bạn thân, ông moi gan ruột ra để kể chuyện tình của mình cho tôi nghe một cách say mê như thời trai trẻ:
– Hồi đi học nước ngoài về, tớ vẫn chưa chấm được cô nào cả, nói chung là chưa muốn lấy vợ. Tớ được phân một căn phòng nhỏ xíu trong hẻm phố Hàng Chuối. Một lần mở cửa sổ ra, tớ thấy qua cửa sổ nhà đối diện một cô gái trắng đến nỗi tớ chưa từng thấy có cái gì trên đời trắng hơn, ngồi đan áo len. Dáng vóc cô ta thật lý tưởng. Thấy tớ đứng bên này cửa sổ nhìn không chớp, nhưng cô ta không ngẩng mặt lên bao giờ, vẫn cúi xuống đan áo. Bấy giờ, tớ dạy ở đại học Bách khoa, mỗi lần về nhà mở cửa sổ ra, lại thấy cô gái đó ngồi đan áo, vẫn nước da trắng đến độ trứng gà bóc còn đen nếu dám so với cô ấy. Tớ huýt sáo hoài nhưng cô ta vẫn không thèm ngẩng đầu lên ông ơi. Tớ tức lắm. Lạ, con cái nhà ai mà kiêu kỳ vậy không biết? Suốt cả tháng trời tớ không sao thấy được mặt mũi cô gái bí hiểm này, để coi cô ấy xinh thật hay xinh dỏm. Ngay lối cổng đi lại, tuyệt nhiên cũng chẳng thấy cô ta ra. Hỏi hàng xóm thì tớ không muốn. Ba Hưng biết vì sao, làm cách nào để tớ nhìn thấy mặt cô đan len kia không? Vỏ quít dày, tất nhiên phải sinh móng tay nhọn, tớ mới kiếm một cuộn len bằng cái hột vịt, nhét vào giữa viên sỏi cho nặng rồi viết mấy chữ vào một mảnh giấy nhỗ gởi trong ruột cuộn len rằng: Anh muốn được nhìn thấy gương mặt em. Đoạn, tớ nhằm cô ta từ bên này cửa sổ, ném cuộn lên vụt một cái qua cửa sổ nhà cô ta. Trời ơi, phải nói là tuyệt vời, cuộn len trúng cái bịch vào ngay ngực cô nàng. Cô gái bèn ngẩng đầu lên nhìn tớ cậu ạ. Thật đúng là tiên nữ giáng trần, mình choáng váng như kẻ sắp sửa chết đói ấy. Tớ cứ đứng ngẩn tò te ra như thằng bé nhà quê lần đầu tiên được nhìn voi ỉa. Tớ thấy cô ta cúi xuống nhặt cuộn len, tháo tung ra, tìm thấy mẩu giấy cam cúi đọc rồi tủm tỉm cười. Thấy vậy, tớ cũng nhe răng cười y hệt chú nghé con vừa hít trúng đám cỏ non ngon lành. Từ hôm đó, cô gái biến mất, suốt cả tuần lễ không ngồi bên song cửa đan len nữa ông ơi. Tớ buồn đến chết được. Đi dạy học về chỉ làm mỗi công việc là mở cửa sổ chiếu tướng cửa sổ nhà đối diện. Tớ nhớ quặn thắt ruột gan cái gương mặt trái xoan, cái mũi bé bằng mỏ chim sáo, cái miệng chúm cha chúm chím thương đến rụng tóc được ông ơi. Bỗng một hôm tớ ngồi viết rất say sưa thì nghe một tiếng bịch hết hồn. Chả là từ có nàng, tớ kê ngay bàn viết giữa cửa sổ. Sau cú bịch rơi từ đâu đến ấy, cái bút tớ đang cầm trên tay bị văng ngay xuống đất. Tớ nhìn xuống gầm bàn thì hóa ra cuộn len của mình bữa trước. Trời ơi, ông ném đi, bà ném lại, cô gái bí mật đã ném trả mình vị sứ giả tuyệt vời là cuộn len nhỏ. Mình mừng muốn điên lên được, tới mức có thể nhảy từ trên lầu xuống đường cũng cóc có sợ chết. Trúng rồi trời ạ. Sự im lặng đã lên tiếng, bí mật đã bước đầu được khui mở. Tớ hồi hộp nhạt cuộn len lên, moi trong ruột ra một miếng giấy nhỏ. Tớ thề với cậu là lúc ấy tim tớ ngừng đập mấy giây. Chữ của nàng đây, nét chữ bé tí tẹo như những con rận xanh dễ thương bò nhấp nhổm. Đây, lời nhắn của nàng đây: Anh đừng nhìn em, em xấu hổ chết mất. Từ đó, suốt ba tháng trời, giữa hai cái cửa sổ qua hẻm phố chừng hơn ba thước đã xảy ra cuộc chiến tranh, mà viên đạn bắn qua bắn lại là cuộn len có gài thêm bức thông điệp trái tim. Chúng tớ đã tỏ tình với nhau bằng cái kiểu lạ đời ấy ông ạ. Tớ yêu cô ta chết mê chết mệt. Cô ta dịu dàng và yếu đuối đến mức, tớ sợ mỗi ngày viên đạn si tình ban qua ban lại chiu chiu hai ba lần như vậy liệu có nhừ xương không? Đúng một năm trời, chúng mình cưới nhau cậu ạ. Tớ nói dóc thì xin ông cọp cứ việc vồ tớ ngay cả khi dạo phố. Khi cô ấy mặc áo cưới về phòng mình thì có đến hơn một nửa dân Hà nội ghen tị. Cô ấy đẹp đến độ tớ có tả mấy đi chăng nữa cũng chỉ là sự bôi bác mà thôi. Nhưng khi lấy về, tớ mới biết cô ấy điếc nặng cậu ạ. Được cái may lớn là vợ tớ điếc nhưng không câm. Nghe đâu đến hơn mười mấy tuổi cô ấy mới bị điếc. Đêm tân hôn, tớ ghé vào tai cô ấy hét: Anh yêu em. Cô ấy nghe tiếng đực ra tiếng cái bèn hỏi lại: Sao, anh yếu hả? Yếu thì ngủ đi để đêm mai. Cô ấy hiền lành đến bụt cũng không bằng. Vợ tớ suốt ngày ngồi đan len làm nội trợ. Nhiều lúc tớ thấy thương cô ấy đến giàn giụa nước mắt. Một lần cô ấy giận tớ đến hai ngày không thèm ăn cơm. Tớ ghé vào tai cô ấy nựng, tất nhiên không thể nựng thầm mà là quát lên: Em cưng. Cô ấy buồn lắm. Hai ngày sau cô ấy bảo tớ: Em dịu dàng mềm mại như thế mà sao anh lại chê em cứng. Tội quá, cưng với cứng chỉ hơn nhau dấu sắc mà không hiểu được nhau. Năm sau, vợ tớ sinh ra một thằng cu đẹp hết ý. Khi thằng bé lên sáu tuổi thì tớ có việc đi nước ngoài. ở nhà, xui xẻo sao, hai mẹ con ra phố gíữa lúc máy bay Mỹ đến ném bom. Đau đớn thay, bom nổ, một mảnh bom Mỹ cắm ngay vào gáy người vợ hiền lành xinh đẹp của tôi. Cô ấy gục ngã và tắt thở liền tại chỗ. Còn thằng bé cứ ôm lấy mẹ mà gào, đến độ máu của mẹ đỏ bầm hết cả người con. Khi tớ về thì cô ấy đã xanh cỏ. Tớ đau buồn như điên dại. Tớ thành gà trống nuôi con. Cuộn len tình sử là trái tim cô ấy gửi lại, hiện tớ vẫn còn giữ. Hai Giỡn kể xong, ngồi lặng đi một phút. Hai mắt ông ngấn lệ ông hẹn tôi chiều maí sẽ cho Honđa đến rước tớí thăm nhà mới của ông, nhậu lai rai chơi. Chiều hôm sau, một cậu thanh niên tự xưng là con của Hai Giỡn đến rước tôi bằng xe máy. Phải nói, căn cứ của Hai Giỡn thật lý tưởng. Nhà lầu, vườn rộng, cây cảnh đẹp, có hòn non bộ, có hồ sen nhân tạo, lại chiếc nhà thủy tạ con con, thật đời tôi nằm mơ đến ba kiếp cũng chẳng thấy. Người vợ mới của Hai Giỡn trạc bốn mươi lăm nhưng dáng còn trẻ, trang điểm rất thoáng và nhạt. Chị có cặp lông mi dài cong vút lên như lông mi giả, đôi mắt to, sáng xanh, mũi ngắn nhưng thon, môi trái tim, cằm hơi lẹm, má đầy đặn, răng trang hơi thưa, cổ thon dài nên nhìn quý tướng. Vợ Hai Giỡn là cán bộ giảng dạy đại học vừa từ Hà nội chuyển vào An Hải này. Chị ra tập kết theo một người anh trai đã hy sinh năm Mậu Thân. Tôi nhìn đàn con sáu đứa đều đã lớn, đứa bé nhất hơn mười tuổi mà thấy khỏe cả người. Nhậu xong, Hai Giỡn kéo tôi ra vườn, mắc hai cái võng nằm ngắm trăng non để xổ bầu tâm sự. Anh kể về mối tình với người vợ thứ hai này:
– Tự nhiên, tạo hóa hình như đã lên chương trình hết hay sao ấy ông Ba Hưng ơi. Cái số phải sống với nhau thì dù có trốn vào tàu vũ trụ để lên mặt trăng ngồi rồi cũng phải nhảy xuống đất thôi. Từ sau khi góa vợ, tớ tin là mình ở vậy nuôi con cho đến lúc vô hòm. Năm 1973, mình thôi dạy học, về làm cục phó một cục khá to của một bộ khá bự. Hồi ấy thằng con tớ lên mười tuổi. Hôm chuyển nhà mới, cháu vội đi chơi đến nỗi không nhớ lối về nữa, rồi lạc đâu mất tiêu. Tớ điên lên đi tìm con, nhờ hết bạn bè đến công an, chứ hồi đó báo chí đài đóm toàn đưa tin đại sự họp hành lễ lạc, nào ai thèm in lời rao trẻ bị lạc như báo ở phía nam bây giờ. Hơn một tuần rồi mà tớ vẫn chưa tìm ra con. Tớ mất hồn vía, hôm nào cũng lang thang ở những nơi công cộng. Một buổi chiều tớ đang ngơ ngẩn ngồi trên băng đá ngoài công viên Thống Nhất thì chúa ơi, tớ nhìn thấy con mình đang nắm tay một người đàn bà khá xinh đẹp, đang đi phất phơ nhìn nhìn ngó ngó như tìm kiếm. Tớ kìm xúc động, lặng đi theo con mình và người đàn bà xa lạ kia một đoạn mới bật kêu: Hiếu. Thằng bé quay tít lại sau y hệt cái com-pa, nhào tới ôm bố khóc òa. Người đàn bà cũng xúc động rưng rưng nhìn hai bố con tớ xoần lấy nhau như thừng như chão. Một lúc sau, cô ta mới nói nhỏ nhẹ:
– Thưa anh, suốt cả tuần nay tôi phải dẫn cháu đi tìm nhà. Tôi cảm động vô cùng cám ơn chị ta. Thằng Hiếu, con tôi khoe:
– Cô Hường thương con lắm. Cô Hường nuôi con. Cô Hường bảo nếu không tìm thấy nhà, cứ ở với cô, cô sẽ là mẹ con. Con thèm có mẹ lắm. Người đàn bà nhìn thằng bé đỏ cả mặt nói chống chế:
– Thôi đi Hiếu, cô đâu có nói thế.
Thằng bé càng già mồm:
– Cô thề nào. Cô nói cô là mẹ con mà. Cô thề đi.
Tôi phải can con trai để người đàn bà thoát khỏi điều khó xử:
– Sao con lại án nói với cô như vậy? Tôi cũng ngượng thấy bà. Người đàn bà tên Hường cũng mắc cỡ tới số. Cô ta đứng nhìn xuống bàn chân mình đang di di trên đất. Thằng Hiếu đi giữa, tôi và Hường đi hai bên để nghe nó khoe đủ thứ về cô Hường. Tôi thấy Hường e lệ quá mức, hơi một tí là đỏ mặt, là bẽn lẽn, lấy mấy sợi tóc mai thật dài che miệng. Chúng tôi cứ đi lòng vòng trong công viên mãi. Tôi mời Hường vô nhà Thủy Tạ uống nước hoặc ăn kem, nhưng cô từ chối đến mức tưởng như đi chung với tôi vào chốn đông người, cô sẽ thẹn thùng tới mức tat thở mất. Tôi cảm ơn Hường rất nhiều. Tôi nói xin địa chỉ cô để ngày mai đến cảm tạ, đồng thời xin phép thanh toán tiền tổn phí trong suốt một tuần cô đã nuôi giùm con tôi. Hường nghe vậy làm mặt buồn suýt khóc:
– Sao anh nghĩ về tôi như vậy. Nào có đáng gì đâu mà thanh với toán. Tôi thấy cháu lạc đứng khóc hu hu mới dẫn về nhà nuôi để giúp cháu nhớ ra lối về nhà cũ. Thôi, tôi xin chào anh. Hường ôm thằng Hiểu hôn. Nó không muốn rời cô Hường. Nó khoe hôm nào sẽ tới mời cô đến nhà bố con nó chơi, ăn cơm với rau muống nước tương và đậu rán. Nó nói toạt ra cái điều cấm kỵ nhất trước những người đàn ông đàn bà vừa quen nhau, đang cố hết sức tỏ ra lịch thiệp:
– Mời cô đến ở với bố con cháu cho vui. Bố con cháu có nhà rộng lắm.
Tôi bịt mồm con lại. Hường đỏ tía mặt lên, bỏ chạy như con sáo sổ lồng. Tôi thấy Hường xinh xắn quá, lại thương con mình đến độ khó nghĩ. Hôm sau, tôi mua ít quà, dắt thằng Hiếu đến thăm Hường. Hường ở một mình trong căn phòng nhỏ. Đồ đạc của cô rất sơ sài. Cô bảo cô dạy đại học. Chúng tôi quen nhau, khi nào đi chơi cũng có thằng Hiếu. Nó khoái hết biết. Nó trở thành cái cầu nối chúng tôi lại với nhau một cách chân tình và giản dị hơn tất cả mọi thứ xã giao làm bộ. Chuyện tôi và Hường yêu nhau cũng tự nhiên như thể cái điều phải đến tất sẽ đến. Suốt cả hai ba tháng khi hai bên đã thổ lộ yêu nhau rồi, Hường không cho tôi cầm tay chứ chưa nói gì đến hôn với hít. Cô ấy bảo em bị bệnh xấu hổ, đừng suồng sã, đừng đụng vào em, em đứng tim chết mất. Suốt năm tháng trời yêu nhau, tôi tuyệt nhiên không dám đụng vào người mình yêu chỉ vì cái bệnh xấu hổ của cô thật trầm kha. Đến khi chúng tôi thấy cần phải sống với nhau, nghĩa là phải làm đám cưới. Hường nói phải về thưa với mẹ. Nhưng Hường là con em tập kết, mẹ nào ngoài này? Một ngày đẹp trời, cô đưa tôi về Hà Đông chơi thăm mẹ, đặng chúng tôi cùng xin phép mẹ cho được sống vớỉ nhau đến bạc đầu răng long. Khi chúng tôi tới nhà, một bà già người Bắc bước ra đón. Hường kêu bằng mẹ rất tình cảm. Chúng tôi vô tới sân, có bốn đứa trẻ từ nhà chạy ùa ra kêu mẹ mẹ. Tôi xanh mặt:
– Trẻ con nhà ai vậy Hường?
Cô bình thản nói:
– Con em đó anh ạ.
Tôi cười nói:
– Thôi đi, em đừng có giỡn anh Hai Giỡn này làm gì.
Hường trả lời:
– Anh thử nhìn bốn con mèo con này xem có giống em y đúc không?
Tôi ngã ngửa:
– ối Hường có con hồi nào kìa? Tôi tính trốn luôn, nhưng sao trái tim giữ rịt tôi lại với Hường. Thì ra, Hường đã có chồng. Người chồng của cô đi chiến đấu trong Nam hy sinh, để lại cho cô bốn mống này đây. Bà già đây là mẹ chồng của Hường, bà nội của mấy đứa. Tôi nghĩ một lúc, chép miệng:
– Thôi, mình đỡ phải mất công đẻ thêm con em nhỉ? Hường đứng lặng giữa bầy con ứa nước mắt:
– Em van anh, anh đừng thương em nữa. Em nặng gánh lắm. Tôi vừa buồn vừa thương cảm: – Lỡ yêu rồi làm sao được em. Tôi chấp nhận Hường. Chúng tôi cưới nhau năm 1974 và sinh với nhau một cháu gái nữa, cộng với bốn đứa con riêng của Hường, một đứa con riêng của tôi là thằng cu Hiếu, thành ra chúng tôi có những sáu đứa con. Vậy là có lúc Hường phải hô lên, rằng con em với con anh hè nhau đánh con chúng ta anh Hai Giỡn ơi. Đêm ấy, tôi với Hai Giỡn nằm ngoài vườn tới khuya. Hai Giỡn chợt hỏi tôi:
– Này, anh có biết nhà thơ Trần Khuất Nguyên không?
– Biết.
– Thơ anh ta hay thật. Tôi mê anh này lắm. Anh ta vẫn còn ở thành phố An Hải này chứ? Hôm nào Ba Hưng dẫn mình tới thăm cậu ấy với. Ta mời hắn tới đây nhậu.
Tôi nói dối bạn:
– Mình không quen lắm. Cánh làm thơ tôi ít hẩu lắm ông Hai ơi.
– Này, ngoài Bắc, thanh niên mê thơ Trần Khuất Nguyên lắm. Nghe nói hắn vừa bị đánh khiếp lắm hả?
– Ôi, tí nữa là bị bắt rồi. Hắn bị mất đảng, mất chức. Ai cũng bảo hắn hâm, mát giây. Ông chủ tịch hội văn nghệ thề rằng hắn bị điên thơ. Đi đâu cũng đọc, sốt cả ruột. Nghe nói hồi đánh Mỹ hắn bị thương vào sọ nên cũng có thể điên lắm. Vợ tôi bảo bên khối tư tưởng người ta coi tên này là cặn bã của xã hội đấy. Tôi không tin nhà thơ này điên hay mát. Nếu điên sao làm thơ khá vậy?
Hơn một tuần sau, Hai Giỡn đến rủ tôi tới nhà nhậu. Ông vừa được bầu làm phó chủ nhiệm câu lạc bộ hưu trí của tỉnh. Ông khoe tôi:
– Trần Khuất Nguyên đúng là con người không bình thường trong cái thế giới bình thường này. Anh ta rừng rực như một ngọn núi lửa, lúc nào cũng có thể phun ra thứ nham thạch thơ ca rực cháy. Nhìn cung cách của Nguyên, tôi chợt nhớ đến Maiacốpxki. Họ là những khẩu đại bác biết tỏ tình đấy ông Ba Hưng ơi.
– Tôi sợ anh bốc tay này lắm đấy.
– Xin thưa với anh là chúng tôi vừa mời Nguyên đến câu lạc bộ hưu trí nói chuyện và đọc thơ đấy. Thành công rực rỡ ông ơi. Trong dự kiến, anh ta chỉ nói và đọc thơ trong hai tiếng đồng hồ nhưng vì các cụ hưu trí vỗ tay quá, yêu cầu quá, đành kéo dài ra thành bốn tiếng ông ơi. Nhiều ông hưu trí còn mê Trần Khuất Nguyên hơn cả mê gái nữa. Trong cung cách sống và viết, tôi hiểu cậu ta căm thù cái xấu cái ác biết nhường nào, nhất là cái ác cái xấu kia lại luôn luôn lên giọng nhân danh cái tốt cái thiện. Một con người sống như vậy lúc này thật nguy hiểm.
– Tôi cho rằng Trần Khuất Nguyên cực đoan quá đấy.
– Không, Ba Hưng ạ, xã hội chúng ta đang bị căn bệnh hiểm nghèo có nguy cơ làm sụp đổ tất cả là thái độ sống thờ ơ trước cái ác, cái xấu. Theo Trần Khuất Nguyên, đây là căn bệnh si-đa tinh thần của đất nước. Người ta đã học được nghệ thuật lờ đi, chối bỏ trách nhiệm và lời hứa của cả một thời, làm như không biết cái gì đang xảy ra, giả mù giả điếc trước những nỗi khổ ải của cả một dân tộc.
– Nghĩa là Trần Khuất Nguyên dám bảo xã hội chúng ta đang mất dần khả năng miễn nhiễm trong đời sống tinh thần hả Hai Giỡn.
– Đúng. Tớ cũng đồng ý như vậy. Vậy thì một người sống khác mọi người, luôn luôn đau lòng và phản ứng quyết liệt trước mọi cái ác và cái xấu đang trở thành yếu tố bình thường của xã hội. Rồi cảnh tỉnh mọi người bằng thơ ca, bằng cách sống không chịu thấp hèn của mình, con người ấy chắc chắc bị cho là điên khùng.
Tôi cắt ngang lời Hai Giỡn:
– Anh Hai ạ, bên khối tư tưởng người ta bảo Trần Khuất Nguyên là thằng hề Đông Kisốt. Bên báo văn nghệ tỉnh, người ta bảo cậu Nguyên là thằng cha A.Q. bằng đất thó. Bên Sở y tế họ bảo nhà thơ Nguyên là gã Chí Phèo không biết thân biết phận mình là gì. Còn bên công an bảo nó là tên phản động.
Hai Giỡn không nói gì. Ông ngồi trầm tư có vẻ buồn buồn. Ông sai con lôi cái điếu cày ra hít một hơi dài, thở khói ra như ống khói tàu hỏa:
– Tớ nhớ không chính xác lắm, có ông tổng thống Băng-la-đét sau này bị ám sát đã nói lên một câu thật hay. Câu ấy như vầy: Trong cuộc ác đấu giữa thiện và ác, hiệp đầu bao giờ cái ác cũng thắng. ở hiệp giữa, hai bên ở vào thể cầm cự nhưng cái ác vẫn còn mạnh hơn cái thiện. Nhưng rất ráo, đến hiệp cuối cùng, cái ác nhất định sẽ bị cái thiện đo ván.
Chúng tôi nhìn nhau rồi nhìn ra cửa. Vòm trời đang xanh veo. Một đàn chim nhỏ xíu như đang bay cạnh thời gian, rồi bay sang câu chuyện của chúng tôi về một nhà thơ trẻ, mà trong thâm tâm tôi rất kính phục, thậm chí đến nỗi còn có lúc phải ghen tị với anh ta. Nhưng khi phải phát biểu chính kiến về anh, vì nhiều lẽ tôi không chỉ không nói thật lòng mình mà còn phải nói ngược lại nữa. Tôi kể cho Hai Giỡn câu chuyện về Nguyên:
– Thằng con trai tôi kể rằng, có một lần, chính mắt nó đã thấy Trần Khuất Nguyên đọc thơ trong đám nhậu. Anh ta hơi say và đã làm thôi miên toàn bộ đám ăn mày, đám bụi đời ngoài chợ. ăn mày và bụi đời kéo nhau vô quán nghe anh ta đọc thơ đến nỗi chủ quán phải can thiệp.
Hai Giỡn bảo tôi:
– Có khi những điều ăn mày và bụi đời thích thì lại trái tai gai mắt lãnh đạo. Tôi xin đọc cho anh nghe bài thơ Con ốc của Trần Khuất Nguyên nhá:
Lấy cái lưỡi làm bàn chân.
Đi bằng đầu ốc chẳng cần ngược xuôi,
Đầu cắm xuống, đít ngó trời.
Một đời con ốc bao đời người ta.
– ớ, bài thơ nghe thì hay đấy, nhưng cứ sờ sợ thế nào đấy ông Hai Giỡn ạ.
Hai Giỡn như bị chạm nọc. Ông thuyết tôi một tua: Bọn cơ hội đầy tràn như lụt lội trong xã hội ta hiện nay đều đi bằng lưỡi chứ nào có bước bằng chân. Chúng ta còn duy tâm hơn cả con ốc. Con ốc đi bằng đầu còn chúng ta suốt một thời toàn đi bằng tư tưởng, đi bằng ý chí. Chính trị là thống soái mà. Tôi nghĩ rằng con ốc nó có vẻ kiêu ngạo đấy, nó dùng đít để ngó trời, nhưng sự kiêu ngạo kia còn thua xa những người cầm quyền trong xã hội ta. Hèn chi từ đời xưa, ông Lê-nin đã từng lên án gay gat cái thói kiêu ngạo cộng sản. Vì kiêu ngạo, cho ý mình là ý trời nên xem thường kẻ khác, coi thường nhân dân, lúc nào cũng sợ phải theo đuôi quần chúng nhưng cái miệng thì toàn hô lấy dân làm gốc cả thôi. Tôi nói thật ông đừng giận nhá, quan niệm của ông về văn học nói riêng, về nghệ thuật và cuộc đời nói chung đã xa rời các nguyên lý mỹ học mác-xít quá lâu rồi. Các ông hãy đọc lại kinh điển đi, xem lại lịch sử phát triển và tiến hóa của tư tưởng và văn hóa nhân loại đi. Các ông, từ thời Sta-lin qua Mao Trạch Đông đến nay đã tung ra một thứ lý luận hết sức dung tục là văn nghệ phải phục vụ chính trị. Chính trị và văn nghệ đều là hai hình thái ý thức xã hội độc lập với nhau của thượng tầng kiến trúc. Tất nhiên, sự cộng hưởng qua lại, sự tương tác tương hỗ giữa hai hình thái ý thức này phải được hiểu một cách biện chứng. Vì căn bệnh ấu trĩ đồng nhất văn nghệ với chính trị, cho nên khi đọc một bài thơ, một cái truyện ngắn hay một cuốn tiểu thuyết, các ông cứ cố tình kéo hình tượng, kéo các biểu tượng của nó về phía chính trị, thành ra luôn luôn sợ ám chỉ, sợ ngụ ngôn, sợ phạm vào húy kỵ của ông vua này của bà hoàng nọ. Thành ra văn nghệ bị triệt tiêu mắt tính mục đích để trở thành một thứ phương tiện hạ đẳng và rẻ tiền. Do đó văn nghệ hay văn học sẽ không còn mang tỉnh tư tưởng nữa, sẽ mắt đi thiên chức của mình là tiên tri thời đại, hướng thiện cho con người, giúp con ngươi tự phát hiện ra chính bản thân mình. Các ông viết lách bao năm cốt để ru hát mà thôi. Ru đến nỗi khiến cho con người lịm ngủ, đến mức không còn khả năng tỉnh dậy nữa. Văn học vừa hát ru, vừa phải biết thức tỉnh, thậm chí biết cảnh tỉnh, cảnh cáo cái xấu cái ác. Văn học các ông muốn có ích, muốn vừa đạt được cái tức thời, vừa chạm được vào cái muôn thuở, nhất thiết phải vươn lên để trở thành van hóa. Bởi vì, cái gì đã trở thành văn hóa thì nó cũng sẽ còn lại mãi với con người. Lý thuyết mác-xít dạy rằng tính tất yếu của loài người là phải tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Khi con người tới thế giới đại đồng, vẫn theo lý luận, xã hội lúc đó sẽ không còn giai cấp, tức là không còn đảng của bất cứ giai cấp nào, sẽ không còn chính quyền, quân đội hay tòa án công an. Nghĩa là chúng ta sẽ có một thế giới mà yếu tố quyền lực bị triệt tiêu, chính trị bị triệt tiêu, nhưng văn hóa thì còn mãi, văn học thì còn mãi. Như vậy, ai lại đi bắt cái muôn đời, cái vĩnh hằng phải phục vụ cho cái tức khắc, cho cái cần phải triệt tiêu đi. Ông có đồng ý với lập luận này không Ba Hưng?
Tôi gật đầu, thầm phục khả năng ghê gớm của Hai Giỡn về những quan niệm thẩm mỹ mác-xít sắc sảo và thông minh. Tôi chêm vào:
– Rõ là đúng như vậy đấy, nhưng nói ra thì sợ bị quy là xét lại là phản động. Ông về hưu rồi nên cái sợ nhỏ hơn bọn tôi.
Hai Giỡn im lặng hút thuốc lào sòng sọc. Tôi ngẫm nghĩ cái đời mình mà kinh. Tôi cũng hiểu rằng khi nào con người còn phải sợ hãi, nó vẫn còn chưa được giải phóng, vẫn còn là một kẻ nô lệ. Con người khi sinh ra đã phải đối diện với nỗi sợ hãi vĩ đại nhất của đời mình là sợ chết, là nỗi sợ khôn cùng trước cái hư vô thăm thẳm, trước những bí mật đến kinh hoàng của thế giới tự nhiên. Tôn giáo, triết học, khoa học, nghệ thuật được ra đời để giúp con người chống trả lại nỗi sợ sinh diệt này. Nhưng đến khi xã hội loài người phân hóa giai cấp, con người lại phải chất lên lưng mình cái ách vô cùng khốc liệt của nỗi sợ nhau, tức là nỗi sợ đồng loại, nỗi sợ trước bạo quyền độc ác. Chủ nghĩa cộng sản muốn trở thành yếu tố giải phóng đẹp nhất của con người, nhất thiết phải tìm ra phương cách hữu hiệu nhất giúp con người thoát khỏi mọi ám ảnh sợ hãi. Nhưng tôi biết người ta đâu đã làm được như vậy, người ta vẫn còn đe dọa đồng loại mình bằng đủ cách, bắt con người phải sợ hãi mình và do đó phải biết nghe lời mình. Trời ơi, có lẽ nào thu phục được nhân tâm, nếu một kẻ có quyền kia cầm thanh gươm rồi túm áo đồng loại bảo: Nếu mày không yêu tao, tao sẽ giết. Sta-lin, Mao Trạch Đông, Pôn Pốt đã làm như vậy, đã biết cách khai thác nỗi sợ hãi và sự hèn nhát bạc nhược của con người để làm vũ khí thống trị con người. Hai Giỡn thở xong làn khói thuốc làm tôi suýt phát sặc và dừng lại mạch suy tư. Ông ta vẫn còn hăng lý luận lắm:
– Cái sai lầm lớn nhất của các vị lãnh đạo vừa qua là do học thuyết chính trị là thống soái chi phối. Vì vậy, các nhà lập thuyết của đám Mao ít bèn đồng nhất chính trị với mọi hình thái ý thức xã hội trên thượng tầng kiến trúc. Thành ra từ tôn giáo, triết học, đạo đức, văn hóa văn nghệ đều là chính trị tuốt xít. Người ta giảng văn hay giảng đạo đức trong nhà trường cho tuổi trẻ học, thực chất là cuộc giảng dạy chính trị mà thôi. Thậm chí người ta còn chính trị hóa cả khoa học tự nhiên nữa. Ngay cả yếu tố tư tưởng là cõi tự do đích thực của con người cũng bị người ta chính trị hóa bằng một cụm từ rất quen thuộc: chính trị tư tưởng. Do vậy, thế giới quan nào thì sẽ có một nhân sinh quan đó.
Tôi im lặng công nhận Hai Giỡn có lý. Tôi biết ông nói và viết được rành rẽ ba thứ tiếng Anh, Nga, Pháp. Ông đã du học sang Liên Xô, đã đi năm bảy nước tư bản. Ông đọc sách nhiều và ngay cả trong khu vực văn nghệ của chúng tôi, ông đã tỏ ra rất uyên bác, như một chuyên gia. Tôi nói với Hai Giỡn trước khi ra về:
– Ông khuyên Trần Khuất Nguyên rằng đừng có làm cái thớt, phải biết cách làm con dao. Hai Giỡn bắt đầu giỡn: Nhưng có khi thớt cũng chẳng phải anh, dao cũng cóc phải anh. Anh chỉ là cái món ở khoảng giữa dao và thớt.
Hai chúng tôi cùng cười thoải mái. Tôi nghĩ bụng: nghệ thuật không cần phải học phương pháp bắn phá của hạt nhân. Nghệ thuật có bùa phép của nó để đến với trái tim con người. Nghệ thuật không cần đập vô các bức tường, nó thẩm thấu qua các bức tường. Nghệ thuật chính là hình ảnh của tư tưởng. Mà tư tưởng của con người bao giờ cũng có khả năng thẩm thấu vào cốt lõi của sự vật, vào bề rộng vàbề sâu của thế giới. Bởi vì tư tưởng chính là tinh thần của tồn tại vậy Nếu tôi có tài năng lớn, tôi sẽ mở ra một phương pháp sáng tác riêng cho mình: phương pháp hiện thực thẩm thấu. Nhưng tiếc thay, bao nhiêu sự dũng cảm của mình, tôi đã tiêu xài hết trong thời trai trẻ đi đánh Pháp. Còn bây giờ, trong cuộc chiến đấu chống lại thói đạo đức giả, thói nhân danh cái thiện, cái cao cả để làm cái ác, cái đê tiện, tôi lại là một kẻ hèn nhát đầu hàng. Vậy mà tôi vẫn mang danh đảng viên, mang danh nhà văn thì quá khôi hài. Tôi bỏ mặc những chàng Đông Kisốt Trần Khuất Nguyên phải một mình chiến đấu với cối xay gió? Tuy nhiên, tôi vẫn phải đối diện với đốm đom đóm lương tri của mình. ở nơi sâu thẳm đó, vẫn còn đôi mắt của Oanh nhìn xuyên qua sự mờ ám của tôi với những tia nhìn sắc nhọn và nhức buốt như nọc ong bầu…
Tôi cùng Tám Lợi, giám đốc nhà xuất bản tỉnh Sơn Giang xuống nhà in xem lại số giấy có đủ in ra mười nghìn cuốn Đêm mặt trời của bí thư tỉnh ủy Tràng Giang không? Chúng tôi làm cuộc lễ nhỏ khánh thành việc in tập thơ, có cắt băng, có quà của bí thư tỉnh ủy. Tám Lợi nói thầm vào tai tôi:
– Theo dự trù, ít nhất nhà xuất bản phải lỗ vốn tới năm triệu đồng vì tập thơ này.
Tôi giải thích:
– Thì lỗ hay lời cũng là ngân quỹ của nhà nước cả. Còn ông với tôi thì không lỗ tí nào đâu, đừng lo. Ông Tám là tỉnh ủy viên lần nào chưa nhỉ?
– Chưa. Mình chưa tới số.
– Ông cứ thử in thật đẹp tập thơ này vào xem nào. Muốn vào tỉnh ủy, anh nào cũng cần phải có một cái thang. Leo lên không bằng thang thì bằng cột mỡ à.
– Thì ai chả biết như vậy ông Ba Hưng ơi. Nhưng thang nó cũng có ba bảy loại. Có loại thang chân, có loại thang tay, lại có loại thang mồm, thang lưỡi ông ạ. Nhưng theo tôi, loại thang cho đầu gối leo là hay hơn cả. Với ông, quen quá còn gì, tôi cứ nói trắng ra như vậy cho dễ.
– Ôi cái anh Tám này nhiêu khê quá. Thang nào thì thang, miễn leo lên là được. Khi tôi tiễn tay giám đốc xuất bản về, một nhà thực dụng chủ nghĩa có lý luận, chợt chuông điện thoại và người trực máy mời tôi đến nghe, có ai đó kêu tôi. Tôi giật mình, liệu có phải là một tin chẳng lành bao giờ cũng rình rập tôi.
– Ai đó? Ruộng hả? Sao? Con Vương Thi làm sao? Năm ngày rồi nó biến mất, không lên lớp, không về nhà thì đi đâu? Bà bảo tôi tìm nó ở đâu bây giờ? Xuống nhà thằng bác sĩ Mão hả? Nó làm ở bệnh viện hay ở nhà? Tôi sẽ xuống bệnh viện ngay bây giờ.
Tôi bỏ ống điện thoại xuống mà toát cả mồ hôi. Con Vương Thi, niềm tin yêu duy nhất của tôi vào cuộc đời vừa đi đâu mất năm ngày nay không xuất hiện. Tôi hình dung ra bao nhiêu trạng huống con gái tôi gặp phải mà run sợ tái mặt. Cuộc đời tôi cha mẹ sinh ra cũng như ai, giờ sao giống con cheo con thỏ, hơi tí là run, hơi tí là tái mét mặt. Tôi leo lên xe đạp đến bệnh viện tỉnh tìm cậu Mão, bác sĩ mới ra trường hai năm nay. Cậu này con nhà khá giả, làm nghề buôn bán, học giỏi nhưng không được đẹp trai. Mão người thấp lùn, đứng có khi còn chưa cao bằng con gái tôi nữa. Mắt cậu ta lại một mí, loại mắt lươn, nhìn hơi gian gian. Hai đứa đã quen nhau sau lần đi nghỉ mát ngoài Nha Trang. Mão tán Vương Thi một cách bão táp. Con bé đổ. Hai đứa yêu nhau. Vương Thi yêu một cách cuồng nhiệt. Nó đã kể cho tôi nghe về mối tình đầu của mình như đang kể cho cô bạn thân vậy. Nó khoe với tôi về bao nhiêu cái hay ho tốt đẹp của người yêu. Tôi khuyên con gái, yêu thì yêu nhưng phải biết giữ mình giữa mẩy, đừng bao giờ vượt quá giới hạn cho phép. Tôi phải dặn con gái cả những điều chính ra mẹ nó phải dặn. Tôi thông cảm với con, tính nó sống quyết liệt không chấp nhận sự nửa vời. Điều gì nó cũng muốn truy nguyên, hành động nào cũng phải rất ráo mới chịu. Thỉnh thoảng tôi bảo con rằng tình yêu mà cháy quá, bốc quá e mau tàn đấy Vương Thi cười chép miệng: bố quan niệm xưa rồi, đã là tình yêu thì có cháy đến hết đời vẫn cứ còn đầy nhiên liệu. Tình yêu là sự tăng trưởng, sự vươn lên mãi mãi thì lửa ấy, sức cháy ấy làm sao gọi là tàn được hả bố? Tôi bảo con rằng mọi vận động trên đời đều cần được bảo hiểm, đều có bảo hiểm cả, nghĩa là phải có cái thang đề phòng vật cản xuất hiện đột ngột khi vận tốc của sự vật đang ở cao điểm. Con gái tôi lại cười: gớm, bố cứ làm tình yêu như cái xe đạp lăn xuống dốc không bằng. Tôi tiên cảm thế nào con gái tôi cũng sẽ gặp tai nạn trên hành trình tình cảm, khi nó mặc kệ mọi tốc độ mà không sắm cho mình một cái thang.
Tôi tới bệnh viện thì anh chàng Mão đang dắt xe cúp ra cửa bệnh viện. Mão chào hỏi tôi tử tế lễ phép. Tôi hỏi:
– Vương Thi có ở bên nhà cháu không?
Dạ thưa bác không có ạ. Lâu rồi cháu không gặp lại cô ấy Tôi sửng sốt: – Sao vậy anh Mão? Dạ chúng cháu bất đồng nhiều thứ lắm ạ. Cứ gặp là cãi nhau. Vương Thi rất cực đoan. Cô ấy không bao giờ chịu thỏa hiệp.
– Nghĩa là nó với cháu giận nhau?
– Dạ chúng cháu cắt đứt quan hệ với nhau rồi ạ. Sau hai năm tìm hiểu, chúng cháu thấy không thể tiến tới hôn nhân được thưa bác.
– Cô cậu thôi nhau lâu chưa?
– Dạ được nửa tháng rồi ạ.
Tôi chia tay với cậu rể hụt, vừa đạp xe về nhà vừa lo âu, vừa buồn đến chóng mặt.
Thấy tôi Về, Ruộng hỏi:
– Con đâu? – Tôi đâu có giữ nó trong túi. Nó đã ngoài hai mươi tuổi, lại sống độc lập, ít về nhà, bà không giữ nó nổi sao còn hỏi tôi?
Ruộng cau mày than thở. Tôi trình bày chuyện vừa gặp thằng Mão, chuyện hai đứa nó thôi nhau. Ruộng đay nghiến tôi:
– Tôi đã can nó đừng yêu cái thằng con nhà buôn bán, con nhà rặt ngụy nhưng ông chiều con. Bây giờ ông thấy cái giá của tự do chưa?
Sợ con tôi thất tình thất tung lại dại dột liều mình thì khổ thôi. Tôi bàn hay là nhờ bên công an họ tìm cho. Nhưng Ruộng gạt đi ngay: để rồi ầm lên khắp nơi con Vương Thi bỏ nhà đi bụi à? Đẹp mặt bố mẹ lắm đấy. Mai mốt lỡ nó lù lù về thì có ma nào dám lấy. Với lại ảnh hưởng con đường vào tỉnh ủy của bà ấy. Một tỉnh ủy viên không thể có con gái bỏ nhà đi hoang. Ruộng ngồi khóc tức tưởi một chập, quay lại cằn nhằn:
– Tại ông hết. Cái nhà tan hoang, con chả ra con chồng chẳng ra chồng. Có được đứa con trai thì bây giờ cử ôm rịt lấy bố mẹ vợ như mèo ôm mỡ ấy. Đứa con gái thì đi đâu mất tông mất tích. Nếu ngày ấy ông chịu đặt tên chúng nó theo ý tôi thì đã khác. Ông lại đặt tên thằng bé là Trần Văn Văn, con bé là Trần Thị Vương Thi. Bắt con cái tôi dính vào văn với thi là mệt lắm. Mình ông làm văn làm phú chưa đủ sao mà còn tính lôi con cái vào cái nghiệp này? Tôi đã bảo ông đặt tên thằng bé giản dị thôi, là Trần Văn Đồng, tên mẹ là Ruộng, tên con là Đồng có phải vừa hay, vừa ý nghĩa. Còn đứa con gái, bây giờ tôi đã đặt cho nó là Trần Thị Nương, mẹ là Ruộng, con gái là Nương, Ruộng với Nương, nghe vừa hay vừa mát ruột.
Ruộng lại ngồi khóc. Tôi không còn lời nào an ủi bà ấy được nữa. Mà đúng là tôi đã đánh hỏng cuộc đời của người đàn bà này. Cứ để cho Ruộng ta thán kêu rêu, cho nguôi bao ấm ức đã phải nén lại một đời. Từ hôm đó, tôi đạp xe đi suốt ngày rạc cả người, mong tìm thấy con trên đường phố hay ngoài công viên. Ruộng mất ăn mất ngủ, tóc đã bạc ra trông thấy. May mà bà ấy còn có cái đam mê vào tỉnh ủy, đêm nằm mơ còn thấy mình đi giảng chính trị cho khắp thế giới. Tôi sút đi đến mấy ký. Hai Giỡn sợ tôi bị ho lao. Tôi điên dại vì con mà nào có dám kể cho bạn nghe để được an ủi. Con gái bỏ nhà, bỏ sở đi là nỗi nhục của cha mẹ, đâu còn dám đi khoe.
Năm ngày sau, một buổi tối, Vương Thi về gõ cửa. Con gái tôi xanh mướt, gầy như cái xác ve. Tôi ôm con gái vào lòng, òa khóc như đứa trẻ khiến con bé dỗ tôi nín đi, nín đi bố như thế nó phải dỗ một đứa bé vậy. Hai ngày sau, Vương Thi ngồi kể cho tôi nghe nguyên nhân bỏ đi của nó. Tôi xin dựng lại câu chuyện kể của con gái bằng cách dựng lại hiện trường, hay theo kiểu quay phim lại các sự kiện.

Chương 19

Suốt mười ba năm sống, cuộc đời chàng là một chuỗi sự chờ đợi. Hy vọng vào cái sắp tới là niềm vui của chàng. Nên nhớ rằng cái quá khứ kia có lúc đã từng được gọi là tương lai. Vì vậy, cuộc đời chàng phải tuân thủ quá trình phân hóa của thời gian được chia làm ba mảnh. Hiện tại đang từng phút giây hóa thân thành hai mảnh, một mảnh lùi về phía sau là quá khứ, một mảnh khác tiến lên phía trước gọi là tương lai. Một mảnh chàng đã biết, đã nếm trải. Một mảnh chàng đang biết. Và một mảnh luôn luôn tìm cách tuột khỏi tay chàng như một con lươn, đánh đố chàng, làm cho chàng hồi hộp về sự bí mật của nó bởi cái chưa biết, sẽ biết. Cái mảnh sống tiên cảm thường lui tới kia đích thực là chàng. Khi ngồi một mình, con người thường sống với cái thì đã qua và cái thì chưa tới. Cái thì đang có kia chợt như chưa hề có, không hề có. Cái cảm giác không thực ấy cung cấp cho chàng một tín hiệu đầy nghi hoặc về sự hiện diện của mình. Có thực là chàng không hay chỉ là cái phản ánh của chàng? Chàng không chiêm bao, cũng chưa từng thấy mình hóa thành bướm hay hóa thành bất cứ điều gì ngoài bản thân chàng. Chàng không mơ mộng đến nỗi nhầm lẫn cái thực và hư. Tuy nhiên, chàng không ngây thơ tới mức nhìn vào bất cứ sự vật nào cũng có thể tin ngay là chính nó. Hoặc thực để đến độ, chỉ khi nắm bắt được sự vật trong tay mới dám xác tin. Chàng không sinh ra để lý giải tất cả mọi sự đời. Nhưng sự đời đang ráo riết lý giải chàng. Chàng là ai hỡi kẻ vô danh đến trái đất một mình và rồi sẽ phải một mình đi khỏi trái đất? Chàng vừa đi khỏi trái đất. Chàng vừa leo qua mặt trăng. Trời chưa kịp tối thì trăng đã mọc. Đó là vầng trăng mười sáu của riêng chàng. Chàng đã đợi nó từ khi nó còn là một lá lúa. Tối nào chàng cũng ra bờ hồ, dựa lưng vào gốc cây ngồi ba tiếng đồng hồ có khi kết hợp vừa câu cá, vừa suy tư, vừa chờ đợi. Chiếc hồ khá rộng phía bắc ngoại ô thành phổ An Hải hợp với tâm hồn đang hoang vắng của chàng. Quanh hồ, lác đác những lùm cây, những thân cổ thụ, những chiếc ghế đá cũ kỹ và sứt mẻ. Chàng ngồi trên một gốc cây được cưa nhản thành cái ghế, dựa lưng vào một gốc cây khác ngắm hai vầng trăng cùng một lúc. Vầng trăng trên trời và vầng trăng dưới đáy hồ, đâu mới là vầng trăng của đời chàng? Chàng nghe đồn thi bá Lý Bạch muốn chiếm vầng trăng dưới nước làm của riêng, nên đã hóa thành trăng từ đó. Xung quanh chàng, người ta cũng ngắm trăng, nhưng ngắm thành từng cặp. Cuộc sống đang nung đất trong chàng tất cả khổ đau và hạnh phúc. Ngọn lửa ấy không để chàng yên. Nó quyến rũ chàng hy sinh. Nó làm chàng điên đảo trước bất hạnh đồng loại. Đầu chàng như cái cổi xay lúa, cứ ù ù ì ì tất cả vận hành của cái thành phố năng động này. Trăng mười sáu đã lên cao dần. Người dạo mát đã về bớt. Bên tay trái chàng, cách khoảng mười mấy thước có một cái cầu bằng gỗ, bắc chìa ra hồ của các vận động viên trẻ ban ngày ra tập bơi. Hồ càng khuya càng đượm ánh trăng như củi càng cháy càng đượm lửa. Gió ngừng thổi và lá cây thôi kêu. Chàng lim dim mắt thưởng thức sự yên lặng của trời đêm. Chàng biết cách lâm tâm hồn mình náo nhiệt lên trong cái trầm tĩnh của thiên nhiên. Chàng có cảm giác mình vẫn hằng chờ đợi một cái gì hình như cái ấy đang tới? Chàng chỉ sợ mình không còn khả năng biết chờ đợi. Đôi khi, chỉ vì một lời hẹn mà có người đã chờ đợi hết cả cuộc đời. Nhưng chẳng có ai hẹn hò với chàng, chẳng có ai mượn chàng để chờ đợi. Chàng đã bị cuộc đời và số phận cho leo cây khá nhiều lần. Cứ sống đi, sống hết mình đi anh bạn ạ, thế nào rồi anh cũng phải tìm thấy một cái gì chứ. Chả lẽ suốt cuộc đời câu cá, lại chỉ vác cần về không? Chả lẽ anh dám đốt cháy cả đời mình để dâng hiến mà cuộc sống nỡ để anh cô đơn, băng giá? Khi vầng trăng trên trời và vầng trăng dưới nước đối diện với nhau theo một chiều thẳng đứng, thì chàng có cảm tưởng đáy hồ kia cũng sâu thẳm như bầu trời. Hay dưới đó chính là bầu trời, thử nhảy xuống đó, mặc quần áo lặn vào xem, biết đâu chàng sẽ tìm thấy cái vô biên, cái không thể tìm thấy? Người ta đang tản về để chui vào những cái hộp gọi là chung cư, chui vào những bao diêm kêu là phòng bán mình cho giấc ngủ, để lăn lộn quằn quại trên cái khổ giá có tên là giường, để được yêu và được chết, để được nguyền rủa và cắn xé nhau rồi gọi đó là cuộc sống, là hạnh phúc. Người ta đã bỏ mặc thiên nhiên, bỏ mặc vầng trăng mười sáu và bỏ mặc chàng. Chàng không muốn rời bỏ thiên nhiên, không muốn về căn phòng bé bằng lỗ mũi dưới tầng trệt nhưng biệt lập với chung cư bằng cái cổng riêng bé tẹo của mình. Chàng buồn vì không thể mang cái hồ này, vầng trăng này vào căn phòng của mình được. Nhưng kìa dưới ánh trăng, có một người đi lững thững từ bờ hồ ra cái cầu gỗ trống trơn không còn ai. Người ấy hình như mặc áo màu sáng, quần màu đậm và bước khá nhanh. Nếu với một người nhát sợ, có thể cho đấy là một bóng ma hơn là một bóng người. Chàng có cảm giác đó là một người đàn bà. Chàng đang cố đoán xem người cô độc này cần gì khi đã bước ra tới giới hạn cuối cùng của cầu bơi. Chỉ cần bước thêm một bước nữa là rơi vào thế giới vô tổ chức của bọn thuồng luồng. Chàng chưa kịp nghĩ hết cái ý nghĩ vừa nảy sinh trong đầu thì cái bóng người kia bèn nhảy ầm xuống nước. Chàng giật bần người lên như một viên đạn bị tống khỏi nòng. Chết cha, con người này iiều mạng chứ dứt khoát không phải vì hụt chân. Như bản năng sống, nhanh như chớp, chàng cởi phat quần áo, chỉ mặc cái quần đùi phóng như bay ra phía đầu cầu bơi. Chàng từng là một tay bơi lội cự phách, từng cứu người rồi mà. Chàng nhảy ùm xuống nước, nhìn ngay thấy một vùng nước đang bùng nhùng những bong bóng và những lọn nước tung lên như bị sôi trong nồi. Chàng đoán chắc là con người xa lạ kia đang chìm và là một kẻ mù tịt về nghệ thuật bơi. Chàng bơi ào đến và lặn xuống chỗ nạn nhân đang quẫy đạp mỗi lúc mỗi yếu dần. Nghệ thuật vớt người chết đuối chàng còn lạ gì nữa, phải để cho kẻ bị nạn yếu tới mức không còn đủ sức ôm chầm lấy người cấp cứu. Chàng đã nằm được bàn tay người xa lạ, từ từ kéo trồi lên mặt nước để đưa vào bờ. Khi ở dưới nước, con người nhẹ như một trái banh. Khi chàng lôi được nạn nhân vào bờ, mới biết đây là một cô gái. Cô ta đã uống đầy một bụng nước đến bất tỉnh. Chàng nâng người con gái lên bờ, vác ngược nàng lên vai, chạy một đoạn thì nước trong bụng của cô ta mới ọc hết ra. Đoạn, chàng đặt cô gái xuống vệ cỏ, bắt đầu làm hô hấp nhân tạo cho nạn nhân. Rồi chàng đặt ngón tay lên mũi nạn nhân và thấy hơi thở thoi thóp. Sống rồi, chàng thầm kêu lên. Chàng phân vân một lúc, rồi chấp nhận phương án đưa người con gái này về phòng mình sưởi ấm cho cô ta tỉnh lại. Chàng mặc quần áo nhanh như ăn cướp. Chàng chạy lại chiếc cầu bơi xem cô gái có để gì tại đó không, nhưng chỉ có một đôi dép Nhật. Chàng bồng cô gái lên và chạy theo kiểu những tay bắt cóc. Thân thể người con gái đã rã rời, tuy nhiên đã thở mạnh hơn. Thật may mắn, chàng nhìn thấy một cái xích lô. Chàng kêu xích lô đưa cô gái về nhà mình. Dưới ánh trăng, chàng nhận ra gương mặt người con gái thật thanh tú, mặc dù cô ta vẫn nhắm mắt như đang lịm ngủ. Xe xích lô đã tới nhà, chàng trả tiền rồi xuống mở cổng. Chàng mở cửa phòng và bật điện. Chàng đã nhìn rõ người con gái mình vừa cứu vớt. Chàng biết rằng, với gương mặt này, cô ta chỉ khoảng trên hai mươi tuổi thôi. Chàng tìm chai dầu cù là, xức đầy dầu lên thái dương, lên trán, lên mũi và gáy nạn nhân, kẻ cả hai lòng bàn chân bàn tay. Nhưng không thể để cô ta mặc bộ đồ ướt như chuột lột này được. Chàng đi tới một quyết định ghê gớm, dứt khoát là phải cởi bỏ hết áo quần ra cho nạn nhân. Chàng bắt đầu làm cái công việc vô cùng khó khăn này bằng tâm trạng của người cán bộ y tế. Nhưng trước hết phải tắt đèn nê-ông cho bớt sáng, bật ngọn đèn bàn có chụp vẫn dùng đọc sách. Tay chàng hơi run run khi cởi bỏ áo quần của nàng. Chàng nhận ra vóc dáng khỏa thân của người con gái này thật hoàn mỹ, giống như bức tượng thần vệ nữ Mi-lô. Tuy vậy, người chàng vẫn cứ hồi hộp đến phát run lên khi phải lấy khăn lau khô nước trên thân thể nàng. Và cuối cùng, tuy hơi khó khăn, nhưng chàng đã mặc được cho người con gái xa lạ này bộ pigiama của mình. Chàng chạy xuống bếp mang lên cái bếp lò và ít củi, chụm lên sưởi ấm cho người con gái mau tỉnh. Chàng còn phải làm một công việc cần thiết là lật nghiêng người con gái lên để xoa dau cù là vào sống lưng nàng, dùng cái muỗng nhỏ cạo gió thật mạnh giúp nàng mau tỉnh. Rồi chàng nâng người con gái lên dốc ngược đầu nàng xuống lần cuối để nước còn trong bụng trong mũi ọc ra bằng hết. Hay quá, cô gái bị sặc nước, khịt khịt mũi và mở choàng mắt. Đôi mắt nàng tròn như thể mắt chim, với cái nhìn dài dại vì tròng ngươi còn trắng dã. Cô gái lại nhắm nghiền mắt. Chàng tiếp tục giúp nàng há rộng miệng ra để phải thở cả bằng miệng. Chàng đổ vào miệng nàng một ít dầu nhị thiên đường. Cô gái bắt đầu ho. Lửa bếp lò cháy lên như một ngọn lửa cắm trại. Chàng ngồi trên giường sát cạnh người con gái đến ba mươi phút sau thì cô ta tỉnh hẳn. Nàng mở mắt nhìn chằm chằm chàng một lúc đoạn hỏi:
– Đây là đây vậy anh? Chàng bắt buộc phải nói một câu không thật để tạm thời trấn an nàng, để nàng khỏi băn khoăn thêm mệt:
– Đây là bệnh viện đó.
Nàng khẽ ngáp, quên cả việc lấy tay che miệng. Nàng vẫn nhìn lên trần nhà trân trân rồi nói:
– Em mệt quá, cho phép em ngủ nhá.
Chàng vừa pha một ly nước chanh đường vừa gật đầu. Rồi chàng đưa ly nước chanh tới sát đầu nàng bảo:
– Xin mời cô uống ly nước chanh cho tỉnh nhá.
Nàng mở mắt. Chàng giúp nàng ngồi dậy gần như đổ ly nước chanh vào miệng nàng đến phát sặc. Người con gái nằm xuống nham nghiền mắt. Nàng ngủ. Chàng tắt điện. Lửa cháy đùng đùng trên bếp lò vũ điệu cổ sơ của những hang nguyên thủy, thuở con người vừa tìm ra lửa. Người con gái xa lạ này từ đâu đến đây nhảy xuống hồ? Nhìn cách ăn mặc và dáng vóc nàng, hẳn là cô gái con nhà có học. Chàng chú ý đến bàn tay người con gái với những ngón búp măng trằng trẻo, với lòng bàn tay mềm mại như sáp không một vệt chai. Hẳn là nàng được nuông chiều từ nhỏ. Móng chân móng tay nàng đều có điểm một chết sơn nhạt, chứng tỏ nàng từng biết cách làm đẹp, từng yêu đời và vui sống. Bàn chân nàng tuy trong trạng thái gần như hôn mê nhưng vẫn trắng hồng một cách kỳ lạ. Bàn chân dịu dàng chàng vừa xoa dầu lên, lẽ nào đã phải đi thấu bến bờ của éo le và nghịch cảnh. Bằng linh cảm và sự quan sát, chàng hiểu rằng người con gái này hắn có một lối sống rất quyết liệt, có bản lĩnh, đã từng lý tưởng hóa cuộc sống để rồi tuyệt vọng tìm cách quyên sinh. Hay là đã có một kẻ nào đó hay một tập thể những kẻ nào đó đã lừa dối nàng, đe dọa và truy bức nàng. Hoặc nàng đã bị tình yêu phản bội? Hoặc có kẻ nào đó đã cướp mất niềm tin của nàng? Hoặc biết đâu, nàng đã đọc nhiều sách đến mức ngộ chữ thành ra kẻ triết cuồng muốn tìm hiểu, muốn khám phá cái chết, xem cái chết được cấu tạo bằng những nguyên tố triết học nào? Một trăm câu hỏi cứ xoay trong đầu chàng từng cơn gió lốc. Trước hết, sau một hời phân tích các dữ kiện, chàng quả quyết nàng không thuộc típ ăn chơi trác táng hoặc bụi đời bụi đất. Bởi vì, một kẻ ăn cắp, một đứa trụy lạc, một tên vô nhân cách không thể có cái dũng khí dữ dội tới mức nhảy xuống hồ tự tử. Và hẳn người con gái này đã gặp một điều gì đau khổ quá tới mức không thể chịu đựng được nữa. Tự nhiên, lòng chàng trào lên một niềm thương cảm như mạch suối ngầm vừa phun lên. Chàng có một cái đức mà xã hội hiện nay cho là căi tật, cho là hâm là luôn luôn xúc động trước nỗi bất hạnh của người khác, thấy mình như có lỗi, như mình phải gánh lấy trách nhiệm để cho đồng loại đau khổ. Chàng không thể sống bình yên nếu thấy người khác bị nạn mà mình không tìm mọi cách cứu giúp. Chàng căm thù thói tảng lờ của bao nhiêu kẻ có quyền có chức trước nỗi đau khổ của con người. Huống hồ, sự tình cờ mà ta thường gọi là số phận đã bất chợt phó thác vào tay chàng một con người tuyệt vọng, một con người tưởng đã chết bỗng được cứu sống trong cái khoảnh khac định mệnh. Trước lúc nghe tiếng người nhảy xuống hồ, chàng có cảm giác từ rất lâu rồi mình đang chờ đợi, chờ đợi cái không hẹn trước, chờ đợi sự sai số, sự lầm lẫn của tự nhiên khi ghi nhầm ký hiệu bất hạnh lên trán của hạnh phúc. Chàng vẫn lặng ngắm người con gái đang ngủ say và suy nghĩ. Có lẽ trong giắc ngủ, trong cái chết giả định này, nàng sẽ có dịp so sánh hai đại lượng đối nghịch sinh và tử, rồi bằng cái cân của tiềm thức và những mộng mị vu vơ, nàng sẽ tự cân xem cuộc đời nàng đang nghiêng về phía nào? Nhìn nàng ngủ, chàng phát hiện ra đằng sau mí mắt khép kín kia là xứ sở của một tâm hồn ngây thơ và hồn hậu. Một thân xác xinh đẹp và trong sạch của nàng hẳn không có chỗ ần náu cho một tâm hần đê tiện. Cái đẹp của thân xác và cái đẹp của tâm hần thường là hai đại lượng tỉ lệ thuận, trừ những trường hợp đặc biệt, những trường hợp cái đẹp vật thể bị biến thành phương tiện vì sự trống rỗng của đời sống tinh thần. Trong đời, không thiếu gì những nhan sắc tẩm nọc rắn, những con bò cạp biết đi mỹ viện, chinh phục đàn ông bằng cái đuôi độc địa của mình.
Em ạ, đôi khi con người cũng cần phải liều chết mấy phen, chết hụt mấy phen mới thấy hết ý nghĩa cuộc sống. Anh không khen ngợi hành động tự vẫn của em, thậm chí sẽ còn chê bai và lên án nó, song anh hiểu khi một kẻ dám chết thoát chết kẻ ấy sẽ yêu đời hơn bất cứ ai. Cái chết đã mượn anh để ruồng rẫy em, xua đuổi em, không cấp hộ khẩu cho em vào vương quốc đen ngòm của nó. Định mệnh đã giăng lưới em không phải dưới nước, không phải dưới đáy hồ mà chính là trên cạn, trên mặt đất này. Cái lưới ấy, oái oăm thay lại là anh, một người bị thời thế xua đuổi ra bờ hồ ngồi để bầu bạn với vầng trăng. Sau khi mắc mùng cho kẻ xa lạ và làm một vài việc dọn dẹp, chàng đi nằm. Chàng tự dỗ mãi, tự ru mãi nhưng không sao ngủ được. Giấc ngủ của chàng nông choèn như cái hồ con. Nàng có cảm giác đã ngủ một giấc dài bằng hai cuộc đời mình cộng lại. Nàng cảm thấy như mình nằm ngủ dưới đáy hồ, lâu đến nỗi thi thể mình đang hóa thạch. Bất chợt, một con cá bống to bằng cái thuyền đi biển bỗng hớp nàng vào miệng nó, phun nàng lên mặt nước và bắn lên bờ. Nàng quờ tay ra hai bên nhưng con cá, cái ho đã biến mất. Hai bàn tay nàng chợt bấu vào thế giới chặt đến độ cái chết dù với sức mạnh của chàng Sam Sông cũng chẳng thể bứt nàng ra được. Nàng mở mắt ra và thấy cái thế giới này vàng vọt một thứ ánh sáng đom đóm đực. Nàng dần dần hồi phục lại trí nhớ. Nàng tức cười khi biết hai tay mình đang bíu chặt lấy tấm drap trải giường, tới mức nó bị kéo dồn lên nhăn nhúm. Nhưng ơ hay, nỗi đau khổ vô cùng đâu rồi, niềm tuyệt vọng và sự đời tức khac phải kết thúc, phải được chết ngay đâu rồi, biến hết đi đâu rồi nỗi ghê tởm cuộc đời phi nhân này? Nàng tỉnh dần và đã hiểu ra tất cả. Nhưng đây là đâu mới được chứ? Bệnh viện gì kỳ khôi thế này? Nàng chợt hiểu cơ thể mình đòi hỏi phải tìm ra cái toa-lét. Nàng vừa đi tìm chỗ giải tỏa cơ thể, vừa mang máng nhớ rằng có một người đàn ông đã nhảy xuống hồ để kéo nàng ra khỏi cái chết mà nàng đã gần tới. Rồi nàng không sao nhớ ra đoạn tiếp theo nữa. Nàng hiểu rằng người đó đã tha mình về đây. Nàng tìm được công tắc đèn trên tường và bấm lên. ánh sáng đã cho nàng biết rõ tất cả. Người nàng xúng xính trong bộ đồ pigiama đàn ông đã sờn, chắc là người ta đã thay đồ cho nàng? Nàng đỏ bừng mặt và quay về phía bên kia căn phòng, ở đấy đang có một người đàn ông nằm ngủ co quắp như chú tôm cô đơn. Vậy là bí mật của thân xác nàng đã bị người đàn ông xa lạ này phát hiện. Ôi chao, nàng lại phải quay về với cái thế giới phản phúc bịp bợm đã lừa đảo nàng. Cái thế giới ấy đã thì thầm vào tai nàng bao nhiêu đường mật: rằng anh yêu em vô cùng, anh sẽ chết tươi nếu không lấy được em. Và rồi khi cái thế giới đểu giả kia đã lợi dụng được thân xác nàng, đã biến nàng từ một cô gái thành người đàn bà và đột ngột tuyên bố chúng ta không hợp nhau, không thể tiến tới hôn nhân được. Nàng làm sao có thể sống nổi trong cái thế giới mà chính nàng bị biến thành phương tiện, thành vật thí nghiệm của kẻ khác, xem nàng có thể thích nghi được với nó hay không. Và vì vậy mà nàng đã đến nhờ vả cái hồ để mong có sự giải thoát cuối cùng bằng cách tự vận. Nhưng người đàn ông kia đã rình ở đây để giật lấy nàng ra khỏi tay thần chết. Nàng lò dò như con mèo con rình chuột đi tìm nơi vệ sinh. Nàng làm cái động tác giải tỏa cơ thể một cách nhanh chưa từng thấy. Nàng bật công tắc phòng tắm. Nàng nhìn thấy cái quần zin và cái áo trắng mút-sơ- lin của mình đã được giặt và phơi trên một cái dây giăng ngang toa-lét. Đích thị là người đàn ông kia đã giặt quần áo cho nàng rồi. Nàng cảm động đến run rẩy. Hay là nàng đã chết thật rồi, đã chết dưới đáy hồ rồi? Và những cảnh này chính là cõi âm, nơi linh hồn nàng phải tiếp tục một đời sống khác. Hay người đàn ông đang ngủ ngoài kia chính là một vị thần, một vị quan cõi âm coi sóc linh hồn nàng? Nàng lấy ngón tay có móng nhọn bấu vào da thịt mình. Nàng cảm thấy đau. Đúng là thân xác của chính nàng chứ không phải là linh hồn linh hiếc. Vì linh hồn thì làm gi có móng tay nhọn và càng không có cảm giác đau. Vả lại, nàng tiếp tục lập luận theo một lôgích thông thường rằng linh hồn đâu có cái sự mắc tiểu như vừa rồi. Nàng cúi xuống, thấy một cái dây phơi con con buộc từ dưới gầm lavabô tới cái rôbinê, trên đó là chiếc quần slíp màu mận chín của mình. Nàng mắc cỡ đến đỏ mặt tủm tỉm nghĩ thầm: anh chàng sợ, chắc đã dùng đũa hay que gắp treo vào đây. Với nàng, người đàn ông này khác lạ, rất lạ, không giống như những người đàn ông trên đời nàng đã gặp. Một con người kiểu này ngoài đời sẽ bị chê là ngu, là mát. Nàng vừa nghĩ ngợi vừa vò sạch cái quần lót để phơi lên dây. Nàng ra khỏi toalét, nhìn căn phòng sáng điện mà lạ lùng cho sự kỳ ngộ vô tiền khoáng hậu này. Căn phòng thật sơ sài, quanh tường là một hệ thống kệ sách đầy sách. Và vì vậy, nàng hiểu chàng thuộc tầng lớp nào trong xã hội. Nhưng làm sao một trí thức, một người mê sách thế này lại có thể là một trang hiệp sĩ, một Lục Vân Tiên? Người ta bảo trí thức hiện nay nói chung hèn nhát, không dám sống thật, mũ ni che tai. Nhưng có lẽ người đàn ông này là một ngoại lệ chăng? Nàng đi rón rén mấy bước như con cò đến nơi chủ nhân đang nằm ngủ trên chiếc chiều, trong một chiếc màn màu xanh cũ kỹ. Gương mặt anh vuông vức và rám nang, mũi cao, cao gầy. Nàng cảm thấy mình như có lỗi vì quan sát khá kỹ lưỡng một người đàn ông đang nằm ngủ. Nàng trở về chiếc giường mà người chủ nhân kỳ lạ dành cho mình, vừa trăn trở thao thức vừa cố gầng dỗ ngủ. Buổi sáng sớm thức dậy, gắp lại chăn mùng, vào phòng vệ sinh sửa sang lại đầu tóc người ngợm, tự nhiên nàng thấy buồn kinh khủng. Tại sao nàng không chết đi cho rồi, lại còn đến đây làm phiền con người tốt bụng xa lạ này. Nàng cảm thấy người đàn ông đang nhóm bếp vì mùi khói bay thơm thơm. Nàng lúng túng không biết khi chạm mặt với chủ nhân sẽ ăn nói ra sao. Nhưng nàng đánh liều đi xuống bếp, vừa đối diện với chàng, vừa nói đại đi:
– Em xin lỗi đã làm phiền anh quá. Chính ra em nên chết đi thì hơn.
Nàng nói xong mới biết mình hớ. Ai lại bảo em nên chết đi thì tốt hơn, như vậy cái việc người ta liều cứu sống mình là xấu à? Chàng im lặng nhìn người con gái bất hạnh một phút. Hình như chàng cảm động lắm khi nhìn thấy rõ ràng người con gái đêm qua mình cứu dưới hồ mang về nhà cứu chữa:
– Em không có lỗi. Có gì đâu mà phiền lụy. Này, chính ra anh phải theo phép lịch sự kêu em bằng chị. Nhưng thấy em chắc còn ít tuổi, cho phép anh xưng hô như vậy cho khỏi khách sáo.
Họ cùng mang nồi mì tôm và chén muỗng ra bàn. Nàng ăn tự nhiên như đã quen lắm. Nàng ăn tới hai tô mì vì quá đói. Cái cách tự nhiên này hợp với ý chàng. Chàng không ưa tính vờ vịt uốn éo. Chàng vừa pha trà vừa hỏi:
– A, ta chưa hề biết gì về nhau cả. Thật là lạ. Sao số phận lại bày ra cảnh này, y như chuyện bịa chứ không phải thật.
– Em cũng thấy như thế. Em là con trời đánh thánh vật được anh cứu thoát chết. Chính ra em phải biết mắc cỡ.
– Anh xin được biết tên em?
Nàng im lặng gục đầu xuống ngực, mặt nặng ra, bàn tay xoay xoay cái ly nước trà, bàn chân di di trên nền gạch. Rồi nàng ngẩng đầu lên với tất cả vẻ bướng bỉnh và thách đố của ánh mắt:
– Em không có tên anh ơi.
Chàng suýt bật cười. Cô bé này hay đấy. Nhưng nàng vẫn nghênh nghênh nhìn chàng. Chàng thấy nàng rất đẹp trong cái nhìn bất trị. Chàng dịu dàng:
– Nếu em không có tên cũng chẳng sao
. Nàng vẫn chống cằm vênh mặt:
– Còn tên anh là gì ạ?
– Anh cũng như em vậy, chẳng có tên riêng. Tên anh là con người.
Cả hai cùng cười phá lên rồi im lặng.
– Em cũng tên là con người.
– Vậy nhà em ở đâu?
– Em cũng không có nhà cửa gì cả.
– Nhưng em từ đâu tới đây?
– Từ dưới hồ chứ còn đâu.
– Sao anh lại cứu em?
– Anh đâu biết bóng người nhảy xuống hồ lúc đó là em. Anh chỉ biết đó là một người và anh thấy phải cứu.
– Nếu khi anh lao xuống vớt, em chết rồi thì sao?
– Anh sẽ có cách làm cho em phải sống lại.
– Anh là người đàn ông kỳ lạ nhất mà em đã được gặp. Anh không sợ khi lao xuống hồ bị nạn nhân ôm chầm lấy và cũng chết chìm theo thì sao?
– Anh đã có kinh nghiệm cứu người dưới nước. Mà nếu chết, cái số nó đến thì ngồi trên bờ vẫn cứ chết đuổi như thường. Họ cứ nói chuyện với nhau tưng tửng như vậy cho đến gần trưa thì chàng đi chợ. Chàng phải tìm cách giữ cô bé này lại, sợ xổng ra, biết đâu lại chả nhảy xuống hồ lần nữa. Họ đã phục nhau, mến nhau. Chàng quyết phải tìm ra nguyên nhân khiến cô bé này tự tử. Trước khi đi, chàng dặn:
– Em ở đây trông nhà giùm anh. Anh đi có chút việc rồi về ngay. Hôm nay chủ nhật, anh ở nhà cả ngày.
– Nếu anh đồng ý cho em tá túc ở đây, em sẽ ở. Nhưng xin anh đi đâu thì cứ việc khóa cửa ngoài. Em không muốn khách của anh nhìn thấy em mặc áo ngủ đàn ông.
Từ đó, hai ngày đã trôi qua, họ vẫn sống bên nhau trong một căn phòng. Nàng vẫn ngủ trên giường còn chàng nằm dưới nền gạch. Họ thành đôi bạn thân khi hoàn toàn chưa hề biết gì về nhau, kể cả tên tuổi, nghề nghiệp… Họ tôn trọng một nguyên tắc đã đề ra: không tò mò hỏi nhau về đời tư, quá khứ cùng công việc và tên tuổi. Họ thấy xưng hô với nhau bằng em và anh là đủ lắm rồi. Chàng hiểu nàng bị mặc cảm, đôi lúc phải cương lên, giấu đi nỗi niềm thật buồn đau vô bờ của mình. Chàng cần phải tạo ra niềm tin cậy nơi nàng. Còn nàng thì càng ở bên chàng, càng thấy phẩm chất của con người này kỳ lạ đến khó tin. Hai ngày trước đây, nàng bị cái chết hấp dẫn. Còn bây giờ thì chàng đã thế chỗ cái chết. Nàng cần phải học được cách làm ra bộ dễ ghét. Cái chết hụt vừa qua dạy nàng cần phải biết chừng mực với sự sống. Nàng đã bị trái tim mình gài bẫy, dẫn ra hồ và nhảy xuống như một trò chơi. Chàng đã tìm cho nàng những cuốn sách vừa hay vừa hợp với hoàn cảnh để đọc. Nửa đêm ngày thứ ba ở đây, đang ngủ thức dậy, nàng đã khóc thầm. Lẽ nào nàng đã được cứu thoát khỏi cái hồ này, để rồi lại phải đứng trước một cái hồ khác và trước sau gì cũng phải nhảy vào. Cái hồ ấy là đôi mắt người đàn ông nhân hậu lạ lùng đến nghi hoặc. Nàng không còn khả năng quay lại. Hai cái hồ ở hai phía đời nàng. Tiếng khóc của nàng đã lay chàng dậy. Chàng mừng khi nghe nàng khóc. Tiếng khóc sẽ giúp nàng thoát khỏi mặc cảm và khổ đau. Nước mắt vừa là thuốc tẩy, vừa là mồ hôi của tâm hồn đổ ra cho nhẹ bớt mọi gánh nặng. Chàng an ủi:
– Anh sẽ rán giúp em thoát khỏi đau khổ tuyệt vọng.
– Chắc em sẽ phải chết một lần nữa thôi anh ạ.
– Chết là hèn nhát, là thua cuộc, là vô nghĩa. Một người con gái xinh đẹp, có bản lĩnh như thế không nên nói vớ vẩn kiểu này. Nếu em tin anh, xin đừng giấu giếm sự buồn phiền. Chia sẻ gánh nặng với người khác là niềm vui của anh.
Nàng ngồi đối diện với chàng trong đêm khuya và nói:
– Em sẽ kể cho anh hết, mặc dù em chưa biết anh là ai. Suốt ba ngày quan sát, em kính phục anh vô cùng. Anh là con người không giống ai hết. Anh thông cảm và tin em tất cả.
– Em cứ kể đi.
– Chuyện thế này thôi anh ạ. Hai năm nay em đã yêu. Em đã yêu kẻ kia đến điên cuồng. Anh ta tuy không đẹp trai nhưng có nghề nghiệp vững chắc, tán giỏi hơn xiếc. Anh ta thề với em là sẽ đi đến hôn nhân. Trong một buổi tối không tự chủ được bản thân, em đã hiến đời con gái cho anh ta. Anh ta quyến rũ em sống với anh ta suốt một tuần lễ. Sau đó anh ta chán em và tìm cách lảng dần. Cho đến hơn tháng sau em phát hiện ra mình đã có thai. Em đề nghị anh ta cưới. Anh ta bảo khoan khoan chờ vài năm nữa. Anh ta khuyên em đi nạo thai. Em nổi điên lên lấy guốc đập vào đầu anh ta. Nhưng hắn là thằng man rợ, đã đánh em gục xuống rồi thản nhiên bỏ đi. Em đứng dậy lúc đó là tám rưỡi tối. Em kinh tởm cuộc sống, ghê sợ bản thân mmh quá. Em muốn nôn mửa ra cái gọi là tình yêu vừa qua. Em bèn kêu xích lô ra phía hồ và mọi sự diễn ra như anh đã biết.
Nàng kể xong gục đầu xuống và im lặng. Chàng quẹt diêm hút thuốc đoạn nói bình thản: Chuyện đó có gì ghê gớm lắm đâu mà phải liều mình đến vậy. Cứ trong ba thằng đàn ông, ít nhất cũng có một tên Sở Khanh. Em chẳng phải là nạn nhân đầu tiên và cuối cùng của bọn chúng đâu người không tên ạ. Nàng ngước mắt lên nhìn chàng hỏi một câu rất ngố đối với người ba ngày nay đã coi mình như bạn thân, như em gái, như người nhà, thậm chí như người cha với con:
– Anh có khinh em không?
– Khinh rẻ một người đàn bà đang đau khổ là một tội ác đấy em ạ.
– Em cám ơn anh.
– Một thằng như hắn ta, đau khổ làm gì cho uổng. Huống hồ, em lại định chết vì một thằng lừa đảo hạng bét thì liệu có bõ không. Người ta chỉ đau khổ, chỉ có thể chết vì một cái gì xúng đáng, vì một cái gì cao quý thiêng liêng mà thôi.
Nàng lặng im và chừng như đã hiểu hành động điên rồ của mình là dại dột. Trước khi đi ngủ lại, chàng bảo:
– Ngày mai, anh sẽ giúp em giải quyết hậu quả.
– Em lo sợ lắm.
– Anh sẽ tìm một nơi thật bí mật, ở xa trung tâm thành phố. Anh hoàn toàn đảm bảo danh dự cho em. Em có tin anh không?
– Tin.
Sáu giờ, khi trời đã tối, họ chở nhau bằng xe đạp ra ngoại vi thành phố. Trời sang mùa khô, không khí có vẻ se se. Hơn tiếng đong hồ đạp xe, chàng mới đưa nàng tới nơi mình đã đăng ký. Một trạm xá sản phụ của phường giúp việc kế hoạch hóa gia đình với bất kỳ đối tượng nào bị kẹt, bị vỡ kế hoạch… Chàng dặn:
– Anh đã đăng ký từ buổi trưa, đúng bảy giờ ba mươi họ giải quyết. Chúng ta đóng vai vợ chồng. Đây là tên em: Nguyễn Thị Em. Còn tên anh: Trần Anh. Nhớ tên hai đứa là Em và Anh nghe chưa? Em nhắc lại tên mình coi nào?
– Nguyễn Thị Em.
– Còn tên anh?
– Trần Anh.
Chàng còn nhắc nàng thuộc địa chỉ của hai người cho khớp. Sau hơn hai tiếng rưỡi đồng hồ ngồi chờ đợi, y hệt một ông chồng làm cho vợ bị vỡ kế hoạch phải đi giải quyết, người y tá trực kêu:
– Mời ông Trần Anh lên phòng 302 để dìu bà Nguyễn Thị Em xuống. Chàng thanh toán tiền nong rồi lên tầng ba. Nàng tái nhợt vì mất máu. Như thể một lần nữa, chàng lại vớt nàng lên khỏi cái hồ định mệnh. Nàng mở to mắt nhìn chàng ngồi bên cạnh giường, cố hết sức kìm xúc động để đừng khóc. Nàng đã nằm lại trong căn phòng của chàng đúng năm ngày nữa. Nhưng họ vẫn tôn trọng cái khế ước kỳ lạ là tuyệt đối không tò mò tìm hỏi tên tuổi, nghề nghiệp và quá khứ của nhau. Chàng tận tình lo cho nàng mau bình phục sau ca phá thai. Nàng quan sát đời chàng và hiểu ra nhiều thứ. Nàng đã biết cả chuyện chàng phải mang mấy cuốn từ điển quý giá đi bán để đi chợ. Đến ngày thứ tám của cuộc chết đuối trên hồ và trên giường bệnh xá phụ sản, nàng bảo chàng:
– Em phải về qua nhà.
– Anh cũng nghĩ như vậy.
– Bây giờ thì anh đã muốn biết tên em chưa?
– Chưa. ồ, mà tên em chính là Em đó sao?
Nàng cười nhưng nụ cười rớm lệ.
– Em cứ gọi anh là Trần Anh nhé. Rằng anh Anh ơi anh Anh.
– Vâng.
Chàng thấy như mình sắp mắt một cái gì quý lắm. Nàng thấy chàng buồn buồn mà khoái cái bụng. Nàng kêu xích lô. Xe lăn bánh rời nàng mới nói:
– Em sẽ trở lại.
Chàng gật đầu không nói gì và lẳng lặng nhìn theo. Nàng đã kìm những dòng nước mắt nhưng nó vẫn cứ ùa ra. Tuy vậy, lòng nàng đã chớm vui. Nàng nghĩ: cái hồ kia bây giờ hết sợ với nàng rồi. Nhưng có thể với chàng, cái hồ ấy đã bắt đầu đáng sợ.
Chương 20
Nhà hát thành phố An Hải tối nay đã chật cứng người. Tôi xem đồng hồ, chỉ còn mười lăm phút nữa là đồng chí bí thư tỉnh ủy và quan khách từ bàn tiệc khách sạn sẽ tới đây. Các cô phục vụ, tiếp tân lấy từ đoàn văn công tỉnh cô nào cũng xinh như mộng, má phấn môi son, dáng người thon thả bay lượn hết ý, trong chiếc áo dài dân tộc, phơi phới như bướm lượn hướng dẫn số ghế cho mọi người. Họ phát tặng phẩm cho khách tới dự một tập thơ Đêm mặt trời của tác giả Hoài Bão tức đồng chí Tràng Giang, bí thư tỉnh ủy, kèm một phong bì số tiền là một trăm đồng với hàng chữ in trên phong bì thật đẹp: Xin vui lòng dùng một ly cà phê để thức với Đêm mặt trời .
Vì là tặng phẩm quý, lại có tí kim ngân nên các cô tiếp tân phát thứ tự sợ có ai bị phát nhầm hai ba lần. Hai Kỷ, vừa được đề bạt lên quyền trưởng ban tuyên huấn tỉnh, bước lên diễn đàn với bộ com-lê không có cà-vạt, vừa vỗ tay đôm đốp lập lại trật tự vừa nói:
– Thưa các đồng chí của khối tư tưởng, khối văn hóa và toàn thể anh em văn nghệ sĩ của tỉnh nhà thân mến. Chỉ một chốc nữa đồng chí bí thư tỉnh ủy và quan khách báo chí, phát thanh truyền hình sẽ tới đây. Tôi đã hội ý với đồng chí khối trưởng của các khối, đêm dạ hội thơ này, ban tổ chức xin phát động một phong trào thi đua vỗ tay giữa các khối, vì thuận tiện là chúng ta ngồi theo đội hình cơ quan và theo từng khối riêng. Vậy các đồng chí có đồng ý thi đua không? Nếu đồng ý, xin tập thể cho một tràng pháo tay kéo dài, chỉ khi nào tôi ngừng vỗ tay thì các đồng chí mới ngừng nghe chưa. Nào xin toàn hội trường vỗ tay, một hai ba, vỗ. Tiếng vỗ tay như động đất, như nổ tung cả hội trường. Sau cuộc vỗ tay tập dượt khá lâu, Hai Kỷ nói:
– Vừa nãy chúng ta đã vỗ rất tốt nhưng chưa thật đồng đều. Khối trường đảng vỗ tay hơi yếu. Nào, đồng chí Lê Thị Mộng Ruộng đâu rồi. à, yêu cầu đồng chí châm ngòi nổ cho hay một chết nữa. Còn khối văn hóa lại vỗ tay to quá, toàn là tay của các bạn lực sĩ cả, vỗ to quá mà không đều, có mấy đồng chí vỗ tay kêu ngang với súng bắn, sợ đồng chí bí thư giật mình hoặc điếc tai. Tôi yêu cầu chúng ta tập dượt lại.
Mọi người vỗ có lẽ đã rát cả tay. Hai Kỷ lại nhắc:
– Yêu cầu khối văn công đừng nên hăng quá, vỗ trước cả hiệu lệnh, các đồng chí bớt bớt tả khuynh đi một chết nữa. Sao các đồng chí bên tuyên huấn lại vỗ tay rời rạc như cơm nguội vậy? Nào, ta tập dượt lần cuối cùng, lần này yêu cầu từng khối vỗ tay riêng xem mèo nào thắng miểu nào. Trước lúc đồng chí bí thư và khách truyền thông mêđia tới: Haí Kỷ phổ biến kinh nghiệm vỗ tay của mình, vì ông sợ mọi người đau rát tay hết:
– Tôi đã có kinh nghiệm suốt đời về nghệ thuật vỗ tay, xin các đồng chí thử coi. Muốn hai bàn tay khỏi rát và vỗ giòn như cà pháo, các đồng chí thử thoa vào lòng tay một chết nước miếng coi, biết nhau liền. Có vỗ đến một năm bàn tay vẫn cứ tốt, vẫn giòn hơn bắp rang.
Tám Lợi, giám đốc nhà xuất bản tỉnh lên dặn dò mọi người về một số điều cần thiết và bảo cáo nghị trình làm việc. Ông ta được cử làm chân giới thiệu chương trình. Hai Kỷ ngồi xuống cạnh tôi nói nhỏ:
– Ba Hưng thấy chưa, có tí vật chất kích thích là biết nhau liền, vỗ tay cứ như búa bổ.
Tôi chép miệng:
– Cái gì chả vậy, có tí phong bì vẫn hơn nói suông. Ta không nên làm mãi nhà chính khách nước miếng. Cần phải học.. cách làm chính trị bằng phong bì như tối nay, ăn lắm, dù chỉ một trăm bạc. Mình nghèo nên hay nói chuyện ghét tiền, chứ cái giống kim ngân này như thiên hạ nói tiền là tiên là Phật, là sức bật cuộc đời, là tiếng cười tuổi trẻ, là cái mẽ tình yêu là cái niêu hạnh phúc là gì.
Hai Kỷ chỉnh:
– Coi chừng ông lạc sang quỹ đạo của tư bản đó. Chúng nó có tiền, còn chúng ta có chính nghĩa.
Tôi im lặng. Cái lý của ông Hai Kỷ là cái lý của một thời. Làm như sự giàu có và chính nghĩa là hai cực đối lập vậy. Mục tiêu chủ nghĩa xã hội là hạnh phúc cho mọi người và mỗi người. Nhưng hạnh phúc chỉ đi kèm với sự giàu có. Nhưng lý luận của ông Hai Kỷ thì chính nghĩa cần phải xa lánh sự giàu có mà cụ thể là tiền bạc. Vậy thì khác gì học thuyết của Chúa Kitô: Kẻ giàu vào nước thiên đàng khó hơn con lạc đà chui qua lỗ kim. Cứ nghèo khổ đi, rách như xơ mướp và tổ đỉa đi, các bạn sẽ đạt được nước thiên đường. Nhưng trời ơi, thực tế đã chứng minh rằng khi cái dạ dày của con người lép kẹp, chính nghĩa hay chân lý đối với nó là bất cứ thứ gì, bất cứ vật gì có thể tống vào miệng để khỏi chết đói.
Đúng giờ hẹn, linh hồn của buổi họp báo, buổi ra mắt và dạ hội thơ nhân tập thơ ra mắt đã tới. Đi đầu đoàn người tất nhiên là đồng chí bí thư tỉnh ủy và vợ tức Thùy Linh. Tràng Giang mặc áo vét đen, giày đen, dáng điệu bệ vệ quan cách. Thùy Linh diện chiếc áo dài đỏ như muốn đốt cháy cả nhà hát. Theo sau hai ông bà dĩ nhiên là thư ký thứ hai Võ Nghiêm Quát và một người như võ sĩ quyền Anh chính là anh cán bộ lái xe kiêm bảo vệ cho bí thư tỉnh ủy. Anh vệ sĩ có võ rất ghê, đi đâu súng lục cũng sẵn sàng trong túi quần này tên là Hồ Bán Thiên, cháu gọi bà Hồ Lệ Thùy Linh bằng cô ruột. Theo sau đó là các đồng chí phó bí thư, đồng chí chủ tịch tỉnh và các nhà báo cùng phóng viên phát thanh và truyền hình. Họ vừa từ khách sạn Hào Hoa dự bữa cơm dưa muối với đồng chí bí thư, mừng cho tập thơ của đồng chí hôm nay ra mắt. Khi mọi người vỗ tay đã tới mức có thể rụng hết ngón, Hai Kỷ mới khoát tay cho ngừng. Tám Lợi lên đọc bài diễn văn giới thiệu quá sức long trọng soạn sẵn và đầy rẫy những từ hoa mỹ. Tiếp đó là diễn văn của Hai Kỷ chúc mừng tập thơ của tăc giả Hoài Bão phát hành từ đêm nay. Sau đó, Tám Lợi giới thiệu tôi, nhà văn nổi tiếng Trần Hưng, từng để bao nhiêu năm nghiền ngẫm, tìm hiểu giá trị tập thơ khi nó còn là bản thảo. Tôi bước lên diễn đàn như bước vào vai kịch đẹp nhất của đời mình: đọc bài viết sẵn nói lên giá trị nội dung và nghệ thuật của tập thơ Đêm mặt trời.
Qua ánh đèn sáng không thua kém gì mặt trời, tôi nhìn thấy các vị đại biểu mặt mũi toát mồ hôi vì phải vỗ tay nhiều quá, mặc dù hàng chục cái quạt tran đang làm công tác một cách điên dại. Bản báo cáo của tôi mang tựa đề: Đêm Mặt Trời, một giai điệu tuyệt đẹp của bản giao hưởng xã hội chủ nghĩa. Tôi xin lấy danh dự nhà văn ra thề với các bạn rằng: nếu trên thế giới có nơi nào mở trường đại học về khoa nịnh thần, chắc chắn bài bình thơ tối nay của tôi sẽ đạt bằng tiến sĩ loại ưu. Trước khi đọc ở nhà hát tối nay, tôi đã để cả tuần tập dượt cách đọc trước gương, lấy một cái cây giả làm micrô để luyện giọng và sắc mặt. Hai Kỷ đã giúp tôi luyện giọng bằng cách cho mượn cái máy ghi âm của tuyên huấn. Vì thế, lúc này tôi đọc hay quá, qua cái liếc mắt, tôi biết bí thư tỉnh ủy hết sức sung sướng hài lòng. Cứ mỗi đoạn xuống dòng, tôi ngẩng đầu lên để giao lưu ánh mắt, giao lưu tình cảm với khán thính giả theo kiểu bình thông nhau. Có lúc tôi gặp ánh mắt của Ruộng ngồi bên dưới với sự trìu mến đầy ý nghĩa như thầm bảo: rán đi ông, đọc cho hay hơn để hỗ trợ giúp em vào tỉnh ủy. Tôi đã thành công tới không ngờ, như một nghệ sĩ xuất sắc trình bày tài năng đi mây về gió, chứ không còn thuần túy là nhà phê bình thơ nữa. Khi tôi bước xuống, Hai Kỷ bèn đứng lên bắt nhịp cho cả hội trường vỗ tay lớn quá, khiến tôi ù cả tai, hoa mắt, ngực thon thót, đầu giần giật chỉ một tẹo nữa là lăn đùng ra làm hề cho cả tỉnh. Vinh quang nhiều khi cũng thật là nguy hiểm. Tràng Giang từ hàng ghế danh dự vội đến bắt tay tôi, đỡ lấy vai tôi và ôm hôn đánh chụt vào má. Tôi vênh mặt lên tận hưởng vinh dự và đột nhiên bắt gặp cái ánh mắt thằng Hoàng Thi cười cười. Tôi ngầm bảo hắn: giờ hơn mày con ạ. Bỗng một tia mắt khác từ phía bên phải thằng rắn độc như nọc của con rắn cái vừa đẻ phóng thẳng vào mắt tôi, khiến tôi cụt hứng, giật mình. ấy chính là cái nhìn của con gián điệp Ngọc Hương, kẻ đã dùng mỹ nhân kế để tước đoạt cuộc đời tôi, ăn cướp chức tổng biên tập báo của tôi cho bồ nó. May mà lúc đó bà chị Hồ Lệ Thùy Linh với cái áo dài làm đêm tối cũng phải bốc khói đi về phía tôi, nói lời chúc mừng kèm theo bông hồng tặng nhét vào tay tôi. Tôi ngây ra một khác, nhìn xuống hàng ghế có vợ tôi ngồi, thấy ánh mắt của bà ta long lên sòng sọc. Tôi thất thểu đi về chỗ mình, ôm cái phần thưởng lớn lao là bông hồng của bà đệ nhất phu nhân tỉnh vừa tặng với tâm trạng mịt mờ khó tả. Tôi biết vinh quang này sẽ là gánh nặng của tôi đêm nay. Bà vợ tôi rồi sẽ dạy cho tôi cái giá bông hồng của một người đàn bà uy quyền lẳng lơ chim chuột nhất tỉnh vừa tặng tôi, với đôi mắt để ngỏ cửa kia, sẽ đất đến mức nào. Tôi cũng nhận ra ánh mắt của con yêu tinh Ngọc Hương nhìn tôi khi nhận món quà của bà vợ ông bí thư, vừa như giễu cợt, vừa ngầm cảnh cáo rằng coi chừng nhá anh chàng Ba Hưng cù lần tội nghiệp. Tôi ngồi vào ghế của mình như một ông đầu rau đang ôm niềm tự hào cay đắng, một thứ vinh quang chết người. Khi anh lên tới đỉnh cao của danh vọng là lúc phải coi chừng nhất, vì chỉ một tí sẩy chân là rơi ngay xuống vực. Khi Tám Lợi giới thiệu mục ngâm thơ thì Hai Kỷ ghé vài tai tôi khen: Ông hùng biện ngang Thánh Thán. Tôi hoảng hồn với cách so sánh nguy hiểm của ông. Thánh Thán chết chém vì lộng ngôn. Còn tôi chưa từng lộng ngôn dù ở trong mơ mà. Chỉ cần hình dung sơ sơ ra cảnh đao phủ dẫn mình ra pháp trường, ấn vai mình bắt quỳ xuống, trói vào cọc, tôi đã nghẹt thở chứ chưa nói gì đến nghệ thuật chém treo ngành của những đao phủ cha truyền con nối. Tôi lấy hết nghị lực ra để cố thoát khỏi ám ảnh Thánh Thán nhưng không được. Cái sự đọc sách báo hại tôi. Tôi thương ông Thánh Thán với tài bình thơ nghiêng trời lệch đất, nhưng không đi thấu được cái lẽ của thanh gươm. Có lẽ nhờ nét đẹp duyên dáng và giọng ngâm thơ thánh thót của nữ nghệ sĩ Nhụy Đào, đưa tôi vào lại tập thơ của bí thư tỉnh ủy với bài thơ Bài ca hạnh phúc, tạm thời quên đi ông Thánh Thán và Tây Sương ký đời xưa. Tôi xin trích một đoạn trong bài thơ Nhụy Đào đang ngâm:
Ôi cuộc sống vô cùng thời đại
Hạnh phúc làm ta tưởng thực là mơ
Có thể nào tin được đất nước bây giờ
Đang tiến bước vào thiên đường cộng sản
Ta để bỏ qua chuyện cơm no áo ấm
Để tới thời ăn suớng, mặc sang
Sau chiến tranh xây đất nuớc đàng hoàng
Cả thế giới đang nhìn ta ghen tị
Việt Nam đó, mộl thiên tài thế kỷ
Những tầm nhìn đi trước cả hành tinh
Những con người tự nguyện thắp bình minh
Thao thức bao đêm dẫn đường hạnh phúc
Ôi đất nước hành quân hay đám rước?
Trăm giấc ông cha mơ chưa gặp cái bây giờ
Làm chủ tập thể là cả một trời thơ
Mà nhân loại nghìn sau còn học hỏi
– Rằng Việt Nam ơi, người là hoa hay là trái?
Người mọc lên từ bùn đất máu xương
Hạnh phúc lớn lên như Thánh Gióng phi thường
Hãy đi tới ngày mai bằng con tàu vũ trụ
Hỡi công nông, hõi những ngưòi làm chủ
Có xã hội nào tốt đẹp như ta
Trên đất này hạnh phúc hóa bài ca…
Lại vỗ tay thác đổ. Lại bí thư tỉnh ủy bắt tay và ôm hôn, rồi bà vợ tặng hoa cho diễn viên ngâm thơ. Hơn mười bài thơ na ná thế, hơn mười giọng ngâm na ná thế, hơn mười lần bắt tay ôm hôn và tặng hoa na ná thế. Chỉ tội các vị đại biểu vỗ tay mệt phờ râu tôm. Hai Kỷ ghé tai tôi bình: Thơ bí thư nghe hơi giống thơ Tố Hữu, tài thật. Tôi nghĩ cùng một dòng hô hào đại ngôn, bên anh, bên em, đại loại thế. Cuối cùng đến lượt bí thư tỉnh ủy lên diễn đàn. Tràng Giang tuy tên vậy nhưng khi nói năng không đến nỗi đại hải cho lắm. Vẫn giọng điệu lên lớp, dạy bảo thiên hạ của típ người lãnh đạo lâu năm thuộc thế hệ ông chưa hề biết khiêm nhường là gì. Suốt cuộc đời ông chỉ học một bài giáo điều để đi dạy mọi người hàng nghìn bài về đời sống. Phần cuối của bài huấn thị là một loạt điều chung chung về làm chủ tập thể, về đạo đức cách mạng, về công ơn của Đảng, về thiên đường cộng sản và bản chất tốt đẹp của xã hội ta hơn hẳn các chế độ đàn áp đói nghèo Bắc Mỹ, Tây âu và Nhật Bản. Đoạn cuối, Tràng Giang hô hào:
– Hỡi các đồng chí văn nghệ sĩ tỉnh nhà, nhiệm vụ thiêng liêng và vinh dự của các đồng chí là xây dựng những hình tượng con người mới xã hội chủ nghĩa. Con người mới này hiện nay là đa số, là thắng thế, là xu thế trong cuộc đi lên phơi phới tự do hạnh phúc của tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung. Con người mới là con người theo tiêu chuẩn Bác đã đề ra: đó là người dám hy sinh quyền lợi cá nhân cho quyền lợi tập thể, khổ trước thiên hạ, sướng sau thiên hạ, là đày tớ trung thành tận tụy của dân, sống thanh bạch chẳng màng danh lợi, khiêm tốn chí công vô tư. Những con người sáng quắc tắm gương thời đại ấy chính là nguờn cảm hứng vô tận cho chúng ta sáng tác. Sao các đồng chí lại ít viết về họ. Hay những con người mới xã hội chủ nghĩa này ít tốt đẹp chăng? Tôi xin chúc các đồng chí ngày nào sống cũng là ngày hạnh phúc sáng tươi, phơi phới tin tưởng, đêm nào ngủ cũng là Đêm mặt trời.
Tràng Giang bước xuống trong tiếng vỗ tay của cả hội trường ào ào đứng dậy. Hàng chục cô văn công vây lấy đồng chí bí thư kính mến của mình để tặng hoa. Sau đó nhiều văn nghệ sĩ lên phát biểu phụ họa cho bài nói của bí thư và tìm cách khen bằng được tập thơ Đêm mặt trời. Chợt một người mặc áo bộ đội bạc màu, đi dép cao su, từ hàng ghế cuối cùng xin lên phát biểu cảm tưởng. Bỗng Hai Kỷ bảo tôi: ấy chết, thằng Trần Khuất Nguyên. Tôi hơi lạ hỏi lại: Ai mời anh ta tới đây nhỉ?. Hai Kỷ im lặng theo dõi khi Trần Khuất Nguyên với dáng cao gầy, mắt to sâu, miệng rộng, tóc bồng đã đứng trước micrô. Cả hội trường lặng tờ như đang chuẩn bị nghe thông báo về cuộc chiến tranh thế giới. Trần Khuất Nguyên nâng micrô lên cao một chút cho vừa với mình, đoạn cao giọng làm một màn kính thưa rất phép tắc. Anh ta tự giới thiệu tên mình. Rằng anh ta ba mươi ba tuổi, thương binh loại bốn trên tám, từng là đảng viên, là hội viên nhà văn, nhưng đảng thì mới bị khai trừ, đang bị cấm in báo in sách, mặc dù đã có nhiều tập thơ xuất bản và đạt được nhiều giải thưởng văn học. Cả hội trường rộ lên rào rào như ong vỡ tổ. Trần Khuất Nguyên nói tiếp:
– Trước hết, về tập thơ Đêm mặt trời thiết tưởng các đồng chí đã nói nhiều và cạn lẽ. Tôi chỉ nêu vài suy nghĩ về bài nói của đồng chí bí thư tỉnh ủy vừa nãy. Trước hết tôi thấy hiện nay giữa văn học và cuộc sống có một khoảng cách quá lớn, nếu không muốn nói là trái ngược nhau. Văn học chỉ cốt tô hồng, quét nước sơn hạnh phúc lên sự bất hạnh của đám đông, cắm hoa hồng lên nỗi đau của quần chúng. Thứ hai, cuộc sống với đồng lương diễu cợt của cán bộ công nhân viên chúng ta không nên nói là quá thấp nữa, mà phải nói là một thí dụ về sống, về ăn. Ví như tôi, từng là thương binh đánh Mỹ, với đồng lương hiện nay, nếu ăn xôi sáng cho no cũng chưa đủ. Vậy thì phải kiếm việc gì để làm mà sống, nếu không có khả năng ăn hối lộ, móc ngoặc hoặc ăn cắp của công. Vì vậy, tối nào tôi cũng phải thuê xích lô đạp, kiếm thêm tiền ăn bữa trưa và bữa tối, đặng có sức mà phục vụ đất nước. Nhưng văn học chúng ta quay lưng lại tất cả những điều ấy, lại toàn đi ba hoa nói về những điều không có thật. Những điều chỉ thuần là bánh vẽ. Tôi nghĩ rằng, phàm bất cứ ai, bất cứ chính thể nào chối bỏ sự thật, xóa nhòa ranh giới giữa thiện ác tốt xấu, quyết không thể tiến bộ được. Một điều ai cũng thấy, nhưng báo chí và văn học chúng ta làm ngơ là xã hội hiện nay đang bất công khủng khiếp. Chúng ta hy sinh hàng triệu người để làm cách mạng xóa bất công, tại sao lại đẻ ra cả một giai tầng đặc quyền đặc lợi? Điều này ở tỉnh ta, xin các đồng chí cứ ngó vào các khu sang trọng, các biệt thự dành cho ông lớn bà lớn và khu lao động khu dân nghèo, khu cán bộ công nhân viên thì rõ. Điều cuối cùng tôi hoàn toàn nhất trí với đồng chí bí thư tỉnh ủy là chúng ta phải viết về con người mới xã hội chủ nghĩa, những con người khổ trước nhân dân, sướng sau nhân dân. Vậy tôi xin đồng chí bí thư tỉnh ủy chỉ cho tôi xem trong hàng ngũ cán bộ cao cấp của tỉnh ta hiện nay, ai, những ai là con người mới xã hội chủ nghĩa? Nếu đồng chí bí thư chỉ được, tôi sẽ tìm đến cái địa chỉ của con người cán bộ cao cấp đồng thời là con người mới xã hội chủ nghĩa để làm mẫu nhân vật, viết một cuốn sách về con người tốt đẹp đó để cho mọi người noi theo.
Cả hội trường ồ lên kinh ngạc, trước một kẻ liều mạng dám nói ra cái sự thật nguy hiểm ấy. Tràng Giang không phải tay vừa, quyết không chịu ê mặt trước thằng lỏi con không biết sợ đang bắt bí mình trước cả tỉnh. Ông ta liền bán cái cho thuộc cấp, bằng cách đứng lên vui vẻ:
– A, tốt thôi, những người mới xã hội chủ nghĩa này có đồng chí trưởng ban tuyên huấn nắm rõ.
Hai Kỷ lên giành lấy micrô và nói, khiến Trần Khuất Nguyên phải bước xuống trong tiếng la ó phản đối của nhiều cán bộ, có nhiều người hô bắt lấy thằng phản động. Tôi thấy Trần Khuất Nguyên vẫn bình thản đi xuống. Tôi biết cậu ta vừa đùa với súng. Cái tội bị quy là phản động của cậu ta là dám đi tới tận cùng sự thật phũ phàng, khiến cho bí thư tỉnh ủy không sao đối đáp, làm mất uy tín đồng chí bí thư trước bàn dân thiên hạ, thiết nghĩ chỉ còn tù là thượng sách. Hai Kỷ tức có phát nghẹn, một lúc mới nói được:
– Trần Khuất Nguyên, anh không có quyền chất vấn đồng chí bí thư tỉnh ủy nghe chưa? Ai là người mới xã hội chủ nghĩa thì tự họ biết, việc gì tới anh nào?
Bí thư tỉnh ủy bị tên nhà thơ phá thối kia làm cho quê quá, bèn dẫn vợ ra về. Mọi người cũng giải tán. Hai Kỷ bực quá gắt ầm lên. Thế là hỏng hết cả đêm thơ và cái sự vào thường vụ tỉnh ủy của ông ta coi như nguy rồi. Tuy vậy, ông cũng đứng lên xin bế mạc đêm ra mắt tập thơ Đêm mặt trời, cảm ơn tất cả, nhất là đồng chí bí thư và phó bí thư, chủ tịch tỉnh đã đến dự. Trần Khuất Nguyên lẫn vào đảm đông mất đâu rồi. Tôi có linh cảm là kẻ uống mật gấu này sẽ bị bắt. Tôi thấy mặt Tràng Giang tái mét, nhưng vẫn giả bộ cười cười bắt tay ban tổ chức, rồi lên cái xe Vonga đen bóng đến gương còn phải lạy.
(Còn tiếp)
Trần Mạnh Hảo

 

 

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.